Tìm Hiểu Ý Nghĩa BÁT NHÃ BA-LA-MẬT ĐA TÂM KINH

27 Tháng Mười 20157:23 SA(Xem: 31999)

Bát Nhã 4

Tìm Hiểu Ý Nghĩa

BÁT NHÃ BA-LA-MẬT ĐA TÂM KINH

----------------------------------------------------------------------

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

           BatNhaTamKinh

DẪN NHẬP

            Dựa trên bài giảng xúc tích của Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt tại Tổ Đình Tánh Không, Nam California cho Tăng Ni trong mùa An Cư Kiết Đông (2015), và bài giảng của Ni Sư Triệt Như cho các thiền sinh tại đạo tràng Tánh Không Hoa Thịnh Đốn. Cả hai vị giảng cùng một đề tài. Hôm nay, người viết mạo muội tổng hợp và ghi nhận lại những ý chánh, nhắm làm quà đầu năm cho tất cả những ai thích tìm hiểu. Nếu bài viết có gì sai sót kính thỉnh Thầy Thiền Chủ hay Ni Sư Triệt Như hoan hỷ điều chỉnh giúp, để hàng học hậu chúng con được mở mang thêm phần nào kiến thức về Phật học. Kính đa tạ.    

 

NGUỒN GỐC

            Vào thế kỷ thứ 7 ngài Trần Huyền Trang là một cao tăng đời nhà Đường, Trung Hoa, đã vượt biên giới sang Ấn Độ thỉnh kinh. Về sau, khi trở về Trung Hoa, ngài viết quyển "Tây Du Ký" ghi lại những chi tiết xảy ra trong suốt thời gian 12 năm chu du khắp Ấn Độ từ Bắc xuống Nam và qua tới Tích Lan, trong đó có sự kiện trên đường đi ngài đã trải qua nhiều gian nan khổ cực tưởng như đã mất mạng khi bị lạc vào sa mạc bão cát, may nhờ gặp một người áo trắng dạy bài Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiếng Ấn Độ. Ngài đã tụng đọc và thoát chết, sau cùng đến được Ấn Độ bình an. Qua sự kiện này, người ta đoán vị áo trắng đó là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

            Bài Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh thuộc hệ Phát Triển, viết bằng tiếng Sanskrit là bài kinh quan trọng chủ yếu nên người ta gọi là trái tim (Tâm kinh), được dịch sang Hoa văn rồi lan truyền khắp các nước Đông Nam Á, tính đến nay đã trải qua gần 19 thế kỷ.

            Tìm hiểu tác giả bài kinh này thì không ai biết.

            Xem lại nguồn gốc lịch sử chúng ta thấy rằng hệ thống kinh Bát Nhã rất đồ sộ, hơn 600 quyển gồm nhiều bài thi kệ nhưng không đề tên tác giả. Người ta chỉ biết rằng hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật phát xuất từ miền Nam Ấn trước Công Nguyên.

            Trong lịch sử Phật giáo có một sự kiện có thể cho chúng ta một chút suy đoán về nguồn gốc của hệ Bát Nhã Ba-La-Mật.

            Khoảng 236 năm, sau khi Đức Phật nhập diệt, nước Ấn Độ dưới sự cai trị của vua A-Dục, là vị vua rất sùng mộ đạo Phật, đã hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo khác.

            Vào thời đó có một vị cao tăng là ngài Đại Thiên trụ trì tại một ngôi chùa lớn ở kinh đô rất giỏi Phật pháp. Một lần trong buổi thuyết pháp có đông đảo người tham dự, ngài Đại Thiên đã tuyên bố: "Những ai thuyết pháp giỏi đúng với chân ý Đức Phật thì người đó có quyền viết kinh!".  Lời công bố này được một số người trẻ tán thành, nhưng cũng có nhiều người phản đối. Rốt cuộc vấn đề này không được giải quyết ổn thoả, ngay cả vua A-Dục và Hoàng Hậu là những người quyền lực nhất nước, dù hết sức ủng hộ ngài Đại Thiên cũng bó tay, không thể giải quyết được vấn đề trọng đại này. Sau đó, ngài Đại Thiên cùng đệ tử xuống miền Nam Ấn giáo hoá. Đó là lý do tại sao hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật xuất phát từ miền Nam Ấn. Hệ thống kinh này trải qua nhiều thời đại, kéo dài mấy trăm năm, các vị Tổ đã lần lượt sáng tác các bộ kinh được xếp vào hệ thống kinh Bát Nhã nhưng không có bộ kinh nào đề tên tác giả.

            Nhìn chung hệ thống kinh Bát Nhã đề cao tư tưởng KHÔNG và CHÂN NHƯ. Các vị  Tổ lấy TÁNH KHÔNG và CHÂN NHƯ làm nền tảng để tu tập, tiến đến thể nhập KHÔNG và thể nhập CHÂN NHƯ. Ngoài ra trong hệ thống kinh Bát Nhã cũng đề cao một chủ đề nữa là Huyễn. Tựu trung ba chủ đề CHÂN NHƯ, KHÔNG và HUYỄN xem như là 3 gốc độ của Trí Tuệ Bát Nhã nhìn về hiện tượng thế gian trong đó có con người.

            Thầy Thiền Chủ đã xem 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn như là thế chân vạc vững chắc để làm nền tảng cho Trí Tuệ Bát Nhã. Như vậy muốn khai mở Trí Tuệ tâm linh siêu vượt của mọi người, chúng ta cần thông suốt 3 chân lý đó. Thể nhập và sống phù hợp với 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn thì chúng ta sẽ hết khổ.

            Trong hệ thống kinh Bát Nhã, tác phẩm cuối cùng được dịch ra là "Bát Nhã Tâm Kinh" hay là "Bát Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh". Đó là dịch theo âm Hán Việt. Bài này gồm 262 chữ, là bài kinh ngắn nhất trong hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật.

 

NỘI DUNG BÁT NHÃ TÂM KINH

            Bài Bát Nhã Tâm Kinh được nhiều vị tôn đức dịch ra tiếng Việt. Nhưng bài viết này, Thầy Thiền Chủ và Ni Sư Triệt Như giảng từ bản kinh phổ thông Hán Việt.

            - Maha: Đại, lớn, nói đến trí huệ rộng lớn sâu sắc.

            - Bát Nhã: Tiếng Sanskrit là Prajnà. Có tiếp đầu ngữ là Pra nghĩa là đầy đủ. Jnà là trí huệ. Nghĩa là trí huệ đầy đủ. Người Trung Hoa âm ra là Bát Nhã, nghĩa là trí huệ sâu sắc hơn trí thông thường. Trí huệ này chỉ có nơi người tu tập kinh nghiệm định sâu, và qua sự kích thích của phản xạ thụ động huệ tự phát, chứ không qua sự học hỏi thế gian cóp nhặt của người khác. Đây là trí huệ tâm linh, trí huệ siêu vượt, là tuệ giác, là Phật tánh hay là tiềm năng giác ngộ có sẵn trong mỗi người chúng ta.

            - Ba-La-Mật: Âm từ chữ Paramita, tức là "qua bờ bên kia". Người Trung Hoa dịch là "đáo bỉ ngạn" nghĩa là "đã tới bờ bên kia". Ba-La-Mật ra ngoài chân lý quy ước, nó thuộc chân lý tối hậu. Chúng ta hiểu một cách tổng quát đó là: Sự kiện toàn của Trí Tuệ, Trí Tuệ hoàn hảo, Trí Tuệ cao nhất, gọi là Bát Nhã Ba-La-Mật.

             - Kinh: Lời dạy của Đức Phật thường gọi là Kinh. Kinh dạy chúng ta tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Lời Tổ chú thích về Kinh thường gọi là Luận. Sau này, các vị Tổ viết ra những bộ Luận vẫn ghi là Kinh. Ví dụ như: Ngài Thần Hội, đệ tử trẻ nhất của ngài Lục Tổ Huệ Năng ghi lại những lời dạy của Lục Tổ đề là "Kinh Pháp Bảo Đàn". Cũng như những bộ Kinh của hệ Phát Triển như: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang v.v... cũng đề là Kinh, nhưng thực ra chỉ là những bộ Luận thôi!

            - Tâm Kinh:  Hiểu theo hữu vi pháp, thì tâm đây là trái tim, trái tim giới hạn sự sống chết của con người, trái tim động là sống, không động là chết. Trái tim trong đạo Phật thường được thấy qua các từ ngữ như "mạng mạch" là sinh mạng của giáo pháp nhà Phật. Nói về chân đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim sống hoài của đạo Phật, có nghĩa là Trí Tuệ siêu việt. Nói về tục đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim của giáo pháp.

            Nghĩa chung, Bát Nhã Tâm Kinh là Kinh quan trọng nói về Trí Tuệ Bát Nhã.

