HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Thích Thông Triệt: Luận giảng số 2: Vì sao chúng tôi chọn chủ đề: LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI ?

Friday, March 29, 20247:35 AM(View: 4859)

Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về
THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
của HT Thích Thông Triệt (2014)
Luận giảng
số 2
Vì sao chúng tôi chọn chủ đề:
LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
?


Bia Sách2_ThienVaKienThucThoiDai_TueNguyen for WEB 4x6
Lý do thứ nhứt:
- Đánh dấu một kỷ nguyên mới: Thiền học Đông Phương chiếu sáng trong giới khoa học Tây phương
Kể từ khi ngộ đạo trong tù (1982), chúng tôi cảm thấy trong tâm mình lúc nào cũng khởi lên một niềm vui, không còn lo nghĩ gì về chuyện được trả tự do. Chấp nhận trả quả. Khi nào hết nghiệp tù thì mình được trả tự do, còn bây giờ nghiệp tù chưa dứt, thì cứ ở đây để trả quả thôi !
Bỗng một hôm, chúng tôi được Cán bộ Quản giáo cho biết là mình được lệnh chuyển trại… Sau đó, ông Cán bộ Quản giáo đưa tôi đến một nơi cũng cùng trong trại giam Thanh Liệt để chờ xe đưa về trại Tập trung Hà Tây. Khi đến nơi đó, chúng tôi thấy những người bạn tù mặt mày hốc hác, thân hình tiều tụy. Có những người chúng tôi biết trước kia, nhưng vào thời điểm đó, chúng tôi không nhận ra ai là ai. Ông Cán bộ Quản giáo chỉ chúng tôi, rồi nói:
- Trong các anh ở đây, anh này ở đây lâu nhất, mà sao trông gương mặt của anh trong sáng, hồng hào ?
Nghe câu nói như thế, chúng tôi tự sách tấn mình là: tu đúng rồi đó ! Nhưng đúng như thế nào, chúng tôi chưa trả lời được… Chỉ vì khi chúng tôi nhớ lại một câu nói của một người bạn tù khi chúng tôi ở trại B-5 tại Long Thành, vào một buổi sáng khi đi vệ sinh, một bạn tù hỏi tôi: “Trông Thầy hãy còn trẻ, nhưng năm nay Thầy được 80 chưa ?” Nghe câu hỏi như thế, chúng tôi mĩm cười gượng gạo đáp lại: “Chưa !” Lúc bấy giờ chúng tôi mới hơn ngoài 40 tuổi và ở tù được gần 2 năm thôi…
Rồi bây giờ 5 năm sau, được ông Cán bộ Quản giáo nói là mình trẻ và hồng hào. Qua dữ kiện đó, chúng tôi biết là mình đã tu đúng rồi.
Khi về trại Hà Tây (đây là trại tập trung), chúng tôi gặp lại bạn bè và có đầy đủ gương để soi lại mặt mình, thì thấy thần sắc mình trong sáng. Có nhiều anh bạn trước kia đến thăm tôi và nói một câu: “Bây giờ tôi biết Thầy tu đúng rồi đó nha !” Thế rồi, chúng tôi tự mình đặt câu hỏi: “Vậy sự đúng đó là từ nơi đâu ?” Cũng là thân này, nhưng trước đây lại già trước tuổi, và chỉ trong vòng 5 năm sau, cũng thân này mà lại trông trẻ và hồng hào.
Bắt đầu từ đó, chúng tôi tự đặt vấn đề sự đúng đó nó ở trong não bộ mình thôi. Nó có chất gì đó tiết ra để làm cho mình khỏe, mình vui tươi, và thần sắc trong sáng. Còn trước kia mình bị già đi, thì cũng có chất nước hóa học nào đó tiết ra, nó làm cho mình già trước tuổi.
Kể từ đó, chúng tôi khởi một ý nghĩ là sau này nếu được tự do, chúng tôi sẽ tìm hiểu về khoa học não bộ để hiểu rõ hoạt động của não bộ như thế nào khi mình ngộ đạo, cũng như khi mình dụng công bị bế tắc thì chất nước hóa học nào tiết ra đây.
Tiếp theo, chúng tôi được đưa về trại giam ở Hà Tây, miền Bắc Việt Nam… Đến tháng 3 năm 1985, chúng tôi được chuyển trại một mình đi về miền Nam, và tiếp tục nhập thất chuyên tu bất đắc dĩ tại trại giam đặc biệt ở đường Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Sài Gòn. Đến tháng 9 năm 1986, chúng tôi được đưa vào trại giam Chí Hòa cho đến tháng 2 năm 1989, chúng tôi được trả tự do.
Về Thiền viện Thường Chiếu, gặp lại Thầy của chúng tôiHòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ trong ngày Tết. Thầy trò gặp nhau mừng mừng tủi tủi… Chúng tôi có trình lên Thầy về những điều mình đã nhận ra được trong suốt 14 năm tù.
Trong đó, chúng tôi có trình lên về sự phát tâm của mình: “Sau này, nếu đủ duyên, con sẽ trình bày lại pháp của Thầy dưới dạng khoa học đối chiếu với não bộ, vì con đã nhận ra rằng cũng với thân này mà tại sao trước đó con như người già 80 tuổi, trong người lại có nhiều bệnh, đặc biệt nhất là thần sắc không trong sáng, còn cơ thể thì tiều tụy. Rồi bây giờ cũng thân này, tại sao nó trẻ đi, thần sắc lại trong sáng nữa. Do đó, con nghĩ rằng có điều gì đó hoạt động trong não bộ của con người, chính sự hoạt động đó nó đã đưa con người đến chuyển hóa thân tâm của mình.” Thầy của chúng tôi đồng ý.
Đến đầu năm 1991, Thầy chúng tôibiên soạn quyển sách Thiền lấy tên là “Thiền Tông Việt Nam Cuối Thế Kỷ 20.” Ông đưa cho chúng tôi xem để cho ý kiến… Sau khi xem xong cuốn sách, chúng tôi trở lại Thường Chiếu gặp Thầy để trình ý kiến như sau: “Xin Thầy cho con diễn giải pháp Thiền của Thầy dưới dạng Đồ thị dẫn giải bằng cách trình bày theo khoa học.” Thầy chúng tôi đã đồng ý. Thế là ngày ngày chúng tôi ở tại thất riêng của thầy Nhật Quang, trụ trì Thường Chiếu, để giảng giải pháp Thiền của Thầy chúng tôi qua hình ảnh não bộ. Ngày 10 tháng 10 năm 1992, chúng tôi hoàn tất bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền.”

Cuối năm 1992 (ngày 24-11-1992), trước ngày chúng tôi lên đường sang Mỹ để định cư, Thầy của chúng tôi triệu tập một phiên họp tại thất riêng của Thầy ở Thiền viện Thường Chiếu. Mục đích chính của phiên họp này là trước chư Tăng của Thường Chiếu, Thầy của chúng tôi muốn hợp thức hóa pháp Thiền của Thầy mà chúng tôi đã dẫn giải bằng khoa học não bộ qua bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” bằng lời chứng minh dưới đây:
“Tập Đồ Thị do Thông Triệt biên soạn, dẫn giải các pháp Thiền do tôi dạy, ghi trong cuốn “Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ hai mươi” là thuộc về luận. Mà luận thì phải luôn luôn thích hợp với tư tưởng hay nhận thức của thời đại. Thời đại của chúng tathời đại khoa học thực nghiệm, cho nên ngôn từhình ảnh mà Thông Triệt tạm dùng để đối chiếu hay giải thích các pháp do tôi giảng dạy cũng phải thích hợp với trào lưu tiến hóa của thời đại, để thành phần trí thức dễ tiếp thu hơn. Đó là điều hợp lý.”
Sau khi đặt chân lên đất Mỹ cuối năm 1992, mãi đến năm 1995, chúng tôi mới thực hiện được ước mơấn hành bộ sách “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” gồm 2 tập.
Đây là bước đầu tiên chúng tôi đã đưa Thiền Tông Việt Nam vào thế giới khoa học của Tây phương.