            "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-La-Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách"

            - Quán Tự Tại Bồ Tát: Danh hiệu Đức Quán Thế Âm (Avalokitésvara). Bồ Tát là âm của chữ Bodhisattva, có khi người ta đọc dài hơn là Bồ-đề-tát-đoả. Quán Thế Âm theo niềm tin là vị Bồ Tát đã tu tập Tánh Nghe, và ngài đã nghe tiếng sóng biển tức Hải Triều Âm, vào được định và sáng đạo. Đức Quán Âm sống với hạnh từ bi, nguyện đời đời độ chúng sanh không thành Phật. Đây là nhân vật hư cấu, nghĩa là trong sử liệu ngài không có thật như Đức Phật Thích Ca và các đệ tử của ngài. Truy nguồn gốc, ngài là nam thần trong đạo Bà-La-Môn. Khi lan truyền đến Trung Hoa, Việt Nam, ngài trở thành người nữ, là vị Bồ Tát có nhiều hoá thân trong niềm tin dân gian thuộc về tín ngưỡng tôn giáo.

            Trong Phật học Bồ Tát là danh xưng gọi những người tu tập, có mục tiêu muốn đạt tới quả vị Phật. Ở trong kinh Đức Phật cũng tự xưng mình là Bồ Tát khi ngài đang tu tập khổ hạnh.

            Về sau, danh xưng Bồ Tát đòi hỏi 2 giai đoạn: Tự giác-Giác tha,  hay Tự độ-Độ tha, nghĩa là chính mình phải giác ngộ sau đó phát tâm giúp đỡ người khác, cho nên con đường tu tập và giáo hoá chúng sanh gọi là BồTát đạo.

            - Hành thâm: Thực hành ở trong định, sâu sắc trong Trí tuệ kiện toàn.

            - Bát Nhã Ba-La-Mật: Là Huệ tới bờ bên kia, nghĩa là ngài đã đi qua hết chặng đường tu tập, bây giờ đã tới mức cuối cùng, nghĩa là đã qua tới bờ giải thoát, và kết quả là ngài đạt Trí Tuệ siêu vượt, nhận ra bản thể của Ngũ uẩn là trống không. 

            - Giai không: Giai là tất cả. Giai không là tất cả đều trống không.

             - Độ: Con đò đưa mình qua sông, cứu vớt, giúp đỡ...

            - Ách: Là cái gông buộc ngang đầu con bò, những đau khổ đè nặng lên mình gọi là khổ ách.

            - Nhất thiết: Tất cả

            - Chiếu kiến: Kiến là thấy. Chiếu kiến là cái thấy soi sáng thông hiểu vấn đề.  Cái thấy này không phải là thấy bằng mắt thường, mà thấy bằng trí tuệ, nhận thức rõ ràng Ngũ uẩn đều là trống không, tức là trong Nhận thức cô đọng, Bồ Tát nhận biết rõ ràng bản thể của năm nhóm này là trống không. Con người chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Mỗi nhóm thay đổi luôn luôn.

            Khi phân tích con người do Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức kết hợp mà thành. Mỗi khối đó không thường hằng, không có thực chất cố định nên gọi là Vô ngã. Trong bài kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật giảng Vô ngã, đưa ra ba đặc điểm của thế gian là Vô Thường, Khổ, Vô ngã gọi chung là Tam Pháp Ấn.

            Về sau các vị Tổ lập thêm Vô Thường, Khổ, Vô ngã, Không gọi là Tứ Pháp Ấn. "Không" trong Tứ Pháp Ấn dùng để khai triển về cái Ta, đó là: Không Ta, không cái của Ta, không tự ngã của Ta.

            Sau cùng các vị Tổ rút gọn lại chỉ còn một pháp ấn gọi là Nhất Pháp Ấn hay là Nhất Tướng Pháp Ấn là KHÔNG. "Không" này nói đến TÁNH KHÔNG, nói đến trống không của con người và hiện tượng thế gian. "Không" này bao trùm khắp pháp giới.

            Từ bài kinh Vô Ngã Tướng khai triển bản thể con người là trống không.

            - Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách: Con người hay Ngũ uẩn gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc thuộc phần vật chất, nó bao gồm cơ thể và giác quan. Cơ thể con người gồm đất, nước, gió, lửa, tức tứ đại, nó hình thành nên cơ thể vật chất của con người. Do đó, cơ thể cũng gồm nhiều yếu tố kết hợp lại thành, mà đất, nước, gió, lửa này không phải là nguyên tố thường hằng bất biến. Đất cũng do nhiều yếu tố hợp lại thành đất. Nước, gió, lửa cũng vậy. Mỗi thứ hình thành là do nhiều điều kiện.

            Giác quan con người thì có 5 giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Ngoài ra con người còn có thêm một năng lực để tiếp xúc với hiện tượng thế gian, đó là Ý, nên gọi chung là lục căn.

            Ý không thuộc vật chất, nhưng Ý cũng hình thành nên vọng tâm của con người. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thì có Xúc, tức là lục căn tiếp xúc với hiện tượng thế gian thì có Xúc.

            Tại sao "Ngũ uẩn giai không" ? Tại vì Ngũ uẩn tức  5 nhóm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức tất cả thay đổi luôn luôn tuỳ theo nhân, tuỳ theo duyên kết hợp nên nó, thành thử nó không có cái gì là cố định trong mỗi nhóm, không có gì thường hằng trong mỗi nhóm, cho nên bản thể của năm nhóm này là trống không. Đó là ý nghĩa của "Ngũ uẩn giai không".

            Khi kết luận "Ngũ uẩn giai không", không có nghĩa là phủ nhận không có Ngũ uẩn. Cái nhìn vạn vật trống không là cái nhìn của Trung đạo. Trung đạo tức là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không.

            Nhắc lại ý nghĩa Trung đạo của "Không", chúng ta phải hiểu nó không có nghĩa phủ định. Và chữ "Không" ở chỗ "Ngũ uẩn giai không" là chữ "Không" trong tiếng Hán Việt có nghĩa là "trống không" chứ không phải chữ "Không" trong ý nghĩa tiếng Việt là "không có".

            Ban đầu Đức Phật chọn con đường Trung đạo để tu tập, là không rơi vào cực đoan của lợi dưỡng, hay rơi vào cực đoan của khổ hạnh thái quá. Cực đoan của lợi dưỡng là nếp sống hưởng thụ vật chất xa hoa trong thời kỳ còn là Thái Tử sống trong hoàng cung. Còn cực đoan của khổ hạnh là trong thời gian Đức Phật tu khổ hạnh khốc liệt 6 năm ở trong rừng. Cả hai cực đoan này không đưa tới giác ngộ giải thoát, cho nên Đức Phật chủ trương Trung đạo, là giữ gìn sức khoẻ, ăn uống vừa đủ để có sức khoẻ mà tu tập. Đó là ý nghĩa Trung đạo trong bước đầu.

            Về sau Trung đạo có ý nghĩa là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không. "Có" tức là có mặt, có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Thường kiến". Còn "Không" là phủ nhận hoàn toàn không có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Đoạn kiến".

            Chủ trương "Thường kiến" thì cho rằng mọi vật hay con người, hay thế gian này là thường hằng bất diệt, tức là trong con người có cái Ngã trường cửu, còn gọi là linh hồn trường cửu. Còn chủ trương "Đoạn kiến" thì cho rằng thế gian này chấm dứt là hết,  con người chết là hết, là xong, không có luân hồi sinh tử, không có tương quan nhân quả, không có nghiệp báo.

            Đó là hai cái nhìn Đức Phật cho là sai lầm. Đức Phật chủ trương KHÔNG hay TÁNH KHÔNG, TÁNH HUYỄN là nó nằm trong cái nhìn Trung đạo. Ngài không phủ nhận hoàn toàn về sự hiện hữu của con người hay là không có hiện tượng thế gian ở trên cõi đời này. Ngài không nói con người  thường hằng hay là thế gian này thường hằng, mà Ngài nói rằng hiện tượng thế gian cũng như con người có mặt, nhưng sự có mặt đó thay đổi luôn luôn, do đó bản thể của hiện tượng thế gian và con người là trống không. Cho nên quan điểm về Tánh Không nằm trong Trung đạo không rơi vào hai cực đoan của triết thuyết thời bấy giờ.

            Huyễn cũng thế. Huyễn ở đây là ám chỉ con người hay hiện tượng thế gian có, vì với mắt thường chúng ta đều thấy, nhưng những cái có đó là tạm bợ, giả dối, có đó rồi mất đó, nó như mộng, như ảo, như giọt sương ban mai, như điện chớp rồi tắt, cho nên nói Huyễn Có chứ không Thực Có. Do đó Huyễn cũng là Trung đạo.

            Trở lại bản thể của con người là trống không vì do nhiều duyên, nhiều nhân mà thành, khi nhân duyên tan rã, nó phù hợp với những cái khác kết hợp lại thành con người khác, thành thử nó luôn luôn di chuyển, lưu động, luôn luôn chuyển hoá. Nhưng tại sao khi nhận ra con người là Vô ngã, là Vô thường, là trống không thì không còn đau khổ nữa? "Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Khi chúng ta nghĩ có cái ngã thật nên mới khổ. Trong bài kinh Tứ Diệu Đế, Đức Phật kể 13 cái khổ. Khổ thứ 13 là chấp thủ Ngũ uẩn là thật,  từ đó mới sinh ra 12 thứ khổ khác. Cái khổ thứ 13 bao gồm những cái khổ của cuộc đời. Con người khổ không ra ngoài 13 nguyên nhân đó.