Lý do thứ hai:
- Ước mơ được chụp hình não bộ để chứng minh các vùng trong não bộ phù hợp với lời dạy của Đức Phật
Đến Mỹ cuối năm 1992, đầu tiên chúng tôi ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Đến khoảng giữa năm 1993, chúng tôi sang tiểu bang Hawaii để thăm một người bạn. Rồi qua một nhân duyên đặc biệt, người đón chúng tôi tại phi trường Hawaii là cô Helen Phan Thanh cùng với ông xã tên là David Johnson, một Giáo sư Tiến sĩ ngành Tâm lý học tại trường Đại học Hawaii. Sỡ dĩ chúng tôi nói “nhân duyên đặc biệt,” đó là khi đón chúng tôi tại phi trường, thay vì dùng câu nói xã giao để tiếp đón chúng tôi, thì cô lại đưa ra một tập giấy lớn “Đồ Thị Dẫn Giải Thiền” mà chúng tôi vừa mới hoàn thành tại Việt Nam để trình lên Thầy của chúng tôi, trước khi chúng tôi sang Mỹ. Thật hết sức bất ngờ khi nhìn thấy tập này… Thế là sau đó chúng tôi thân thiện với gia đình ông bà Johnson.
Trong thời gian lưu lại tại Hawaii, ông Johnson đã đưa chúng tôi vào thăm trường Đại học Hawaii. Nơi đây, chúng tôi đã tìm được một cuốn sách nói về những chức năng đặc biệt của vùng Dưới đồi (Hypothalamus). Sách dày trên 800 trang, chúng tôi liền nhờ ông Johnson mượn quyển sách này …
Trước khi từ giã hai ông bà để trở về đất liền, chúng tôi lại được một món quà đặc biệt là hai ông bà hứa sẽ tặng cho chúng tôi một ngôi nhà ở tiểu bang Oregon để chúng tôi tạm yên nơi.

Chính ngôi nhà này là nơi chúng tôi đã tiếp đón Thầy của chúng tôi vào tháng 10 năm 1994. Thầy của chúng tôi đã chính thức làm lễ chứng minh Thiền Thất Tánh Không do chúng tôi thành lập đầu tiên tại tiểu bang Oregon. Rồi tiếp theo sau đó, vào ngày 1 tháng 1, năm 1995, chúng tôi đã mở khóa Thiền Căn Bản đầu tiên tại nơi đây.
Ngay từ thời gian đầu ở tại Seattle (năm 1993), chúng tôi đã có dịp đọc tạp chí Scientific American, trong đó các nhà khoa học thần kinh não bộ đã chụp hình được 4 vùng trong não bộ: (1) tánh Thấy, (2) tánh Nghe, (3) vùng Giải mã khái niệm là vùng Broca, (4) vùng Nói thầm ngay tại vùng Ý chí vận động; hình chụp bằng máy PET (Positron Emission Tomography). Xem qua tin này, chúng tôi ước mơ rằng mình sẽ có điều kiện thuận lợi để chụp hình 2 tánh là: Tánh Xúc chạm và Tánh Nhận thức biết, để cho trọn vẹn đủ 4 Tánh mà Đức Phật đã mô tả trong kinh Bāhiya.
Giữa năm 1994, nhân dịp khi ông Johnson qua Seattle để đưa chúng tôi về Oregon để làm thủ tục bàn giao căn nhà, chúng tôi có đề cập với ông là có cách gì giúp chúng tôi liên lạc với tạp chí Scientific American để chụp hình não bộ của chúng tôi… Ông lắc đầu và cho biết rằng việc này rất khó thực hiện vì nó rất tốn kém; hơn nữa, vào thời điểm đó, khoa học Mỹ chưa chứng minh được hai vùng: Tánh Xúc chạm và Tánh Nhận thức biết.
Không chán nản, chúng tôi vẫn nuôi dưỡng ước mơ đó và tin tưởng rằng một ngày nào đó mình sẽ thành tựu được ước mơ này, với điều kiện là mình phải có khả năng vào Định dễ dàng như búng ngón tay…
Lặng lẽ nuôi dưỡng hy vọng
Thế rồi, chúng tôi không nghĩ gì đến điều đó nữa, mà chỉ đặt trọng tâm vào việc thực hành Thiền Định bằng cách khởi ý không nói cho đến một ngày nào đó vững vàng trong 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Khi nào muốn khởi niệm thì khởi, không muốn khởi niệm thì niệm đó nằm im ngay tại vùng biết của cơ chế Tánh giác, hay ngay tại vùng nhận thức biết của cơ chế Phật tánh tức Tâm như… thì lúc đó ước mơ chụp hình não bộ sẽ được thành tựu.
Mãi đến 12 năm sau, nhân duyên hội đủ, vào năm 2006 khi sang Đức quốc dạy học, ước mơ chụp hình não bộ của chúng tôi đã bắt đầu trở thành sự thật. Đây là nhờ sự kiên tâmtrì chí của cặp vợ chồng trẻ bác sĩ Phạm Ngọc Thịnh và bác sĩ Phạm Văn Phú đã đi gõ cửa những nơi chuyên môn chụp hình não bộ, nhưng đều bị thất bại. Cuối cùng, nhân duyên hội đủ, cô Thịnh gõ cửa đúng nơi, cửa liền mở ra.

Đó là nhờ cô bác sĩ Thịnh đã tiếp xúc được với ông Tiến sĩ Michael Erb và ông đồng ý bắt đầu chương trình thử nghiệm máy f-MRI với 2 thiền sinh tại đạo tràng Stuttgart là cô Minh Vân và anh Quang Nguyên vào tháng 4-2006. Tiếp theo sau đó, tháng 6-2007, chương trình chụp hình của chúng tôiTăng đoàn đã chính thức bắt đầu.
Rồi liên tiếp các năm sau đó (2008, 2009, 2010), chỉ một mình chúng tôi chụp hình não bộ. Cuối cùng, chúng tôi đã thực hiện được ước mơ chứng minh 4 Tánh mà trong kinh Bāhiya đức Phật đã giảng dạy ông Bāhiya. (Xem Bài đọc thêm số 1 ở trang 27 về Kinh Bāhiya)
Bốn Tánh này là: Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Xúc chạm, và Tánh Nhận thức biết. Đặc biệt nhất là chúng tôi cũng chứng minh được vùng Tầm và Tứ ở thùy trán.
Vào đầu năm 2010, Tiến sĩ Erb chụp hình chúng tôi khi thực hành 4 tiến trình Định:
 Định có Tầm có Tứ.
Định không Tầm không Tứ.
 Định Chánh niệm tỉnh giác.
Chân như Định, hay còn gọi là Định bất động (Akuppā Samādhi).
Qua sự thành công này, hai Tiến sĩ Michael Erb và Ranganatha Sitaram đã trưng bày kết quả về chụp hình não bộ của chúng tôi tại Hội nghị thứ 16 về Não bộ trong chương trình “Organization of Human Brain Mapping” (OHBM) được tổ chức tại Barcelona, Tây Ban Nha, từ ngày 6 đến 10 tháng 6 năm 2010. Năm sau, cũng vào tháng 6 năm 2011, công trình nghiên cứu này lại một lần nữa được trưng bày tại hội nghi OHBM lần thứ 17 tổ chức tại Quebec, Canada.
Đến đây, xem như ước mơ “chụp hình não bộ để chứng minh các vùng trong não bộ phù hợp với lời dạy của Đức Phật” đã trở thành sự thật.

Lý do thứ ba:
- Đã đến lúc…
Chúng tôi nghĩ rằng bây giờ đã đến lúc mình cần công bố những điều mình đã chụp hình được về não bộ của mình liên hệ đến các vùng mà trong kinh Đức Phật đã giảng, thí dụ: các vùng Vọng Tâm, Vọng Tưởng đã xảy ra như thế nào trong não bộ của con người. Và chúng đã xuất hiện như thế nào, lý thú nhất là trong khi đo não bộ năm 2008, chúng tôi đã áp dụng “Chú ý trống rỗng” để xem coi Tánh Xúc chạm hiện lên như thế nào qua sự dùng bản chải cào cánh tay của chúng tôi.
LUAN 2 A
Không ngờ kết quả lại đưa đến là: thay vì nó chỉ hiện ra Tánh Xúc chạm, nhưng ngược lại 4 Tánh cùng hiện lên trong một lúc, đó là:
1. Tánh Xúc chạm
2. Tánh Nghe
3. Tánh Thấy
4. Tánh Nhận Thức.
LUAN 2
Nhân duyên tham dự Hội Nghị Não Bộ vào tháng 6 năm 2010 tại Barcelona
Vào tháng 12 năm 2009, chúng tôi đã liên lạc với thiền sinh Quang Chiếu tại Đạo Tràng Tánh Không Stuttgart, Đức quốc, để yêu cầu ông Dr. Erb cho chúng tôi chụp hình não bộ vào đầu năm 2010 thay vì chụp hình vào tháng 6 năm 2010 theo chương trình đã qui định. Cuối cùng chúng tôi được ông Dr. Erb chấp thuận chụp hình vào đầu năm 2010. Từ 8 giờ sáng ngày 3 tháng Giêng năm 2010, chúng tôi và Quang Chiếu cùng với Tuệ Giác và cô Triệt Huệ đã có mặt tại phòng chụp hình não bộ. Đây là lần chụp hình dài nhất. Đến 3 giờ chiều, ông Dr. Erb mời chúng tôi vào phòng làm việc của ông và nói với chúng tôi rằng kỳ chụp hình não bộ này rất tốt, sau đó ông hỏi chúng tôi: “Thầy có muốn đưa hình não bộ của Thầy đi tham dự Hội Nghị Não Bộ vào tháng 6 năm nay tại Barcelona không ?” Với câu hỏi bất ngờ đó, chúng tôi nghe xong, liền có một số câu kiến giải ngay, chúng tôi liền trả lời ngay tức khắc với ông bằng một thái độ ôn tồn, tỏ vẻ như mình đã biết trước những chuyện đó rồi. Chúng tôi gật đầu đáp: “Vâng. Muốn chớ ! Yes. I want to !”
Thế là tháng 6 năm đó, lần đầu tiên một “ông Tăng nông dân” đi dự Hội Nghị Não Bộ quốc tế lần thứ 16 tại Barcelona, Tây Ban Nha.

Quay về quá khứ
Còn nhớ những năm dạy thiền sinh từ lớp Căn Bản đến những lớp Bát Nhã, chúng tôi đã vẽ đồ hình trình bày về hoạt động của não bộ qua 4 tánh: Tánh Thấy ngay tại thùy chẩm, Tánh Nghe ngay tại thùy thái dương, Tánh Xúc chạm ngay tại thùy đỉnh, và Tánh Nhận thức biết nằm giữa ngay tại thùy đỉnh. Trong đó có một cô thiền sinh hỏi rằng: “Thầy có chắc chắn là vùng đó là vùng Nhận thức biết không ? Vì ở đây ‘nói có sách mách có chứng,’ tức là giảng điều gì phải có bằng chứng xác thực mới được, chớ giảng như Thầy và vẽ như vậy, ai đâu mà tin.” Hơn nữa, khi mô tả về huệ lực, chúng tôi vẽ gạch ngang một đường thẳng, tượng trưng mặt ngoài của vỏ não, dưới đường thẳng chúng tôi vẽ nhiều hình mũi tên tượng trưng cho huệ lực bật lên. Lúc đó chúng tôi muốn mô tả huệ lực nằm ngay dưới đáy của Tánh Nhận thức biết. Bằng cách thực hành kích thích Tánh Nhận thức biết, thì huệ lực sẽ từ từ phát huy. Khi giảng tới đây, có một thiền sinhbác sĩ y khoa nói: “Thầy ơi, ở đây tụi con cũng là người trí thức, Thầy giảng vậy làm sao tin được !” Lúc đó có một vị bác sĩ khác nói: “Thôi, anh đừng hỏi Thầy vô chỗ kẹt, làm sao Thầy chứng minh được. Mình nghe Thầy giảng như vậy, mình hiểu là được rồi.” Nghe xong, chúng tôi liền nói: “Cám ơn bác sĩ đã lưu ý chúng tôi điểm này, sắp tới đây trong chương trình Ra mắt sách tại San Jose, xin mời bác sĩ đến tham dự, chúng tôi sẽ trình bày những bằng chứng mà chúng tôi đã âm thầm làm việc trong nhiều năm qua với Tiến sĩ Michael Erb tại trường Đại học Tuebingen.”
Đến năm 2008, trong kỳ Ra Mắt Sách “Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học,” chúng tôi đã công bố vùng Precuneus nằm ngay tại vỏ não của Thùy đỉnh, thật sự là nguồn của huệ lực.
HÌNH VÙNG PHẬT TÁNH (PRECUNEUS) NẰM BÊN TRONG GIỮA NÃO NGAY
TẠI THÙY ĐỈNH HIỆN LÊN, KHI THẦY ÁP DỤNG KỸ THUẬT TỈNH THỨC BIẾT

Lý do thứ tư:
- Muốn mượn khoa học về thần kinh (Neuroscience) để chỉ bày tác dụng của Thiền đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh của con người thật sự diễn tiến như thế nào khi ta thực hành đúng pháp. Ngược lại, khi ta thực hành sai pháp thì đưa đến gì cho thân tâmtrí tuệ tâm linh của ta.
Hỏi: - Thực hành đúng pháp là sao ? Kết quả như thế nào ?
Đáp: - Dù chúng ta dụng công kỹ thuật nào, cũng sử dụng cái Biết không lời, tín hiệu sẽ truyền vào Dưới Đồi, đến Đối giao cảm thần kinh, từ đò tiết ra chất sinh hóa học Acetylcholine, sau đó tác động dây chuyền đến hệ thống tuyến nội tiết và nội tạng. Như thế kết quả là thân hài hòa, tâm hài hòa và trí tuệ tâm linh sẽ từ lần triển khai.

Hỏi: - Còn thực hành sai pháp là sao ? Và kết quả như thế nào ?
Đáp: - Khi chúng ta nỗ lực, hay khi tập trung chú ý vào 1 đối tượng, hay tưởng tượng, hoặc tự kỷ ám thị, tức là ta sử dụng vùng biết có lời thuộc tiền trán, lúc đó tín hiệu sẽ tác động Giao cảm thần kinh, đầu dây Giao cảm tiết ra Norepinephrine, kết quả là thân bệnh tâm thể, tâm bất an và trí đó là trí thế gian mà thôi.

Lý do thứ năm:
- Muốn mượn khoa học để đối chiếu lời dạy của đức Thế Tôn, dù cho đã trải qua hơn 25 thế kỷ, nay vẫn còn có giá trị, nhất là trong những quốc gia tiến bộ về khoa học và kỹ thuật.

Hỏi: - Xin giải thích lý do này ?
Đáp: - Đối với những người có đầu óc khoa học, chúng ta cần giải thích rõ ràng, cần chứng minh cụ thể, với những hình ảnh, thiết bị tân tiến, thì họ mới tiếp thu dễ dàng.

Hỏi: - Xin Thầy giải thích cụ thể về Pháp nào trong Phật Giáođến nay vẫn còn có giá trị ?
Đáp: - Thí dụ như những Pháp mà Đức Phật đã chứng ngộ như phápDuyên Khởi, Pháp Duyên Sinh. Trong đó Ngài trình bày một trật tự về những diễn tiến của hiện tượng thế gian. Chúng tương tác lẫn nhau mà hình thành hay chấm dứt, trong đó không có bàn tay của thần linh hay đấng tạo hóa nào bố trí hay sắp xếp. Ngoài ra, 3 đặc điểm của hiện tượng thế gian là: vô thường, khổ hay xung đột, vô ngã hay không thực chất tính cũng là những qui luật mà Đức Phật đã chứng ngộđến nay vẫn còn giá trị.