            Chấp ngã là thật, là thường hằng cũng là lậu hoặc. Nguồn gốc khổ đau, luân hồi sanh tử là lậu hoặc. Chúng ta biết lậu hoặc có 4 nhóm: Vô minh lậu, dục lậu, hữu lậu, kiến lậu.  Bốn cái lậu này có liên quan đến ngã. Vì chấp ngã nên dục lậu gồm "tài, danh, sắc, thực, thuỳ" đua nhau phục vụ cho cái ngã.  Khi sống mà muốn sống mãi thì đó là hữu lậu. Chỉ cần có cái Ta thật thì nó bao gồm 4 lậu kia. Năm anh em Kiều Trần Như khi được nghe Đức Phật giảng bài kinh Vô Ngã Tướng sạch hết lậu hoặc vì không còn chấp ngã nữa nên đắc quả A-La-Hán.

            Tóm lại, nguyên do đau khổ là do chúng ta thấy thân tâm chúng ta có thật. Muốn nắm chặt những gì đang có và muốn sẽ có thêm những cái khác. Khi biết nguyên nhân khổ của con người, Đức Phật cho phương thuốc để trị. Phương thuốc để trị bệnh khổ là Bát Chánh Đạo. Đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Chánh Kiến. Đó là cái nhìn đúng. Nhưng mà bản thể của cái nhìn đúng cũng là trống không. Cái Ta thật sự là trống không, cái Ta là Huyễn có, cái Ta là giả danh. Có mà thay đổi không trường tồn, không có thật, bởi cái Ta chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; mà Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thay đổi luôn luôn từng phút từng giây không có gì cố định để gọi là cái Ta thường hằng. Nhận ra điều này và chấp nhận điều này thì đó là Chánh kiến hay Chánh trí. Hiểu rõ điều đó rồi thì còn cái gì để khổ nữa!

            Tóm lại, mọi vật hay mọi sự kiện trên đời, nói chung là hiện tượng thế gian đều trống không, cho nên những lời nói nặng nhẹ hay từ ái, những cử chỉ nhẹ nhàng, lịch sự hay thô bạo, bản thể của nó cũng trống không. Ý nghĩa của chủ đề KHÔNG là ở chỗ đó! Nhận ra rồi, thì không còn dính mắc vào những thăng trầm của cuộc đời. Cho nên trong đoạn thứ nhất của Bát Nhã Tâm Kinh nêu lên một phương thức tu tập hay một cái nhìn Chánh kiến. Đó là phải nhận ra TÁNH KHÔNG của Ngũ uẩn, cũng như tất cả hiện tượng thế gian đều trống không thì không còn cái gì đau khổ nữa!

            - Xá Lợi Tử: Âm từ chữ Sariputta. Sari là Xá Lợi. Putta là Phất, cũng có nghĩa là con, nên  chúng ta thấy trong kinh có lúc gọi ngài là Xá Lợi Tử, có khi gọi ngài là Xá Lợi Phất. Ngài là đệ tử lớn trong số 10 vị đệ tử của Đức Phật.

            - Sắc bất dị không, không bất dị sắc: Hiểu theo Khoa học, sắc là vật chất, chúng ta tưởng là nó cứng cỏi, vững bền, nhưng thực ra nó có là do nhiều nguyên tử kết hợp, chia chẻ ra... thì phần tử nhỏ nhất của vật chất là quark, mà các nhà Khoa học bây giờ nhìn thấy dưới kính hiển vi. Quark chỉ là cái khoảng trống không mà thôi! Hiểu theo giáo lý nhà Phật "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" có nghĩa là vật chất không khác với không, mà không cũng không khác với vật chất, vì bản thể của vật chất là trống không.

            - Sắc tức thị không, không tức thị sắc: Bằng trí tuệ chúng ta nhìn thấy vật chất này bản thể của nó trống không và trống không này chính là vật chất. Từ sự nhìn thấy này chúng ta có thể hiểu: "Thân con người bản thể trống không và sự trống không này chính là con người".

            Từ thế giới vật chất, chúng ta phải nhận ra bản thể của nó trống không, nhưng chính từ trạng thái trống không đó, nó mới kết hợp lại để trở thành thế giới vật chất "Không tức thị sắc". Ở mặt này, chúng ta biết KHÔNG nó có một năng lực. Đó là năng lực biến dịch hay là quy luật biến dịch, nó thay đổi luôn luôn. Quy luật này giải thích sự biến dịch chuyển hoá trong vũ trụ đồng thời giải thích con người từ đâu mà có, từ nhân từ duyên, vũ trụ cũng thế. Nó có mặt rồi biến đổi theo nhân duyên để trở thành cái khác theo nhân duyên khác. Như vậy dòng sống của con người hay vũ trụ không có nhân đầu tiên và quả cuối cùng. Dòng sống đó vô thuỷ vô chung.

            - Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị: Khi nói bản thể của sắc trống không, thì bản thể của bốn khối: Thọ, tưởng, hành, thức, cũng trống không.

            Do đó, kết luận bản thể của Ngũ uẩn tức 5 khối đều trống không. Nhưng không phải Ngũ uẩn hoàn toàn không có, nó có nhưng mà vì nó di động, biến dịch luôn nên gọi là Huyễn Có. 

            Hai câu đầu trong bài kinh nói về Tánh Không. Khi chúng ta nhận ra bản thể trống không của con người và vũ trụ thì chúng ta sẽ không còn dính mắc, nắm chặt nữa thì đó là Trí Tuệ Ba-La-Mật. Ở đây dùng chữ "chiếu kiến" không có nghĩa là suy gẫm, suy tư hay là quán chiếu, mà là cái thấy sáng tỏ do Trí tuệ đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời cái Tánh Không của con người và vũ trụ, vì đã thực hành thâm sâu Bát Nhã Ba-La-Mật nên không còn dùng lời nữa. Ngay đây, hành giả đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời, tức đã thể nhập vào KHÔNG rồi, nên nhận ra Ngũ uẩn là không thì tất cả những điều đau khổ, những chướng ngại ở trên đời thực ra bản thể của chúng cũng là không. Chỗ này, nếu thực hành Thiền bằng kỹ thuật "Không Nói" của dòng Thiền Tánh Không, thì hành giả đang ở trong trạng thái "Nhận Thức Biết Không Nói" tức là trong trạng thái Nhận Thức Biết Không Lời, kinh nghiệm "thân đau mà tâm không đau" nghĩa là đã vượt qua mọi khổ ách.

            - Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm: Phần ở trên bàn về bản thể, về cái tánh của hiện tượng thế gian. Bây giờ nói đến cái tướng. Tướng là những cái gì biểu lộ ra bên ngoài gọi là tướng. Câu "thị chư pháp không tướng" là thấy tất cả tướng bề ngoài của các pháp là trống không. Khi nói tới tướng là nói đến Chân Như. Chữ tướng là dấu hiệu bề ngoài, giác quan có thể nhận ra.

            Câu này chuyển qua khía cạnh khác của con người và vũ trụ, đó là nói đến cái tướng trống không, tức là nói đến Chân Như. Muốn nhận ra Chân Như phải nhận ra bằng Nhận thức không lời. Chỗ này là Atakkàvacara. Tạm dùng ngôn ngữ tương đối để diễn tả chỗ Atakkàvacara. Sau khi Đức Phật thành đạo không muốn đi giảng pháp là vì chỗ ngài chứng ngộ là chỗ không thể dùng lời để giảng giải. Chỗ đó là chỗ tự mình dụng công và nhận ra mà thôi. Khi Đức Phật quyết định đi giáo hoá, lúc đầu ngài tạm dùng lời để đi tới Tánh Không và Chân Như là chỗ không lời.

            Định nghĩa đầu tiên của Chân Như là "cái bề ngoài khách quan của hiện tượng thế gian". Bề ngoài là tướng. Khách quan là không có những chủ quan. Chủ quan là những cái mà người đời gán ghép lên cho nó, như tên tuổi, màu sắc, đẹp xấu v.v... gọi là tướng thế gian.  Lấy hết những cái chủ quan đó ra, còn lại "cái khách quan" là cái của chính nó, là tướng thật của nó. Nhưng mà tướng thật của nó là không có tướng gì hết, nên mới có thành ngữ "Thực Tướng Vô Tướng" để chỉ Chân Như, đó là cái "khách quan tánh tuyệt đối" của hiện tượng thế gian, là Chân Như.

            "Thị chư pháp không tướng" là nhìn thấy tất cả hiện tượng thế gian, tướng của nó là trống không, ý muốn nói "thật tướng của nó là vô tướng", trạng thái này là trạng thái Chân Như hay là trạng thái Thật tướng Vô tướng, tạm gọi là trạng thái Như vậy!

            Khi nào "có tướng" thì mới có như thế này, như thế khác, thay đổi luôn luôn, gọi là có tướng sanh có tướng diệt.  Còn "không tướng" trong câu "thị chư pháp không tướng" nghĩa là thật tướng của nó là KHÔNG. Không này là "trống không". Mà nói "cái tướng trống không" thì lại có nghĩa là "không có tướng", tức là "cái tướng của nó trống không". Khi nói đến tướng là nói Chân Như chứ không phải nói Tánh Không ở trên nữa! 