Hỏi: - Xin Thầy giải thích “chứng ngộ” là gỉ ?
Đáp: - Chứng ngộ (enlightenment) là sự kiến giải từ vùng Tâm Tathā, hay từ Phật tánh, hoặc vùng Precuneus, về những điều gì mới lạ chưa được ai công bố. Nó không phải do nơi sự kiến giải của vùng ý thức, ý căntrí năng. Mà cũng không phải do sự kiến giải của vùng 3 tánh: thấy, nghe và xúc chạm của tánh giác. Do đó, những điều chứng ngộ này là những chân lý mãi mãi thích hợp với mọi thời đại và mọi không gian.

Hỏi: - Thưa Thầy, Phật pháp có phải là một triết lý không ?
Đáp: - Thông thường người ta cho rằng sự chứng ngộDuyên khởiPháp Duyên sinh của Đức Phật là một triết lý . Rồi nhiều nhà luận giải về Phật pháp xoáy trọng tâm về quan điểm triết học, để nâng cao giá trị của Lý Duyên khởi - Pháp Duyên sinh thành một triết học. Như trước đây hơn nửa thế kỷ, ông Hồ Thích, (một nhà Phật học nổi danh tại Trung Hoa lục địa vào thời Tưởng Giới Thạch) cùng với ông Suzuki (một nhà Thiền học Nhật bản sinh sống tại Anh quốc) đã tranh luận với nhau chung quanh đề tài: “Lý Duyên Khởi- Pháp Duyên sinh là một triết học.” Đó là theo quan điểm của ông Hồ Thích. Ông Suzuki thì cho rằng sự chứng ngộ của Đức Phật không phải là một triết học.
Thực ra, triết học đặt trên nền tảng của tư duy biện luận của vùng ý thức, ý căntrí năng. Cho nên giá trị của triết học chỉ thích hợp trong một thời gian hay một không gian giới hạn, nó không tồn tại mãi mãi. Thí dụ những quan điểm của các triết gia: Socrates, Aristotle, Plato, Khổng Tử, hay Karl Marx chỉ có giá trị trong một thời gian nào đó, vì nó chỉ là sản phẩm của cái Ta. Trong lúc đó, sự chứng ngộ xảy ra qua quá trình đột biến của phản xạ thụ động (passive reflex) từ vùng Phật tánh (hay vùng Precuneus). Nơi đó không có thông qua một mảy may suy nghĩ, biện luận, hay phân biệt.

Tóm lại, đây là 5 lý do tạo ra luận này.
Mong rằng tập sách “Luận Giảng Vấn Đáp Về Thiền Và Kiến Thức Thời Đại” sẽ giúp ích được phần nào quí vị muốn hiểu Thiền Phật Giáo và muốn thực hành để kinh nghiệm những sự chuyển đổi tâm tánh, cân bằng thân - tâm và phát huy trí huệ tâm linh của chính mình.


BÀI ĐỌC THÊM
Lời mở đầu. - Để hỗ trợ việc tiếp thu kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học có liên hệ đến sự thực hành Thiền, ngoài những bài giảng chính, chúng tôi soạn thêm một số bài giảng phụ, gọi là Bài Đọc Thêm. Nội dung Bài Đọc Thêm gồm nhiều chủ đề, kể cả thuật ngữ, liên hệ đến Kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học, mà trọng tâm là bổ sung ý nghĩa của bài giảng chính. Trong những giờ rổi rảnh, quí vị có thể đọc thêm những bài đó để tăng cường kiến thức thiền họctrợ duyên việc thực hành thầm lặng của chính quí vị mỗi khi quí vị thực sự có điều kiện thực hành.
Theo phương pháp hồi đáp (feedback method), kiến thức Thiền học, Phật học, Kỹ thuật thực hành, và Khoa học là 4 phương tiện cần thiết cho mỗi giai đoạn tu tập của thiền sinh sơ cơ hay trung cấp. Nó được xem như phương tiện thiết thựchiện đại của nhà du hành tâm linh ở ngưỡng cửa thế kỷ 21.
Mong những bài đọc thêm này giúp ích quí vị mới bắt đầu dấn thân vào đường Thiền nắm rõ trọng tâm và trọng điểm cách học và hành thiền theo phương pháp hồi đáp, ngõ hầu vững tin hơn vào cuộc hành trình “về nhà thầm lặng” của riêng mình mà không sợ bị lạc lối.


Bài đọc thêm
số 1
KINH BĀHIYA
Kinh Bāhiya là bài kinh Phật dạy liên hệ đến những chức năng bên trong cơ chế tánh giác gồm tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và nhận thức không lời. Đây là bài kinh được chúng tôi rút ra từ trong kinh Phật Tự Thuyết, Chương 1 Phẩm Bồ Đề, thuộc Tiểu Bộ Kinh của kinh tạng Pāli, thuộc hệ kinh Nguyên Thủy.
Bài kinh này nói lên trường hợp triệt ngộ tức khắc của ông Bāhiya qua sự lắng nghe Phật giảng với điều kiện tâm của ông Bāhiya có mang một mối nghi lớn là làm sao để đạt được hạnh phúc an lạc lâu dài. Sau khi nghe Phật giảng, ông đã thấu đáo tức khắc điều đó và đắc quả A la hán.
Sơ lược tiểu sử ông Bāhiya
Ông Bāhiya là vị A la hán vào thời Phật Thích Ca Gotama. Ông mang tên này vì ông sinh trưởng tại ngôi làng tên Bāhiya ở Bhārukaccha. Ông cũng được người đời gọi là Dārucīriya vì trước khi đắc quả A la hán, ông đã mặc áo làm bằng vỏ cây. Dāru = cây; cīriya = vỏ cây. Dārucīriya = Người mặc vỏ cây.
Khi còn là người chưa tu, ông là một thương nhân. Ông đi buôn bằng thuyền. Ông đã 7 lần vượt sông Indus băng qua biển để đi buôn. Trong 7 lần đều thành công cả 7. Đến lần thứ 8, trong khi đi đến thương cảng ở Suvaṇṇabhūmi, tàu ông bị đắm chìm giữa biển. Hàng hóa và của cải vàng bạc của ông đều chìm mất hết. Tất cả thương nhân trên tàu đều chết. May mắn cho ông là ông ôm được tấm ván. Sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, chiến đấu với tử thần, ông đã tấp vào bờ biển Suppāraka với tấm ván. Khi đến bờ, ông không còn quần áo để che thân. Ông nhặt nhánh cây nhỏ và vỏ cây kết lại thành khố để che thân. Sau đó ông lên bờ và đi khất thực. Dân vùng biển Suppāraka thấy ông ăn mặc vỏ cây nên gọi ông là “người mặc vỏ cây” (Dārucīriya). Hiểu được hoàn cảnh của ông là người vừa thoát chết sau chuyến tàu chìm, dân chúng kẻ ít người nhiều, tùy theo phương tiện của mình đã cúng dường thức ăn, thức uống cho ông với sự tôn kính. Thấy ông không áo quần, dân vùng biển cúng dường áo quần và nhiều vật dụng đáng giá khác, nhưng ông từ chối. Ông chỉ nhận đủ số cần dùng. Nhờ vậy uy tín của ông càng lên cao. Ít lâu sau đó, dân vùng biển nghĩ rằng ông là một vị A la hán. Sau cùng, chính ông cũng cho rằng ông là vị A la hán hay là người đang đi trên đường A la hán.
Lúc bấy giờ có một thiên nhân (devatā), trước kia là bà con ruột thịt với ông Bāhiya, trong một đêm khuya, thiên nhân này hiện ra và nói cho Bāhiya biết rằng, ông không phải là A la hán, cũng không phải là người đang đi trên đường A la hán. Nếu muốn đi trên con đường A la hántrở thành vị A la hán, thiên nhân này cho biết là ông nên mau mau đến Kỳ viên Tinh XáXá Vệ (Sāvatthi) để gặp ngay đức Phật. Phật sẽ giảng cho ông biết làm thế nào để đi trên đường A la hán, làm thế nào để có lợi lạc cho chính ông trên đường tâm linh.
Nghe vậy, ông Bāhiya liền quyết tâm đi đến Xá Vệ (Sāvatthi) ngay. Mặc dù bờ biển Suppāraka cách xa Xá Vệ khoảng 120 do tuần (1 do tuần (yojana = leagues) bằng 4 km. 120 x 4km = 480 km), với quyết tâm mãnh liệt, ông Bāhiya đi suốt đêm. Ông hy vọng gặp Phật để chính tai ông nghe Phật giảng cách làm sao để đạt được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Sáng sớm hôm sau ông đã đến Kỳ viên Tinh xá. Ông rất đổi vui mừng, tin tưởng sẽ gặp đức Phật để thưa hỏi. Nhưng ông được cho biếtđức Phật đã đi khất thực rồi. Với tâm trạng nôn nóng, ông liền bươn bả đi nhanh theo hướng đức Phật đang đi khất thực. Ông mong rằng khi gặp Phật, ông sẽ nghe Phật chỉ dạy cách tu. Khi thấy Phật đang chậm rãi đi, ông liền nhanh chân bước đến trước mặt Phật, quì xuống giữa đường, đảnh lễ sát dưới chân Phật, rồi ôn tồn thỉnh cầu Phật dạy pháp để ông được giải thoát.
Ông chắp tay thành tâm bạch:
- Bạch Thế Tôn, cầu xin Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Đức Phật chậm rãi đáp:
- Không phải thời, này Bāhiya, ta đang đi khất thực.
Ông Bāhiya tiếp tục cầu xin nữa.
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Lần thứ hai đức Phật cũng từ chối. Đức Phật cho biết là không phải thời để đức Phật giảng. Không chán nản, ông Bāhiya khẩn cầu lần thứ ba:
- Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con. Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Nhìn thái độ thành khẩn và lòng nhiệt tâm cầu pháp của Bāhiya, thấy đã đến lúc cần nói bài pháp thích hợp với tâm trạng đang mong đợi chờ nghe của ông Bāhiya, đức Phật liền chậm rãi nói những lời ngắn gọn. Ông Bāhiya chắp tay quì chú tâm lắng nghe lời Phật. Phật nói:
- Vậy này Bāhiya, ông cần phải học tập như sau: “Trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.” Như vậy, này Bāhiya, ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bāhiya, nếu với ông, trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bāhiya, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bāhiya, ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.
Kinh ghi tiếp: - Nhờ lời thuyết pháp tóm tắt này của Thế Tôn, tâm của Bāhiya Dārucīriya được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
(Giải thích: - Tức là khi nghe Phật giảng xong, ông đã đắc quả A la hán. Đây là ông đã tức khắc nhận thức thấu đáo Chân lý. Trong Pāli gọi trạng thái này là “khippābhiññānaṃ,” tương đương tiếng Anh là “instantly comprehended the Truth.” Nói theo thuật ngữ Thiền Tông Trung Hoa, ông đã “triệt ngộ.”)