            Trong trạng thái Chân Như không có cái gì trong đó hết, nó khách quan, không tên tuổi, không dấu vết và nó yên lặng bất động, cho nên nó không có tướng sanh tướng diệt, nó cũng không có tướng dơ, tướng sạch. Nó cũng không có tăng lên cũng không có giảm đi.

            - Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;...... : Chúng ta nhìn thấy biết rằng trong cái chỗ trống không đó, tức là trạng thái Chân Như không có chứa đựng cái gì hết. Nó chỉ Như vậy và Như vậy thôi! Nó là trạng thái khách quan của hiện tượng thế gian, chứ nó không phải là hiện tượng thế gian, cho nên ở đây mới nói phủ định là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là giác quan không có trong đó cho nên không có nhãn giới, không có ý thức giới, không có vô minh cũng không có chấm dứt vô minh, không có lão tử cũng không có chấm dứt lão tử, không có cả Tứ Diệu Đế, Bát Chánh đạo, không có Trí cũng không có đắc... nghĩa là trong Chân Như  không có cái gì hết, nó chỉ Như vậy là Như vậy thôi!

            Còn như nói con người có thân có già có chết, là dùng lời ở trong quy ước tục đế. Khi ở trong Tâm Như, không còn dùng lời, không định danh đối tượng, thì không nói cái này già, cái kia chết. Già hay chết cũng có cái Chân Như của nó. Tâm bất động thấy như vậy, mình thoát khổ, mình sống thong dong trong cuộc đời, đạt được trạng thái Niết Bàn là trạng thái tâm vắng lặng tịch diệt, là trạng thái Tâm Như.

            Như vậy không có cả Tứ Diệu đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Tứ Diệu Đế là do Đức Phật bày ra làm phương tiện để hướng dẫn con người, đó là Tục đế Bát Nhã. Đức Phật tạm đứng trong thế gian giảng Tứ Diệu Đế, vì con người có cảm thọ, có khổ, phải tu tập để đi đến Chánh định là Chân đế Bát Nhã.

            - Vô Vô Minh diệc vô Vô Minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận: Là nói tới 12 nhân duyên. Vô minh là nhân thứ nhất, nhân cuối cùng là Lão tử. Nhưng đây là một vòng tròn khép kín nên cũng không nói mắt xích nào là đầu, mắt xích nào là cuối. Cả 12 nhân duyên này cũng nói theo cái nhìn tục đế, tức là có Vô Minh thật, nên khởi Hành thật, Hành thật nên khởi Thức thật, Thức thật mới có Danh Sắc v.v... Đó là cái nhìn tất cả đều thật là tại vì con người có cảm thọ qua giác quan nên thấy là thật. Đây là chỗ đứng của Tục đế Bát Nhã.

            Bây giờ trong Chân đế Bát Nhã, nhất là ở trong trạng thái Chân Như thì không có 12 nhân duyên, cho nên 12 nhân duyên cũng là pháp phương tiện, Đức Phật bày ra để dẫn dắt chúng sanh tu, chứ bản thể của mỗi mắt xích liên kết với nhau đều là trống không, đều là Huyễn Có và nó có cái Chân Như của nó. Như vậy cuối cùng, cũng không có trí, mà cũng không có đắc.

            - Vô khổ, tập, diệt, đạo: Cũng không có Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có là đặt trên quan điểm thế gian, đứng trên cái nhìn giống như cái nhìn của người thế gian, cho thấy pháp của  Đức Phật dạy không  xa rời thực tế. Ngài đứng trên chỗ đứng của người đời để mà giảng dạy, nên Phật pháp rất là thực tiễn không mông lung mơ hồ.

            Chân lý đầu tiên nói cuộc đời là biển khổ, đó là cái nhìn theo Tục đế Bát Nhã, là tại vì con người có cảm thọ thật, nên thấy mình khổ thật, cho nên ngài đồng ý với mọi người rằng là: "phải rồi có khổ" và ngài kể ra 13 cái khổ. Đây là cái nhìn Tục đế Bát Nhã có sức thuyết phục của Đức Phật, ngài không giảng dạy những gì xa xôi,  mà nói thẳng đến cuộc sống thiết thực của con người là Khổ. Có khổ vì có cảm thọ.

            Tới chân lý thứ hai là Tập đế, tìm hiểu nguyên nhân sâu xa vì đâu mà có tới 13 loại khổ? Đó là vì khát ái từ cái Ngã ý thức mà sinh ra, như vậy là nói có thật khát ái, có thật lậu hoặc. Đây cũng còn là cái nhìn của Tục đế Bát Nhã.

            Qua tới chân lý thứ ba của Tứ Diệu Đế mới nằm trong Chân Đế Bát Nhã. Bản thể của Khổ là trống không thì bây giờ mới tu tập Bát Chánh đạo để thoát khổ. Hai đế trên khổ là có thật, có thật tức thường hằng bất biến, có nghĩa là cứng chắc kiên cố. Qua đế thứ ba thì nỗi khổ nào cũng do nhân do duyên hợp hết. Khi nhận ra duyên hợp tức bản thể trống không thì thuộc về mặt Chân đế, Đức Phật đưa ra bài thuốc gồm 8 vị, đó là Bát chánh đạo tu tập để hết khổ.

            Trở lại bài Bát Nhã Tâm Kinh, hoàn toàn nói về Chân đế Bát Nhã không có nói Tục đế thì ngay cả khổ, tập, diệt, đạo cũng không có, bởi vì bản thể của nó trống không. Những nỗi khổ là do duyên sanh, do quy luật nhân quả, nó có trong cái nhìn Tục đế, nhưng trong cái nhìn giác ngộ thì nó không thật có mà là Huyễn Có vì nó là trống không. Cho nên cả 4 chân lý khổ, tập, diệt, đạo cũng không thật sự có trong cõi đời này, nó là phương tiện để dắt dẫn con người đi tới thoát khổ thôi! Vì thế ở trong trạng thái Chân Như, nó không có những pháp phương tiện này.

             - Vô trí diệc vô đắc: Trí là trí tuệ,  cũng không có đạt được cái gì. Nếu nói đạt được cái gì là còn nằm trong Tục đế. Bởi vì khi nói có cái Trí đạt, tức là chưa đạt, là vì còn Ta và đối tượng, còn năng sở, còn cái Ngã, thì làm gì có đạt. Trong kinh có ghi lời Đức Phật: "Nếu ai nói Như Lai đạt quả Vô Thượng Bồ Đề là phỉ báng Như Lai", ở chỗ này nếu có quả vị thật để mình chứng đạt thì có nghĩa là mình chưa chứng đạt, mà nếu nói không chứng đạt thì cũng là sai. Tại sao? Nói ra lời là rơi vào quy ước rồi! Mình nói có ông Phật thật là sai chắc rồi, mà mình phủ nhận không có ông Phật cũng sai. Cho nên Đức Phật nói Trung đạo, mà Trung đạo bây giờ chỉ Thầm Nhận Biết, là Nhận Thức Không Lời thôi, mở miệng nói ra lời là rơi vào quy ước, rơi vào Tục đế, rơi vào nhị nguyên liền. Phần này chỉ khai triển những sắc thái của Chân Như thôi.

            Trong kinh dùng chữ "bất" và chữ "vô", nó có nghĩa là phủ định. Tại sao lại phủ định? Nếu không nói thì không ai hiểu, mà hễ dùng lời là quy ước, cho nên phải dùng phủ định để dẫn dắt tới chỗ không có gì trong Chân Như.

            Thí dụ: Tâm Như là chỗ không lời, Atakkàvacara, nhưng nếu không nói ra ai biết mình chứng ngộ chỗ này? Làm sao người ta biết chỗ này phát huy Trí huệ, thành ra phải nói, mà lời thì nằm ở bên ngoài không có ở bên trong. Bài kinh này các vị Tổ dùng lời để giảng chỗ không lời. Chỗ nào không có gì hết thì dùng chữ "bất", dùng chữ "vô" nghĩa là phủ định. Như không tăng không giảm, không cấu không tịnh, không già, không chết v.v... tức là không có gì hết. Đó là phải tạm dùng lời, vì lời cho nên phải phủ định để trừ ra những phủ định đó, cái còn lại là Chân Như, là nó đó. Chỉ là phương tiện thôi, cho nên "lời này" cũng giống như "ngón tay" chỉ "mặt trăng" hay "mặt trời". Phương tiện là lời nói, chữ viết, kinh điển... không phải là nó. Nó ở đây là kho báu, là mặt trời trí huệ của mình, nó phát triển tới vô lượng vô biên. Vì nó không tên nên ai đặt tên gì thì là tên đó. Đức Phật gọi là Tathatà, là cái Như vậy. Chúng ta cũng tạm gọi Như vậy, Như thế!

            Nói Vô Trí là không có trí tuệ cũng không đúng, mà nói có cũng không đúng. Có trí tuệ thì mới gọi là kho báu, là viên ngọc như ý, tức là lúc đó hoàn toàn an vui không còn khổ nữa và mình có những phương tiện thiện xảo để giúp đời, nhưng mà khi nói Có là đã dính mắc, đã rơi vào cái nhìn của thế gian. Mà nói không thì cũng không đúng.

            Kinh nói "vô đắc vô trí" là không có đạt gì. Mà thực sự có đạt gì không? Hễ dùng phương tiện thì nói là có đạt, nhưng khi mình hoàn toàn không khởi niệm gì hết thì mình không vướng vô 2 cực đoan Có và Không, mà ở trong Trung đạo.

            - Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đoả y Bát Nhã Ba-La-Mật Đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn: Tâm có ngăn ngại là tâm còn có ranh giới vì còn cái Ngã, còn giới hạn hay là khi còn có Ý thức thì còn phân biệt còn ngăn ngại. Còn bây giờ tâm Bồ Tát hoàn toàn ở chỗ Như Như bất động nên không còn ngăn ngại chướng ngại gì hết. Đây là một người vẫn còn sống trong cuộc đời cũng gặp nhiều cảnh trái ngang không vừa ý, nhưng đối với người ở trong Tâm Như rồi thì tất cả đều thông suốt đều êm xuôi, không có gì ngăn ngại bước đường tu tập của họ. 

            Tâm không còn chướng ngại nên không còn sợ hãi. Đối với người đời khó có ai nói là mình  không sợ gì hết. Thực sự, chúng ta sợ đủ thứ, trong đó sợ chết là cái sợ kinh khủng nhất. Bây giờ tu tập rồi mình cũng bớt lo, bớt sợ, bằng cách phải tỉnh thức, phải có Trí tuệ hiểu tất cả bản thể đều trống không. Khi mình không tác ý, thì mình không nói đó là chết, đó là sanh, đó là già. Khi mình tác ý ra, mình gán cho cái tên, từ cái tên đó mình mới sợ.

            Bằng Trí tuệ, cái gì mình cũng thấy đó là quy luật khách quan, muốn hay không đều phải chịu, và khi mình hiểu bằng Trí tuệ thì mình không khổ, không sợ, thì đó là mình đã thoát ra khỏi quy luật sinh tử rồi. Khi không còn sợ hãi nữa thì "xa rời mộng tưởng", mình sợ là tại vì mình mộng tưởng, tưởng tượng thôi. Có nhiều khi nỗi sợ của mình không có thật mà mình cứ tưởng ra hay vẽ ra để mình sợ hãi. Nên khi tu tập có Trí huệ mình sẽ vượt qua cái sợ tức là Vô uý. Khi không tác ý, tưởng tượng vẽ vời hay tác ý về những hiện tượng thế gian, lúc đó không còn xử dụng tâm thế gian nữa mà mình đang ở chỗ Tâm Như rồi thì gọi là Niết Bàn.

            Cứu cánh là ở chỗ cuối cùng mình chứng nghiệm được trạng thái tâm vắng lặng, tịch diệt gọi là Niết Bàn, cho nên trạng thái Niết Bàn chính là trạng thái Tâm Như, Như Như bất động. Khi còn sống gọi là Hữu Dư Y Niết bàn. Khi ra đi không còn thân nữa thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn. Như vậy mình hiểu Niết Bàn không phải là nơi chốn nào xa xôi, nó là trạng thái Tâm Như của mình thôi.

            - Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-Bồ-Đề: A-nậu-đa-la Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề  phiên âm từ Anuttara-Sammà-Sambodhi. Có ý nghĩa là Vô Thượng Chánh đẳng giác (sự giác ngộ không ai hơn). Bodhi là Giác ngộ, là Bồ đề, tức là quả vị Phật, mà Đức Phật tự xưng mình là Như Lai (Tathàgata). Do danh xưng Tathàgata, chúng ta biết rằng, muốn đạt được quả vị toàn giác phải đi qua Tâm Như, phải kinh nghiệm Tâm Như, và từ đó các vị Tổ thuộc hệ Phát Triển chủ trương mười phương thế giới chư Phật, đồng thời các vị Phật đều có danh hiệu Như Lai. Qua câu này mình biết phần quan trọng của bài kinh là nói đến Chân Như.

            Tam thế chư Phật là Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều y theo Trí tuệ siêu vượt này đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

            - Cố tri Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư: Như vậy phải biết Trí tuệ kiện toàn này giống như mật ngôn vĩ đại nhất, sáng suốt nhất, cao thượng nhất, không có cái nào cao hơn. Nó trừ tất cả mọi thứ khổ trong đời, và nó là cái thực tại tối hậu không hư dối.

            Như vậy bài Bát Nhã Tâm Kinh muốn nói đến 2 chủ đề lớn là Không và Chân Như. Chủ đề Không đưa đến thoát khổ. Chủ đề Chân Như đưa tới Trí huệ kiện toàn. Đó là căn cứ nơi sự kiện lịch sử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã chứng ngộ cái Chân Như đó, Trí huệ phát sinh giải thích tất cả những bí ẩn thầm lặng của con người và vũ trụ.

            Còn đoạn cuối cùng với câu thần chú, thật ra cũng không phải là thần chú, đó chỉ là một câu tiếng Pàli bày tỏ niềm vui tán thán của người đã đạt được sự giác ngộ, đã tới được bến bờ bên kia: "Gate Gate paragate parasangate Bodhi svara" , chỉ vì câu này viết sau mấy chữ thần chú...  nên vô tình người ta tưởng nó huyền bí, chứ nó không có ý nghĩa huyền bí, Thầy Thiền Chủ dịch ra là: "Đã tới rồi, đã tới rồi, tới bờ bên kia, bờ Giác ngộ rồi!"

 

CỐT LÕI CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

            Chúng ta đã biết nhân vật Quán Tự Tại Bồ Tát là nhân vật huyền thoại. Bài kinh này sáng tác sau thời Đức Phật. Sau khi nghiên cứu tìm hiểu chi tiết từng chữ, từng câu, từng đoạn của bài kinh, chúng ta nắm được cốt lõi bài kinh mà chư Tổ muốn gửi gắm cho hàng hậu học. Còn cấu trúc của bài kinh, các Tổ thuộc hệ Phát Triển mượn danh xưng ngài Xá Lợi Phất để trao truyền. Nếu tính thời gian theo trong Sử ghi lại thì ngài Xá Lợi Phất đã viên tịch trước Đức Phật, mà kinh này thì xuất hiện sau thời Đức Phật. Chúng ta Thầm Nhận Biết tới đây thôi.  Chuyện kế tiếp của chúng ta là rút ra bài học chính của bài kinh này để tu tập mà thôi!

            Đọc kinh chúng ta thấy các vị Tổ đã trình bày ngay cái chỗ cuối cùng, ngay nơi đến của người tu tức là trong trạng thái Tâm Không và Tâm Như. Hai trạng thái cùng giống nhau ở chỗ Atakkàvacara, là chỗ không lời.

            Khi trình bày về Tánh Không, chúng ta nhận thấy văn kinh rất là ngắn gọn, hàm xúc, minh bạch, không mơ hồ. Các Tổ đã đứng trong chỗ đứng của Đức Phật để trình bày cái nhìn Phật Giáo, nói về con người, đó là nói bản thể của con người trống không. Và từ cái nhìn này, sẽ có cách đưa con người thoát ra khỏi mọi khổ đau ở trên đời.

            Mục tiêu giảng dạy bài này của chư Tổ nói lên được mục tiêu giảng dạy của Đức Phật khi ngài nói: "Tất cả nước trong đại dương có một vị mặn, đạo của Ta cũng có một vị thôi, đó là vị thoát khổ".  Trong cái nhìn này, Phật giáo không mơ hồ, viễn vông, mà giúp con người ngay khi còn sống chứ không hứa hẹn ở tương lai xa vời. Bài Bát Nhã Tâm Kinh này quả thật xứng đáng để chúng ta học hỏi vì đã nói đúng theo chân ý của Đức Phật là:

            - Đưa con người thoát khỏi khổ đau triền miên,  đó là cái nhìn của Tánh Không. Cái nhìn Không là cái nhìn Trung đạo của Phật giáo không rơi vào cực đoan Thường kiến và Đoạn kiến. Con người có thật nhưng bản thể trống không, nghĩa là Vô ngã phá tan xiềng xích của Chấp Ngã. Các vị Tổ khai triển Trí tuệ rốt ráo tới bờ bên kia là khai triển tới Chân Như. Chân Như cũng nằm trong Trung đạo, nó cũng tương tự như Không, như chỗ đứng của Huyễn. Đó là thế chân vạc, thế đứng vững chắc để phát huy Trí huệ kiện toàn, đó là Bát Nhã Ba-La-Mật.

            - Khi ở trong trạng thái Tâm Như nhìn ngắm hiện tượng thế gian thấy nó như thế, không diễn tả bằng lời, thì tâm bất động, cảnh bất động khách quan.

            - Chủ đề Không được trình bày trước với dụng ý đưa kết quả giúp thoát khổ. Sau đó mới trình bày Chân Như. Đây là phương tiện giúp con người phát huy Trí huệ kiện toàn, bằng chứng là Đức Phật đã thành đạo qua Chân Như.

            - Các chư Phật ba đời cũng qua Chân Như mà phát huy Trí huệ siêu vượt.