Sau đó, đức Phật đi khất thực. Riêng ông Bāhiya từ giã Phật... Không lâu sau đó, một con bò con húc vào ông Bāhiya. Ông chết. Khi Phật đi khất thực xong, sau buổi ăn trưa, trên đường đi khất thực trở về cùng chung với nhiều Tỳ kheo, Phật thấy ông Bāhiya nằm chết. Phật liền nói với các Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo, hãy lấy thân xác Bāhiya Dārucīriya đặt lên trên cái chõng, đem đi hỏa thiêu, rồi xây tháp lên trên. Này các Tỳ kheo, một vị đồng Phạm hạnh với các Thầy đã qua đời !
(Giải thích: - Đồng Phạm hạnh, tức là cùng chung hạnh sống của bậc Thánh với các vị Tỳ kheo, đệ tử của Phật.)

Kinh ghi tiếp: - Sau khi các vị Tỳ kheo làm y theo lời Phật dạy xong, các ngài đến bạch Phật, yêu cầu Phật giải thích về trường hợp của ông Bāhiya.
Trước chư tăng, đức Phật công bố:
- Này các Tỳ kheo, Hiền trí là Bāhiya Dārucīriya đã hành trì tùy pháp, đúng pháp và không có phiền nhiễu Ta với những tranh luận về pháp. Này các Tỳ kheo, Bāhiya Dārucīriya đã nhập Niết bàn.

Những mắt xích đưa đến ngộ đạo

Giải thích:
- Trường hợp triệt ngộ (khippābhiññā) của ông Bāhiya do những điều kiện sau đây.
1. Tâm thuần
Trong những ngày sống ở bờ biển Suppāraka, tâm ông Bāhiya rất thanh tịnh. Tâm của ông không còn vướng mắc vào của cải, tài sản vật chất như trước kia ông đã say mê. Ông sống đạm bạc, biết đủ, giữ hạnh thanh tịnh như là hạnh sống của bậc Thánh. Nhờ vậy, ông được dân chúng vùng biển tôn kính như người có đầy đủ Phạm hạnh. Như vậy là tâm của ông đã thuần. Nó không còn lăng xăng dao động với các nhân duyên bên ngoài. Rồi qua đó, ông nghĩ rằng ông đã đắc quả A la hán hay là người đang tu theo con đường A la hán.
2. Khởi nghi
Nhưng một thiên nhân cho biết ông không phải là người đang đi trên đường A la hán. Thiên nhân báo cho ông biết ông nên đến Xá Vệ để gặp đức Phậtnghe lời chỉ dạy của Phật để đi đúng con đường A la hánđắc quả A la hán. Lúc bấy giờ ông mới nhận ra là những điều ông đã nghĩ về khả năng tu tập của ông là không đúng. Có người đang đi đúng Con Đường A la hán là Phật Thích Ca hiện đang ở tại Xá vệ. Ông mau đến đó để thưa hỏi.
3. Đại nghi
Sau đó ông quyết tâm đi đến Xá Vệ. Dù đoạn đường khá dài, ông chỉ đi trong 1 đêm. Trong quá trình đi suốt đêm này, tâm và trí của ông chỉ chứa một mối nghi. Đó là làm sao để được hạnh phúc an lạc lâu dài. Mối nghi này đã trở thành mối nghi lớn trong tâm ông. Ông hy vọng được giải tỏa khi gặp Phật. Đây là điểm cơ bản của ngộ đạo.
4. Vun bồi mối nghi
Đến khi gặp Phật, niềm vui đã dâng tràn lên trong tâm ông. Ông phát lên lời khẩn khoản thỉnh cầu Phật chỉ dạy. Ông cho rằng không còn kịp nữa, nếu Phật tịch hay ông tịch thì làm sao có cơ hội biết đường tu tập để được giải thoát. Như ông nói: “Thật khó biết, bạch Thế Tôn, là chướng ngại cho mạng sống của Thế Tôn hay chướng ngại cho mạng sống của con.” Tuy nhiên, dù khẩn khoản thỉnh cầu, hai lần thưa thỉnh, Phật đều từ chối. Đây cũng là 1 tác nhân đặc biệt thử thách tâm ông. Không chán nản, lần thứ ba, ông thỉnh cầu nữa.
5. Hợp thời tiết nhân duyên
Lúc bấy giờ Phật nhận ra sự thành khẩn của ông Bāhiya. Phật biết rằng ông đang mong cầu nghe lời dạy của Phật. Phật cũng biết tâm của ông đã hoàn toàn vắng lặng và đang chờ Phật rót vào tai những lời thích hợp để ông đạt được giác ngộ hay hạnh phúc an lạc lâu dài. Thấy cơ duyên đã đến lúc, Phật đồng ý giảng cho ông nghe.
Ông mừng rỡ, sẵn sàng lắng tâm nghe lời giảng ngắn gọn của Phật. Bấy giờ ông Bāhiya đã nghe bằng tánh Nhận thức Biết không lời.
6. Giải tỏa mối đại nghi
Khi nghe giảng xong, tức khắc ông ngộ đạo. Ông đắc quả A la hán...
Trước chư tăng, đức Phật công bố Bāhiya đã triệt ngộ
7. Nguyên tắc kinh nghiệm giác quan
Điểm then chốt của bài pháp ngắn gọn này là nhấn mạnh đến nguyên tắc kinh nghiệm giác quan. Đó là khi giác quan kinh nghiệm được điều gì hãy để nó kinh nghiệm mà không để tự ngã can thiệp vào. Nếu biết khai thác nguyên lý này, ta cũng sẽ có kinh nghiệm ngộ đạo.
Trong kinh, Phật dạy: Trong cái thấy, chỉ là cái thấy; trong cái nghe, chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.
Ở đây Phật dạy tự mình phải nhận ra 4 tánh trong cơ chế tánh giác.
“Trong cái thấy, chỉ là cái thấy.” Khi tiếp xúc với đối tượng, chỉ có tánh Thấy mà thôi. Trong đó không có “cái Ta.” Nếu có “cái Ta” là cái thấy không còn là cái thấy khách quan như thực nữa. Mà là “tôi thấy.” Đó là cái thấy bị “cái Ta” can thiệp vào.
Trong cái nghe, chỉ là cái nghe. Đây là cái nghe của tánh Nghe. Trong khi nghe, chỉ biết nghe mà không suy luận về nội dung âm thanh như thế nào.
“Trong cái thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng.” Đó là trong cái xúc chạm chỉ có tánh xúc chạm mà không có diễn dịch điều gì trong đó.
“Trong cái thức tri, chỉ là cái thức tri.” Đó là Phật dạy khi có nhận thức điều gì, chỉ giữ trạng thái nhận thức Biết không lời, mà không thêm nội dung gì trong đó. Đây là nhận thức trống rỗng về đối tượng.
“Do vậy, ông không là chỗ ấy.” Tức là chỗ đó không có tự ngã hay không có “cái Ta.” Vì chỗ đó chỉ là trạng thái thầm nhận biết khách quan của tánh giác nên không có “cái Ta.”
“Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.” Tức là nếu đạt được 4 trạng thái trên thì ông Bāhiya đạt được giải thoát ngay trong đời này. Điều này có nghĩa ông đã triệt ngộ nguyên lý Vô ngã nên ông đạt được Niết bàn khi còn sống, tức là đạt quả vị A la hán, sẽ không còn tái sinh trong đời sau.


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, February 1, 20266:44 PM(View: 154)
Ni Sư Triệt Như đã có một buổi gặp mặt thân mật với Đạo Tràng Tánh Không Nam Cali vào ngày 17 tháng 1 năm 2026.
Tuesday, February 3, 20266:14 PM(View: 95)
Tóm lại điểm then chốt trong chánh kiến là: Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý (saccapaṭivedhañāṇa - knowledge in penetration into the truths). Phần này gồm 2 điểm: 1) Biết như thật khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ./ 2) Biết như thật ta là chủ của nghiệp do ta tạo nên. Triệt tiêu được ý niệm "Ta," ý niệm về nghiệp chấm dứt. Không có nghiệp để trả và cũng không có người chịu quả báo
Tuesday, February 3, 20264:47 PM(View: 109)
So actually, Morality, Concentration, and Wisdom are just the three words, or just the tools. The Buddha laid them out to guide human beings of different capacities, just like the Eightfold Path, the Seven Factors of Awakening, Taking Refuge, or Leaving Household… All of them are merely speech or words temporarily shown by the Buddha. We shouldn’t closely attach to the language. Instead, we need realize what deeply hidden within the letters.
Tuesday, February 3, 20269:29 AM(View: 106)
Wenn ich heute zurückblicke, sind zwar erst wenige Jahre vergangen, doch es fühlt sich an, als wären es hundert gewesen. Die glücklichen Tage sind so schnell vergangen. Fünfundzwanzig Jahre. Wir konnten nicht einmal unsere Silberhochzeit feiern, dann ging einer nach dem anderen. Der Herbst kommt, dann der Frühling, dann wieder der Herbst … Jetzt hängen nur noch zwei gelbe Blätter am Zweig. Einsam und verlassen.
Monday, February 2, 20263:23 PM(View: 116)
Theo đạo Phật tất cả mọi sự vật, sự kiện, hiện tượng sinh ra do nhiều điều kiện. Vì do nhiều điều kiện, tức nhiều duyên kết hợp mà thành, gọi là “duyên sinh”, nên không thực chất tính, không độc lập, không tự ngã. Vì không tự ngã nên không tồn tại bất biến, luôn luôn ở trong trạng thái sinh diệt. Quá trình biến đổi liên tục trên vạn pháp trong thế giới vật chất, hay ngay cả trong tâm thức con người gọi là Vô thường.
Tuesday, January 27, 20265:26 PM(View: 250)
There it is! The dreamlike land! My place of peace is this Patriarchal Temple, and it is also the whole world. How could there truly be coming or going and life or death? Wherever we go, it is still within this mundane life. Whether alive or dead, all of it is merely circling within this dreamland.
Sunday, January 25, 20267:43 PM(View: 298)
Khổ chỉ cho đặc tính phổ biến của tất cả sự hiện hữu, nói chung đều bất toại nguyện (unsatisfactoriness) đưa đến những xung đột nội tâm.
Wednesday, January 21, 20266:17 PM(View: 293)
Thắp sáng nội tâm hay soi sáng nội tâm là khai mở ánh sáng trí tuệ soi rọi vào bên trong tâm để nhận ra bản chất thực sự của chính bản thân mình và vạn pháp bên ngoài. Ánh sáng trí tuệ này giúp chúng ta có một cuộc sống an lạc và thăng hoa hơn.
Tuesday, January 13, 20266:11 PM(View: 491)
Today, recalling stories from the old days which were only some years ago; yet it feels like endlessly distant. Joyful days passed so quickly! Twenty years gone! There wasn’t even the chance to celebrate the twenty-fifth anniversary before everyone had drifted away. Fall is coming, then spring, then autumn again. And now, only two yellow leaves remain, lonely and thinly clinging to the branch.
Wednesday, January 7, 20269:42 AM(View: 570)
Aber wann denke ich denn nicht an unseren Meister? Ein gelbes Blatt fällt runter. Auf dem letzten Gemälde ist lediglich eine purpurrote Salablüte zu sehen, die herabfällt. Oder ein einzelnes, gelbes, trockenes Blatt, das von einem Zweig gefallen ist und im Garten verstreut liegt.
Tuesday, January 6, 202612:19 PM(View: 536)
In conclusion, a sudden breakthrough or realization must occur at least once, or even multiple times, along the path of practice for one to truly enter the Chan house. Only then can one walk forward freely, no longer encountering obstacles within the mind. If one has not yet realized the original mind, one is still standing outside the gate... Once the latter is clearly realized, the former naturally fades away.
Sunday, December 28, 20259:56 PM(View: 526)
Sáu năm trôi qua, từ ngày vắng bóng Thầy, chúng đệ tử vẫn tiếp tục hành trì pháp Thầy truyền trao. Các thiền sinh vẫn siêng năng họp chúng tu tập hằng tuần trên online, mỗi hai tháng các vị ấy đều về Thiền Viện nhập thất, cùng nhau ôn tập và chia sẻ kinh nghiệm tu tập.
Thursday, December 25, 20254:05 PM(View: 951)
Mùa tưởng niệm Thầy, lúc nào lại không là mùa tưởng niệm Thầy? Một chiếc lá vàng rơi. Bức tranh cuối cùng này chỉ có một đóa hoa sala đỏ thắm rơi hay một chiếc lá vàng khô, lìa cành, rơi rụng trong vườn.
Tuesday, December 23, 20252:44 PM(View: 561)
Gọi là hương vị, vì người viết đã nếm được vị vô thường, nhận ra được tánh sinh diệt là điều tự nhiên, là sự vận hành của pháp... nên mỗi khi nhớ đến Thầy thì trong lòng không còn đau buồn hay sợ hãi trước những thay đổi bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Bạch Thầy, học trò kính dâng lên Thầy lòng thương kính và tri ân vô bờ.
Tuesday, December 16, 20258:47 AM(View: 658)
Tháng 12, TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ cùng nhau nghe lại tiếng nói của Thầy Thực hiện VIDEO: NHƯ ANH Đạo tràng Toronto
Thursday, December 11, 20253:03 PM(View: 697)
Schools and lineages, Zen masters, various means of Dharma teachings are all conditioned phenomena. They arise and cease. The Utmost Truth, however, is unconditioned, eternal, and does not come and go.
Thursday, December 11, 202510:09 AM(View: 695)
Tháng 12, TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ cùng nhau đọc lại bài viết về Thầy của Ni sư
Wednesday, December 3, 20253:01 PM(View: 666)
Muốn đạt được “Trí tuệ vô lậu”, hành giả phải tu học, hành trì ba môn Vô lậu Giới-Định-Tuệ, là pháp môn mà Đức Phật đã đi qua và thực chứng trí tuệ ba minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh) dưới cội Bồ đề.
Wednesday, November 26, 20253:38 PM(View: 742)
Chinese Chan Buddhism is regarded as having begun with its First Patriarch, Bodhidharma, an Indian monk, via the “lion’s roar” awakened people to return to their original mind and recognize their inherent nature—empty, quiescent, and luminous.
Wednesday, November 19, 20257:46 PM(View: 1073)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Saturday, November 15, 20257:59 AM(View: 698)
Kinh Trường Bộ Tập 1 8. Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda sutta) còn có tên là Kinh "Đại sư tử hống" (Mahàsìhanàda Sutta)
Tuesday, November 11, 20258:39 PM(View: 780)
So hat Buddha gelehrt: „Seid euch selbst ein Licht, dem ihr folgen könnt. Nehmt zur Wahrheit Zuflucht . Verlasst euch auf niemanden und nichts anderes!. Denn alles ist vergänglich“.