 

KẾT LUẬN

            Con đường tâm linh là một con đường dài thăm thẳm, đi từng bước, đòi hỏi nhiều điều kiện. Chúng ta còn ở "bờ bên này",  điều kiện đầu tiên là tỉnh ngộ để hướng cuộc đời đi vào ngã tâm linh. Tỉnh ngộ là sức mạnh quyết định mục tiêu mình sẽ đến, nhưng phải có quyết tâm để không chùn bước bỏ cuộc trên đường đi. Cả hai điều kiện này cũng chưa đủ, vì ngay như Đức Phật có ý chí sắt đá và tỉnh ngộ  nhưng vẫn bị hai lần thất bại. Cho nên điều kiện thứ ba cần thiết nhất chính là Pháp tu hay Pháp môn tu. Đã chọn Pháp tu rồi, nó dẫn mình đi đâu thì mình phải biết. Không phải đặt chân lên con đường đã chọn là bảo đảm mình đã đi đúng.

            Phải lấy bài học của Đức Phật mà rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Sau khi Đức Phật thành đạo, ngài nhận ra sự thành đạo của ngài là nhờ Pháp. Pháp đó là Chân Như. Ngài đã đảnh lễ và tôn Pháp là vị Thầy của ngài.

            Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã dặn dò đệ tử: "Sau khi ta diệt độ, các ông lấy Chánh Pháp làm Thầy". Đức Phật dạy rất nhiều Pháp, Pháp nào cũng đúng,  chúng ta  làm sao biết Pháp nào mà chọn? Ở đây Thầy Thiền Chủ giảng: Chánh Pháp là Chân Như.

            Hệ Phát Triển dùng ba chủ đề lớn để đi tới bờ bên kia là: Không, Chân Như và Huyễn

            Ở đây, Thầy Thiền Chủ chọn chủ đề Chân Như để hướng dẫn các thiền sinh. Khi thông suốt Chân Như sẽ hiểu rõ Không và Huyễn. Là thiền sinh, chúng ta phải có tâm tỉnh ngộ, có ý chí sắt đá để không thối chuyển. Làm sao có ý chí sắt đá? Đó là mình phải có Tánh Nguyên tắc của một thiền sinh. Nguyên tắc sẽ giúp cho chúng ta tiến đến mục tiêu đã chọn. Và điều quan trọng nhất là chọn Pháp tu đúng, thích hợp với căn cơ của mình.

            Phật và Tổ đã dạy: "Y Pháp bất y Nhân", không vì tình cảm chủ quan đối với một vị Thầy, mà phải chọn Pháp tu. Trên đường tu, phải học vừa giáo lý vừa thực hành, tức là phải tu Huệ và tu Định. Phải kinh nghiệm cái Biết Không Lời của Tánh Giác để tâm được tĩnh lặng, đồng thời phải thực hành trong 4 oai nghi để đi đến cuối cùng là kinh nghiệm Nhận Thức Biết Không Lời tức đạt được trạng thái Tâm Như.

            Để biết mình tu sai hay đúng? Đúng là trên đường tu nếu sức khoẻ yếu hay bệnh tâm thể thì sức khoẻ dần phục hồi. Tâm không còn dính mắc, phiền muộn, mà thanh thản, an vui, bao dung, tha thứ. Về Trí tuệ tâm linh thì nhận ra Tánh Giác kiến giải nhiều điều giúp mình hành xử đúng đắn, thành công, và hài hoà trong cuộc sống hằng ngày. Trí tuệ tâm linh sẽ phát huy từ thấp đến cao tuỳ theo sự dụng công của mình.

            Đó là những tiến trình tu tập đòi hỏi thời gian, hãy khép mình vào kỷ luật, kỷ luật của thiền sinh là an trú thường xuyên trong Tánh Giác, lúc nào cũng có cái Biết Không Lời qua nghe, thấy, xúc chạm. Trong kinh gọi là Chánh Niệm. Thực hành miên mật trong 4 oai nghi sẽ đưa đến Chánh Niệm Tỉnh Giác, và khi đó mình sẽ kinh nghiệm trạng thái Tâm Như.

            Tất cả mọi kỹ thuật hay chiêu thức giảng dạy của Thiền Tánh Không đều hướng tới sự yên lặng tâm ngôn. Khi làm chủ tâm ngôn (tầm, tứ) là mình làm chủ nghiệp của mình.

            Điều quan trọng sau cùng, chúng ta nhận ra trong Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh, các Tổ muốn gởi gắm lại bí quyết "qua bờ bên kia" tức đạt "Trí tuệ kiện toàn" bằng 2 chủ đề Tánh Không và Chân Như. Ngày xưa Đức Phật và Chư Tổ dạy Tu thiền là phải thực hành. Ngày nay Thầy Thiền Chủ cũng thế, Thầy đã hướng dẫn chúng ta từ lớp Căn Bản lên đến 4 lớp Bát Nhã về Lý Thuyết lẫn thực hành chủ đề Chân Như. Thầy đã truyền trao kiến thức Phật học và bí quyết thực hành, đặc biệt là "Kỹ Thuật Không Nói" để đến "bờ bên kia". Phương tiện đã bày trước mặt. Đến nơi hay không là do chúng ta. Chúng ta thường hay nói: "Chúng con rất mang ơn Phật, Tổ và Thầy đã dày công giảng dạy". Nhưng Phật, Tổ và Thầy không muốn chúng ta mang ơn, mà chỉ muốn chúng ta đạt tới chỗ các ngài chỉ bảo. Vì thế đền ơn Thầy Tổ không phải chỉ là lời hứa suông mà phải thực hành miên mật để sớm thoát khổ giác ngộ giải thoát.   

             

            THÍCH NỮ HẰNG NHƯ tổng hợp và ghi nhận

            Mùa An Cư tại Tổ Đình Tánh Không, CA / 27-10-2015

           

 

 

           

           

 

 

             

 

 