Tuesday, November 11, 20258:27 PM(View: 901)
All the sects and sub-lineages in these two great transmission traditions have preserved the essential teachings of the Buddha and share the same ultimate goal: liberation from suffering, enlightenment, and self-emancipation.
Monday, November 10, 20258:10 PM(View: 1086)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Wednesday, November 5, 20252:07 PM(View: 790)
Ba cánh cửa giải thoát “ Không, Vô tướng, Vô tác ” là trí tuệ siêu vượt của Đức Thế Tôn trao truyền cho người hữu duyên. Đây là sự quán chiếu sâu sắc vê “ duyên khởi, tánh Không, vô thường, vô ngã và Niết-bàn ”.
Tuesday, November 4, 20259:29 AM(View: 718)
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 8 Tám Pháp VIII. Phẩm Song Đôi (73) Niệm Chết (1) (52) Niệm Chết (2)
Tuesday, November 4, 20251:31 AM(View: 1167)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Wednesday, October 29, 202512:54 PM(View: 1347)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Monday, October 27, 20253:44 PM(View: 858)
Kinh Trường Bộ Tập 1 8. Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda sutta) còn có tên là Kinh "Đại sư tử hống" (Mahàsìhanàda Sutta)
Wednesday, October 22, 20259:28 AM(View: 881)
The Buddha taught the last wholehearted words before leaving this world: “Be a lamp unto yourself.” “Rely only upon the Dharma.” “Do not depend upon anyone or anything else.” “ Because ‘Everything in this world is impermanent’. ”
Tuesday, October 21, 202511:29 PM(View: 1116)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 16: TÁNH THẤY - Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Monday, October 20, 20258:54 PM(View: 914)
Wir nennen sie die Motten „selbstverbrennende Insekten“, weil sie direkt ins Licht fliegen und tot zu Boden fallen, sobald sie die heiße Glühbirne berühren. Ich frage mich, welcher Instinkt sie dazu treibt und warum sie vom Licht angezogen werden. Warum fliegen sie immer wieder in die Glühbirne, obwohl sie sehen, wie andere Motten dabei ums Leben sterben?
Monday, October 20, 20254:06 PM(View: 1250)
Chapter 14, titled "Detachment from Forms to attain Tranquility," stands as one of the most vital and profound chapters within the Diamond Sutra. Its full name conveys that by letting go of all phenomenal forms and delusive thoughts, one can attain the state of ultimate stillness and cessation (Nirvana).
Wednesday, October 15, 20252:16 PM(View: 1542)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 15: TÁNH NGHE Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali.
Tuesday, October 14, 20256:47 PM(View: 1085)
Wherever coming, why did Venerable Bhaddiya keep saying, “Oh, peaceful indeed”? The other monks looked around, seeing only a quiet forest, a tree bottom, or an empty hut, and could not understand. They assumed Bhaddiya was recalling his luxurious royal life. This shows the worldly habit of common people projecting on their own subjective thinking.
Monday, October 13, 20257:52 PM(View: 1332)
Both "The Mu Koan" (in Japanese Zen Buddhism, especially the Rinzai school) and the "No-Talk" Technique (belonging to the Sunyata Meditation of Venerable Thich Thong Triet, a modern Vietnamese tradition rooted in Abhidharma and Nikāya) aim for a common goal: the direct realization of the Awareness Nature beyond words and concepts. However, their methods and psycho-cognitive contexts fundamentally differ.
Monday, October 13, 202511:12 AM(View: 6700)
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 8: Tám Pháp VI. Phẩm Gotamì (51) Mahàpajàpatì Gotamì (52) Ai Giáo Giới?
Saturday, October 11, 20255:15 PM(View: 815)
Quán pháp trên các pháp trong kinh Tứ Niệm Xứ được hiểu là nhìn sự vật bằng cái nhìn khách quan, nhìn cái đang là của đối tượng ngay trong hiện tại, dù đối tượng thiện hay bất thiện trong tâm không phản ứng đồng ý hay bài xích.
Friday, October 10, 20254:10 PM(View: 798)
Kinh Phật Tự Thuyết Chương 1 Phẩm Bồ Đề (Udàna)
Wednesday, October 8, 202512:20 PM(View: 1464)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 14: TƯ THẾ TỌA THIỀN Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali.
Wednesday, October 8, 202511:31 AM(View: 1425)
Dans la pratique du Méditation, la méthode de relaxation de l’esprit ou de relaxation des pensées constitue une partie essentielle dans la création d’une réponse biologique immédiate permettant de guérir les maladies psychosomatiques et la neurasthénie. Elle est l’antidote à la dépression (stress), aux troubles émotionnels et elle rétablit les dysfonctionnements du système nerveux.
Wednesday, October 8, 202511:25 AM(View: 901)
A person’s life is also like a constantly flowing stream, never stopping. Everything, health, youth, happiness, loved ones, all flows forward in a one-way direction: birth-aging-sickness-death, or in another way: arising-existing-decaying-disappearing. This one-way path means that once something has passed, it never returns exactly as it was.
Monday, October 6, 20253:14 PM(View: 992)
Kinh Trường Bộ Tập 1 Phần 2 2. Kinh Sa-Môn Quả (Sàmannaphala sutta) (The Fruits of the Contemplative Life)
Wednesday, October 1, 202510:41 AM(View: 1151)
Au final, le chemin du perfectionnement réside uniquement dans un ksana. Un ksana de pleine conscience. Un ksana pour savoir comment vivre. C’est celui de l’étant. Rester dans le ksana de l’étant en permanence. C’est demeurer paisiblement dans le Nirvana.
Wednesday, October 1, 20259:34 AM(View: 1436)
Because of inner speech, the Mind never truly rests, even during sleep. Inner speech is the very fuel of liking (craving), disliking (aversion), and of various addictive passions, traditions, and attachments to family, society, and so on. It is the root of Suffering (delusion), for it is precisely what gives rise to psychosomatic illnesses, causes conflicts with others, and creates imbalance with the living environment.
Wednesday, October 1, 20259:30 AM(View: 1357)
Dans le parcours de pratique et de réalisation, le Bouddha n’a pas enseigné à chercher une divinité suprême ou une entité éternelle à l’extérieur, mais Il a directement montré à l’intérieur de ce corps-esprit, afin que le pratiquant puisse reconnaître la nature véritable de lui-même. L’un des enseignements essentiels qui aide le pratiquant à revenir à sa nature pure est la reconnaissance des quatre facultés : Voir, Entendre, Toucher et Percevoir.
Wednesday, October 1, 20259:26 AM(View: 1137)