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Sáu 2018(Xem: 211)
Chủ đề của bài này là cái ta và sự liên hệ giữa cái ta và đau khổ. Hai điểm này thường không được xếp cùng với nhau, nhưng chúng tôi sẽ trình bày sự hình thành của cái ta, và song song là sự hình thành của khổ.
10 Tháng Năm 2018(Xem: 318)
Câu hỏi: “Con người từ đâu đến, chết đi về đâu?” có nhiều cách trả lời, nhưng hợp lý hay không hợp lý là tuỳ theo quan niệm và đức tin của mỗi người, chúng ta không bài bác.
22 Tháng Tư 2018(Xem: 961)
Bài Pháp Thoại của Thầy Không Chiếu tại Thiền Đường Tánh Không ngày 21 tháng 4, 2018
07 Tháng Tư 2018(Xem: 628)
Phước Huệ song tu là cùng thực hành hay ứng dụng xen kẽ hai thứ Phước và Huệ trong sinh hoạt hằng ngày của ta.
07 Tháng Ba 2018(Xem: 920)
Là người Phật tử, dù tu tập theo pháp môn nào chúng ta cũng thường được nghe chư tôn đức dặn dò: "Tu tập phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình, không nhìn ngó ra ngoài".
05 Tháng Ba 2018(Xem: 1076)
Đường lối hướng dẫn Thiền của Thiền Tánh Không thật ra đã có mặt trên đất Mỹ từ năm 1995; tới nay xem như là 23 năm rồi. Từ đầu tiên cho tới bây giờ, đường lối tu tập cũng vẫn là nhất quán tức là theo đúng những lời dạy của Đức Phật.
15 Tháng Hai 2018(Xem: 435)
Lão Không xin chúc mọi nhà ( nhà Thiền ) Lòng im tĩnh lặng, TATHÀ tâm như Ngày đêm cố bỏ cái “hư” Gieo hạt giống tốt, tượng từ mầm Không
13 Tháng Hai 2018(Xem: 1063)
Đề tài nói chuyện hôm nay là "Thân Tâm Thường An Lạc". Như đã giới thiệu ở phần dẫn nhập, đây là câu chúc thiện lành, chúng ta thường nghe các Phật tử chúc lẫn nhau khi Xuân về Tết đến.
06 Tháng Hai 2018(Xem: 1700)
Ngày thứ bảy 3 tháng 2 năm 2018, có buổi thuyết giảng với chủ đề: "Ta Từ Đâu Đến, Ta Đi Về Đâu" do Thầy Không Chiếu đến từ Thiện Viện Tánh Không dành cho đại chúng và Thiền sinh Nam Cali.
28 Tháng Giêng 2018(Xem: 2370)
Thuyết giảng Đại chúng tại Đạo tràng Nam Cali ngày 27 tháng 1 năm 2018.
08 Tháng Giêng 2018(Xem: 1222)
Theo Lý Nhân Quả của nhà Phật thì tất cả mọi gia đình dù giàu hay nghèo, tất cả mọi cá nhân dù đẹp hay xấu, khoẻ mạnh hay tật nguyền và tất cả những người may mắn hay những người kém may mắn đều bị xoay vần trong bánh xe Nhân Quả.
04 Tháng Giêng 2018(Xem: 2155)
Buổi Thuyết Giảng Đầu Năm Tại Thiền Đường Tánh Không thuộc Đạo tràng Nam Cali.
27 Tháng Mười Một 2017(Xem: 832)
Trong không khí tưng bừng của mùa lễ Tạ Ơn và trong cái ấm áp bất ngờ của thời tiết mùa thu năm nay, 2017, Lễ Tạ Ơn Thầy Thiền Chủ do Đạo tràng Nam California tổ chức ngày chủ nhật 26 tháng 11 tại Thiền Viện Tánh Không.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1634)
Các bài viết mới của Sư Cô Hằng Như trong năm 2017.
01 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1449)
Ký Sự Buổi Bế Giảng Lớp Trung Cấp 1 Bát Nhã Tại Tổ Đình.
13 Tháng Chín 2017(Xem: 1824)
Khóa Huấn Luyện Viên Thiền Định (HLVTĐ) Cấp 3 năm nay được khai mạc vào ngày 1 tháng 9 và bế giảng vào ngày 30 tháng 9 năm 2017.
06 Tháng Chín 2017(Xem: 1740)
Ni Sư giải thích con đường độc nhất chính là con đường của cái biết không lời từ Thầm nhận biết (Không Tầm không Tứ) cho đến cái Nhận thức biết như vậy của Tâm như.
18 Tháng Sáu 2017(Xem: 1774)
Theo Ni Sư Triệt Như thì chương trình Giáo Lý Phật học cho các thiền sinh khắp nơi từ 1995 tới đây là tạm đủ. Bây giờ nhu cầu của Thiền Sinh là nhập thất chuyên tu thiền Định. Mỗi lần nhập thất ít nhất là 10 ngày. Một năm phải nhập thất một hoặc hai lần để củng cố định lực.
30 Tháng Tư 2017(Xem: 2113)
Nói đến Phật Đản mọi người đều hiểu đó là ngày sinh của đức Phật Thích Ca, là ngày mà các chùa chiền, tu viện ở nhiều quốc gia trên thế giới đều long trọng tổ chức Lễ Phật Đản để kỷ niệm ngày ra đời của một vị Đại Giác Ngộ tại vườn Lâm-Tỳ-Ni.
23 Tháng Tư 2017(Xem: 2331)
Ếch rất giống với con người trong khả năng điều chỉnh với môi trường sống. Khi một con ếch được đặt trong một chảo nước lạnh và bắt đầu đun lên cho nóng. Khi nhiệt độ nước tăng, ếch có khả năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể cho phù hợp.
06 Tháng Tư 2017(Xem: 2695)
Kinh Duy Ma Cật thuộc hệ thống Phát Triển, không biết tác giả, có thể xuất hiện khoảng 100 năm trước công nguyên. Gốc tiếng Sanskrit, được nhiều vị dịch sang tiếng Hán rồi dịch qua tiếng Việt.
27 Tháng Ba 2017(Xem: 3907)
Tiết trời vào xuân luôn mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Như buổi sáng hôm nay, trong khuôn viên của Thiền viện vừa đi rảo bộ ngắm muôn hoa khoe sắc vừa thưởng thức bầu trời nắng ấm dịu dàng lan tỏa khắp không gian, tôi thấy mình hạnh phúc với tất cả những gì đang diễn ra.
27 Tháng Giêng 2017(Xem: 1812)
Mỗi cuối năm khi hoa mai, hoa đào bắt đầu nở, khi ngoài trời vài cơn gió hiu hiu lạnh nhẹ nhàng lướt qua trên cành cây ngọn trúc, thì chúng ta biết là mùa Xuân đang về.
05 Tháng Giêng 2017(Xem: 7413)
Đây là lần thứ 7 cũng là lần đầu tiên Ni Sư Triệt Như hướng dẫn thiền sinh viếng thăm Phật tích tại Ấn Độ và Nepal.
14 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 1409)
Tất cả các pháp trong vũ trụ vạn hữu đều vận hành theo quy luật Duyên sinh hay Duyên khởi. Nghĩa là các pháp sinh khởi theo Duyên, theo các điều kiện. Không có một pháp nào tồn tại độc lập. Chúng phải nương vào các yếu tố, điều kiện để phát sinh.
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 652)
Theo sử để lại thì Đức Phật Thích Ca là vị Phật có thật trong lịch sử văn hoá nhân loại. Sách có ghi lại cuộc đời của Ngài từ khi mới sanh ra và lớn lên. Ngày nay tại Ấn Độ và Nepal vẫn còn các di tích nơi Đức Phật sinh ra, nơi Ngài thành đạo, nơi Ngài chuyển bánh xe Pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như và nơi Ngài nhập Niết Bàn.
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 666)
Sinh hoạt cầu an hay cầu siêu là những sinh hoạt khá quen thuộc và phổ thông trong đời sống hằng ngày, nên chúng ta xem là bình thường, nhưng cũng có người thắc mắc là tại sao chúng ta phải cầu an?
09 Tháng Mười Hai 2017(Xem: 543)
Người sống tỉnh thức là người sống giữa cuộc đời nhiều mê lầm, huyễn hoặc... mà vẫn tỉnh táo không bị sa ngã
25 Tháng Mười Một 2017(Xem: 1081)
Tứ Diệu Đế là bài kinh đầu tiên Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài thành đạo dưới cội Bồ Đề. Đó là bài kinh giảng về sự khổ của con người, về nguyên nhân của khổ, về phương pháp tu tập để diệt tận khổ đau.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 801)
Sống trong thời đại văn minh, con người cần phải học hỏi để theo kịp trào lưu tiến bộ trong nhiều lãnh vực như Y học, Não học, Tâm lý học, Địa chấn học, Thiên văn học, Vũ trụ học v.v...
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 737)
Một sắc thái Tâm tạm đặt tên là Tâm Thế Gian còn gọi là Tâm Phàm Phu và một sắc Tâm thứ hai cao thượng hơn gọi là Tâm Bậc Thánh. Còn Tâm thứ ba là cái Tâm sâu sắc, hoàn hảo, trong sạch mà chúng ta thường nghe nhắc đến, đó là Tâm Phật.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 556)
Sống hạnh phúc là sống một cách vui vẻ thoải mái, mọi thứ luôn được như ý của mình.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 589)
Nghiệp là thuật ngữ được dịch ý từ tiếng Phạn là Karma, tiếng Pàli là Kamma. Nghiệp, nghĩa đen là làm một cái gì đó, tác động một cái gì đó.
16 Tháng Mười Một 2017(Xem: 834)
Trong Phật giáo cũng có giới luật do Đức Phật chế định. Nhưng những luật này không bắt buộc mọi người phải tuân theo mà nó có tính cách khuyến khích tự nguyện...
24 Tháng Mười Hai 2016(Xem: 2097)
Thiền sinh Mai Thanh Quí là thiền sinh gắn bó với Thiền Tánh Không vào những năm 2007 đến 2010, mất lúc 9:45 sáng ngày 16 tháng 12 năm 2016 tại tư gia - Huntington Beach, California, hưởng dương 56 tuổi.
05 Tháng Chín 2016(Xem: 3146)
Khóa 2 Huấn Luyện Viên Thiền Định bắt đầu từ ngày 3 tháng 9 đến 12 tháng 9 năm 2016 tại Tổ Đình Thiền Viện Tánh Không.
07 Tháng Tám 2016(Xem: 2970)
Khóa 1 Huấn Luyện Viên Thiền Định bắt đầu từ ngày 6 tháng 8 đến 15 tháng 8 năm 2016 tại Tổ Đình Thiền Viện Tánh Không.
07 Tháng Sáu 2016(Xem: 5496)
Hướng dẫn phương thức thực hành "7 Bước An Trú Trong Tâm Tathā" với kỹ thuật "Không Nói". Phương thức thực hành này gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 gồm 4 bước còn dùng lời và giai đoạn 2 gồm 3 bước hoàn toàn không lời.
02 Tháng Sáu 2016(Xem: 4947)
Sự tiến bộ trong việc thực hành Thiền căn cứ trên sự khám phá nội tâm và nhận ra chính mình. Tiến trình tu tập chính là tiến trình của cái biết: từ cái biết đi đến nhận thức cho đến khi trí tuệ tâm linh bật ra.
08 Tháng Tư 2016(Xem: 4911)
Ngày Truyền Thống Thiền Tánh Không mọi năm thường tổ chức vào chủ nhật tuần lễ sau Tết Âm Lịch. Nhưng đây là lần đầu tiên ngày Truyền Thống được quy định sẽ tổ chức vào ngày chủ nhật tuần lễ đầu tiên của tháng tư.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 4186)
Lạ thật rồi, không thể là chuyện đùa đâu, nhưng không hiểu chiếc đũa thần của nàng tiên nào lại gõ vào ước mơ của Hội Thiền Nam Cali đúng vào dịp Tết Bính Thân như thế ?... Thật là một món quà Tết vô giá cho mọi thiền sinh, cho toàn thể đạo tràng!...
22 Tháng Ba 2016(Xem: 4380)
Lễ Khánh thành Thiền Đường Tánh Không của Hội Thiền Tánh Không Nam Cali, thực hiện hôm Thứ Bảy 19-3-2016 từ 9am-10am đã hoàn mãn. Như thế, Hội Thiền Tánh Không đã có trú xứ thường trực, địa điểm lại ở ngay khu vực Little Saigon, tiện lợi cho Phật tử Quận Cam tới tu học theo các khóa hàng ngày hay hàng tuần.
19 Tháng Ba 2016(Xem: 6233)
Lần đầu tiên đạo tràng Thiền Tánh Không nam California có một thiền đường tọa lạc trong khu thị tứ đông đúc ở góc đường Brookhust và đại lộ Garden Grove, thành phố Garden Grove.
07 Tháng Ba 2016(Xem: 7290)
Thiền Định giúp cho Tâm con người trở về sự tĩnh lặng và trong sáng của chính nó. Hạnh phúc bắt đầu từ những điều giản dị nhất: chỉ cần ngồi thở và biết mình đang thở.
03 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 5281)
Bài viết :" Lời Tạ Ơn" của Thiền Sinh Uyễn Như đọc trong buổi Lễ Tạ Ơn tại HTTK Sacramento CA ngày 29/11/2015
01 Tháng Mười Hai 2015(Xem: 6481)
Dù trời nắng lấp lánh chiếu sáng khắp sân của Thiền viện nhưng âm ỉ trong không khí vẫn có cái lành lạnh rét mướt. Những hơi lạnh đan lùa vào mái tóc, len qua từng sợi chỉ áo, chạm vào người lạnh buốt. Lòng tôi chợt ấm lại khi nghĩ về một ngày lễ đặc biệt đã có từ 2 năm qua.
26 Tháng Mười Một 2015(Xem: 4785)
Chúc mừng lễ Thanksgiving Thân tâm an lạc, tròn tình Tánh Không
18 Tháng Mười Một 2015(Xem: 8456)
Nếu nắng sớm mai luôn biết cách làm vạn vật trở nên tươi mát và tràn đầy nhựa sống thì Thiền giúp cho Tâm con người trở về sự tĩnh lặng và trong sáng của chính nó.
04 Tháng Mười Một 2015(Xem: 6467)
Các bài Tổng Kết Khóa 1 Tâm Lý Học Phật Giáo, của Thầy Không Chiếu, được đăng trong Đặc San Thiền Tánh Không Số 3 và 4 năm 2001 và 2002.
03 Tháng Mười Một 2015(Xem: 13040)
Nắng đã tràn ngập sân Thiền viện. Lá của những cây tiêu no nê trong nắng sớm cũng bắt đầu đong đưa nhè nhẹ như để cám ơn bình minh. Hôm nay là ngày bế giảng lớp Trung cấp 4 Bát Nhã.
12 Tháng Mười 2015(Xem: 8478)
Ký Sự Lớp Tu Học Đặc Biệt "Não Bộ và Thiền". Tổ chức tại Tổ Đình từ ngày 3 đến 11 tháng 10 năm 2015.
28 Tháng Chín 2015(Xem: 9311)
Khóa BÁT NHÃ - Lớp Trung Cấp 4 tại Đạo Tràng Hoa Thịnh Đốn, USA từ 18 đến 26 tháng 7 năm 2015.
05 Tháng Chín 2015(Xem: 8387)
Ni Sư Triệt Như Giảng Về Bát Nhã Tâm Kinh.
16 Tháng Bảy 2015(Xem: 11928)
Tất cả những hiện tượng thế gian đều là danh sắc, thay đổi không ngừng. Chúng chỉ tồn tại trong từng sát na khó mà nhận biết.
20 Tháng Ba 2015(Xem: 10519)
Ngày Đại Lễ Kỷ Niệm 20 năm hoằng pháp của Thiền Tánh Không và Lễ Truyền Y cùng thiền bảng cho người kế thừa tông môn vào ngày 22 tháng 2 năm 2015 nhằm ngày mồng 04 Tết Ất Mùi.
27 Tháng Hai 2015(Xem: 9490)
Tôi được sống lại không khí xôn xao, ấm áp dưới mái Tổ Đình thân yêu khi các Anh Chị Thiền Sinh từ khắp năm châu quy tụ trở về Tổ Đình để tham dự khóa học đặc biệt như những đàn chim xa xứ chợt nhớ về tổ ấm.
16 Tháng Hai 2015(Xem: 9222)
Tôi thấy thật hạnh phúc vì đã được đóng góp một chút công sức cùng với các Huynh Tỷ cho Tổ Đình trong những ngày cận Tết.
20 Tháng Giêng 2015(Xem: 8265)
Hình ảnh của buổi lao tác tại Thiền Viện; chuẩn bị cho các khóa tu học và ngày lễ kỷ niệm 20 năm hoằng pháp.
15 Tháng Mười Hai 2014(Xem: 10947)
Xin gởi đến quý Bác và quý Anh Chị những sinh hoạt và hình ảnh ngày công quả tại Thiền Viện cùng những lời giảng của Thầy ngày Chủ Nhật 7 tháng 12 vừa qua.
25 Tháng Mười Một 2014(Xem: 11426)
Thật là một ngày vui trọn-vẹn, hoàn-toàn. Tôi ra về , tâm-hồn tràn ngập niềm vui với ý-nghĩ :" Từ nay "Tánh-Không " lại thêm một ngày truyền-thống dễ-thương nữa : “Ngày Tạ-ơn thầy"
24 Tháng Mười Một 2014(Xem: 8898)
Ngày Lễ Tạ Ơn Tại Thiền Viện Tánh Không Năm 2014
29 Tháng Mười 2014(Xem: 10028)
Bài viết về dự án "Gem in Perris" với nguyện ước xây dựng lại bếp và nhà ăn tại Thiền Viện Tánh Không.
14 Tháng Tám 2014(Xem: 8239)
Tường Trình Buổi Lễ Ra Mắt Sách Tại Nam California năm 2014
18 Tháng Bảy 2014(Xem: 13952)
Giới Thiệu 2 Quyển Sách Mới Của Thiền Sư Thích Thông Triệt Sẽ Ra Mắt Trong Tháng 8 Năm 2014.
19 Tháng Năm 2014(Xem: 10857)
Bài viết sau khi dự lễ cầu siêu 49 ngày tưởng niệm cho Chị Thuần Như, một Thiền sinh gắn bó với Hội Thiền Tánh Không ở San Jose từ hơn 7 năm qua.
24 Tháng Hai 2014(Xem: 13231)
Lễ Xuất Gia tại Thiền Viện Tánh Không
05 Tháng Hai 2014(Xem: 11005)
Bài Thuyết Trình Của Ban Điều Hành Trung Ương Thiền Tánh Không
26 Tháng Mười Một 2013(Xem: 13630)
Ký Sự về Lớp Trung Cấp 2 Bát Nhã tại Nam Cali trong tháng 11 năm 2013.
30 Tháng Tư 2013(Xem: 26292)
Tiễn Biệt Bác Tuệ Khánh Đào Khánh Thọ.
08 Tháng Tư 2013(Xem: 15929)
Bài Tổng Kết và Hình Ảnh của Lớp Thiền Căn Bản 94.
09 Tháng Ba 2013(Xem: 14482)
Tường Trình Về Các Lớp Học Đầu Xuân Quý Tỵ và Lễ Khánh Thọ tại Thiền Viện Tánh Không.
06 Tháng Ba 2013(Xem: 79293)
Bài đọc thêm số 1: KHÓA 1 ĐÀO TẠO HUẤN LUYỆN VIÊN CĂN BẢN VỀ KHÍ CÔNG: NHỮNG TRỢ DUYÊN THIẾT THỰC CỦA KHÍ CÔNG ĐỐI VỚI SỰ THỰC HÀNH THIỀN
31 Tháng Mười Hai 2012(Xem: 13938)
Tường Trình Ngày Lễ Khai Mạc Trung Tâm Thiền Tánh Không Texas.
16 Tháng Hai 2012(Xem: 22016)
Các Bài Đọc Thêm Năm 2011: Hệ Thần Kinh Tự Quản và Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền.
22 Tháng Giêng 2012(Xem: 17700)
Tường Trình Ngày Lễ Tân Niên & Chúc Tết Nhâm Thìn 2012.
04 Tháng Giêng 2012(Xem: 8752)
Bài Pháp đầu năm 2012: Đạo Phật và Khoa Học.
04 Tháng Mười Một 2011(Xem: 19282)
Ký Sự Về Các Lớp Tu Học tại Thiền Viện trong tháng 10 năm 2011.
08 Tháng Tám 2011(Xem: 18448)
Ký Sự Chuyến Du Hóa Sydney, tháng 4 năm 2011.
08 Tháng Tám 2011(Xem: 16693)
Ký Sự Chuyến Du Hóa Virginia, USA tháng 3 năm 2011.
01 Tháng Tám 2011(Xem: 16574)
Ký Sự Chuyến Du Hóa tại Đức, tháng 7 năm 2011.
01 Tháng Tám 2011(Xem: 17805)
Ký Sự Chuyến Du Hóa tại Houston. Tháng 6 năm 2011.
18 Tháng Bảy 2011(Xem: 22842)
Ngày 24 tháng 6- 2011, Thầy Thiền Chủ và tăng đoàn từ giả thành phố Houston bay qua Québec để dự Hội nghị Khoa Học về não bộ.
17 Tháng Bảy 2011(Xem: 16574)
Tháng 5- 2011, Thầy và tăng đoàn vừa hoàn thành các khóa tu học tại Pháp. Đạo tràng Pháp năm nay đã phát triển lớn mạnh hơn qua việc tổ chức nhiều khóa tu học.
20 Tháng Chín 2010(Xem: 18445)
Mai Thanh Tường Trình: Buổi Thuyết Trình và Ra Mắt Sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học" tại Nam Cali ngày 3 tháng 9, 2010 tại Seafood Place 2 _ thành phố Anaheim