For a long time now, the pepper tree has reminded me of the art of living, " adapting to situations yet staying unagitated." Its trunk is sturdy and solid, standing tall against the vast sky. Despite wind and rain, the trunk does not shake. This tree surely has a hard inner core. In the Buddhist discourse “The Simile of the Heartwood”, the Buddha compared the ultimate goal of virtuous life to mind liberation, which is similar to the heartwood of a tree, its most valuable part. The heartwood lies hidden deep inside the trunk, hard to see and find. Mind liberation is also abstract, difficult to seek and attain.
Monday, September 29, 20257:04 PM(View: 1900)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 13: NHỮNG TƯ THẾ THỰC TẬP THIỀN - Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4815/tai-lieu-hoc-tap-cac-slides-khoa-thien-can-ban-2025-ky-4-ngay-21-thang-6-2025.
Sunday, September 28, 202512:24 PM(View: 975)
Trung Bộ Kinh Tập 1 Phần 39 1. Đại kinh Xóm ngựa (Mahà-Assapura sutta)
Wednesday, September 24, 202510:07 PM(View: 1100)
Trung Bộ Kinh Tập 1 Phần 1 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản (Mùlapariyàya sutta) (The Root Sequence)
Wednesday, September 24, 202510:38 AM(View: 1258)
This presentation compares the 'No-Talk' technique, from the Sunyata Meditation lineage taught by Venerable Thich Thong Triet, with Chapter 9: The Dharma-Gate of Non-Duality in the Vimalakirti Sutra, to clarify the similarities in their practice content and the state of mind that both methods aim to achieve.
Wednesday, September 24, 202510:31 AM(View: 1143)
Since the time we’ve been in this world, through countless lives, it remains faithful, side-by-side to us to remind of good and wholesome things. Many times, we might betray it or neglect it. But it keeps loyal to us. Who’s it? It’s the Knowing, the Mind. Thus, my friends, remember to live every moment fully with this silent, true-blue and crystal-clear ride-or-die companion.
Saturday, September 20, 20253:49 PM(View: 1070)
Tam giới gồm ba cõi : Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc là toàn bộ vũ trụ quan theo cái nhìn của Phật giáo. Tùy mức độ nghiệp lực và khả năng tu tập, mà chúng sanh sẽ tái sinh, sống ở một trong ba cõi này.
Thursday, September 18, 202510:37 AM(View: 1035)
There are two different types of spiritual backgrounds for renunciation. 1- For lay people. They get ordained due to: Decline of Old Age, Decline of Illness, Decline of Possessions, Decline of Beloveds and Blooded Relations 2- For those who are sagacious. They get ordained due to: The world is impermanent and subject to destruction, The world is aidless and unprotected, The world is non-ownership. When leaving it, one must drop down everything behind, The world is needy, insatiable, and enslaved by cravings...
Sunday, September 14, 20254:35 PM(View: 1584)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 12: THIỀN QUÁN ANUPASSANÀ - Ngày 14 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Sunday, September 14, 20254:35 PM(View: 1683)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 11: NÃO BỘ - Ngày 14 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Tuesday, September 9, 20254:59 PM(View: 1024)
“I abandon my own mind and live in the best alignment with those venerables’ one.” And Utmost Lord, we are of different bodies, but our mind is unified.”
Friday, September 5, 202512:35 PM(View: 1677)
Các ông đều trình bày đúng theo kinh nghiệm của mỗi vị. Còn đây là câu trả lời của ta: “Tỷ-kheo sau khi đi khất thực và thọ trai về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.'' Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Wednesday, September 3, 20251:00 PM(View: 1232)
Tóm lại, theo lời Đức Phật, con cái phải luôn tâm niệm báo đền công ơn cha mẹ. Sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ không chỉ dừng lại ở sự phụng dưỡng về vật chất, mà còn phải khuyến hóa cha mẹ hướng đến đời sống thiện lành, phát khởi tín tâm với Phật pháp, thực hành giữ giới, bố thí...
Wednesday, September 3, 202511:57 AM(View: 1634)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 9: Bài Kinh NHẤT DẠ HIỀN GIẢ - Ngày 14 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Wednesday, September 3, 202511:30 AM(View: 1211)
At first glance, the title might sound kinda broad, sublime and even so fancy. Yeah, it is! How could we fully refer to such a thoughtful topic just in a few pages? Even it might take one book to write about a way of life. So, I’m gonna stay in the Buddhist viewpoint to talk about the Boddhisatva’s lifestyle under the term “Four Dharma for Mind Subduing”.
Tuesday, September 2, 20258:18 PM(View: 1637)
Sau khi nhận ra rõ ràng sự hiện hữu của thiên nhiên và con người trên thế gian, do nhân và duyên mà có mặt, lại do nhân và duyên mà thay đổi và biến mất rồi lại tái sinh, dòng sống của con người và thiên nhiên cứ tuôn chảy mãi như thế không ngừng, người ẩn sĩ cô độc trong khu rừng già bên bờ sông Nerañjarā (có khi viết là Niranjana) giờ đây đã thấy rõ tất cả những diễn tiến trong đời, đã tháo gở ra tất cả các sự rối ren phiền muộn từng ấp ủ ray rứt trong tâm.
Tuesday, September 2, 20253:32 PM(View: 1125)
Le terme Dhamma, depuis l’Antiquité jusqu’à aujourd’hui, possède de très nombreuses significations et un sens très vaste. C’est pourquoi je vais provisoirement les regrouper afin de les répartir en trois contenus différents, c’est-à-dire qu’on peut les classer en trois sens distincts du mot Dhamma.
Saturday, August 30, 20257:46 PM(View: 1505)
Saturday, August 30, 202511:36 AM(View: 1415)
Cette année, l’Association Sunyata Suisse (ASS) a organisé la retraite à Tulette et non plus au Camp de Vaumarcus. Tulette est un petit village situé au sud de la France. Mme Huệ Thuận, responsable de l’ASS possède un vignoble et une oliveraie à Tulette. Le terrain est vaste avec beaucoup d’espaces libres couverts d’herbe. Le bâtiment principal compte un étage et en tout neuf chambres à coucher.
Thursday, August 28, 20257:10 PM(View: 1462)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 8: HAI SẮC THÁI TÂM - Ngày 7 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Thursday, August 28, 20256:57 PM(View: 1146)
Thất giác chi không chỉ là bảy yếu tố quan trọng hỗ trợ hành giả trong vấn đề tu tập thiền hướng đến giác ngộ giải thoát, mà Thất giác chi còn có giá trị thực tiễn trong đời sống hằng ngày của người cư sĩ chúng ta.
Wednesday, August 27, 202512:49 PM(View: 1339)
The joking words of the Master’s long-term students are the conclusion for this piece. In daily life, “No bargaining.” Why? When someone quotes a price, it’s what they’re expecting. When we say yes to it, they’ll be so happy, right? We, mind practitioners, should bring joy to everyone. So, yeah! “No bargaining.” Dear friends, a Master can thoroughly understand his disciples. But the disciples could hardly grasp their Master’s full depth of compassion.
69,256