HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

    Tìm Hiểu Ý Nghĩa BÁT NHÃ BA-LA-MẬT ĐA TÂM KINH

    Tuesday, October 27, 20157:23 AM(View: 104701)

    Bát Nhã 4

    Tìm Hiểu Ý Nghĩa

    BÁT NHÃ BA-LA-MẬT ĐA TÂM KINH

    ----------------------------------------------------------------------

    THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

               BatNhaTamKinh

    DẪN NHẬP

                Dựa trên bài giảng xúc tích của Thầy Thiền Chủ Thích Thông Triệt tại Tổ Đình Tánh Không, Nam California cho Tăng Ni trong mùa An Cư Kiết Đông (2015), và bài giảng của Ni Sư Triệt Như cho các thiền sinh tại đạo tràng Tánh Không Hoa Thịnh Đốn. Cả hai vị giảng cùng một đề tài. Hôm nay, người viết mạo muội tổng hợp và ghi nhận lại những ý chánh, nhắm làm quà đầu năm cho tất cả những ai thích tìm hiểu. Nếu bài viết có gì sai sót kính thỉnh Thầy Thiền Chủ hay Ni Sư Triệt Như hoan hỷ điều chỉnh giúp, để hàng học hậu chúng con được mở mang thêm phần nào kiến thức về Phật học. Kính đa tạ.    

     

    NGUỒN GỐC

                Vào thế kỷ thứ 7 ngài Trần Huyền Trang là một cao tăng đời nhà Đường, Trung Hoa, đã vượt biên giới sang Ấn Độ thỉnh kinh. Về sau, khi trở về Trung Hoa, ngài viết quyển "Tây Du Ký" ghi lại những chi tiết xảy ra trong suốt thời gian 12 năm chu du khắp Ấn Độ từ Bắc xuống Nam và qua tới Tích Lan, trong đó có sự kiện trên đường đi ngài đã trải qua nhiều gian nan khổ cực tưởng như đã mất mạng khi bị lạc vào sa mạc bão cát, may nhờ gặp một người áo trắng dạy bài Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiếng Ấn Độ. Ngài đã tụng đọc và thoát chết, sau cùng đến được Ấn Độ bình an. Qua sự kiện này, người ta đoán vị áo trắng đó là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

                Bài Bát Nhã Tâm Kinhbài kinh thuộc hệ Phát Triển, viết bằng tiếng Sanskrit là bài kinh quan trọng chủ yếu nên người ta gọi là trái tim (Tâm kinh), được dịch sang Hoa văn rồi lan truyền khắp các nước Đông Nam Á, tính đến nay đã trải qua gần 19 thế kỷ.

                Tìm hiểu tác giả bài kinh này thì không ai biết.

                Xem lại nguồn gốc lịch sử chúng ta thấy rằng hệ thống kinh Bát Nhã rất đồ sộ, hơn 600 quyển gồm nhiều bài thi kệ nhưng không đề tên tác giả. Người ta chỉ biết rằng hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật phát xuất từ miền Nam Ấn trước Công Nguyên.

                Trong lịch sử Phật giáo có một sự kiện có thể cho chúng ta một chút suy đoán về nguồn gốc của hệ Bát Nhã Ba-La-Mật.

                Khoảng 236 năm, sau khi Đức Phật nhập diệt, nước Ấn Độ dưới sự cai trị của vua A-Dục, là vị vua rất sùng mộ đạo Phật, đã hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo khác.

                Vào thời đó có một vị cao tăng là ngài Đại Thiên trụ trì tại một ngôi chùa lớn ở kinh đô rất giỏi Phật pháp. Một lần trong buổi thuyết pháp có đông đảo người tham dự, ngài Đại Thiên đã tuyên bố: "Những ai thuyết pháp giỏi đúng với chân ý Đức Phật thì người đó có quyền viết kinh!".  Lời công bố này được một số người trẻ tán thành, nhưng cũng có nhiều người phản đối. Rốt cuộc vấn đề này không được giải quyết ổn thoả, ngay cả vua A-Dục và Hoàng Hậu là những người quyền lực nhất nước, dù hết sức ủng hộ ngài Đại Thiên cũng bó tay, không thể giải quyết được vấn đề trọng đại này. Sau đó, ngài Đại Thiên cùng đệ tử xuống miền Nam Ấn giáo hoá. Đó là lý do tại sao hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật xuất phát từ miền Nam Ấn. Hệ thống kinh này trải qua nhiều thời đại, kéo dài mấy trăm năm, các vị Tổ đã lần lượt sáng tác các bộ kinh được xếp vào hệ thống kinh Bát Nhã nhưng không có bộ kinh nào đề tên tác giả.

                Nhìn chung hệ thống kinh Bát Nhã đề cao tư tưởng KHÔNG và CHÂN NHƯ. Các vị  Tổ lấy TÁNH KHÔNGCHÂN NHƯ làm nền tảng để tu tập, tiến đến thể nhập KHÔNG và thể nhập CHÂN NHƯ. Ngoài ra trong hệ thống kinh Bát Nhã cũng đề cao một chủ đề nữa là Huyễn. Tựu trung ba chủ đề CHÂN NHƯ, KHÔNG và HUYỄN xem như là 3 gốc độ của Trí Tuệ Bát Nhã nhìn về hiện tượng thế gian trong đó có con người.

                Thầy Thiền Chủ đã xem 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn như là thế chân vạc vững chắc để làm nền tảng cho Trí Tuệ Bát Nhã. Như vậy muốn khai mở Trí Tuệ tâm linh siêu vượt của mọi người, chúng ta cần thông suốt 3 chân lý đó. Thể nhập và sống phù hợp với 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn thì chúng ta sẽ hết khổ.

                Trong hệ thống kinh Bát Nhã, tác phẩm cuối cùng được dịch ra là "Bát Nhã Tâm Kinh" hay là "Bát Nhã Ba-La-Mật Đa Tâm Kinh". Đó là dịch theo âm Hán Việt. Bài này gồm 262 chữ, là bài kinh ngắn nhất trong hệ thống kinh Bát Nhã Ba-La-Mật.

     

    NỘI DUNG BÁT NHÃ TÂM KINH

                Bài Bát Nhã Tâm Kinh được nhiều vị tôn đức dịch ra tiếng Việt. Nhưng bài viết này, Thầy Thiền Chủ và Ni Sư Triệt Như giảng từ bản kinh phổ thông Hán Việt.

                - Maha: Đại, lớn, nói đến trí huệ rộng lớn sâu sắc.

                - Bát Nhã: Tiếng Sanskrit là Prajnà. Có tiếp đầu ngữ là Pra nghĩa là đầy đủ. Jnà là trí huệ. Nghĩa là trí huệ đầy đủ. Người Trung Hoa âm ra là Bát Nhã, nghĩa là trí huệ sâu sắc hơn trí thông thường. Trí huệ này chỉ có nơi người tu tập kinh nghiệm định sâu, và qua sự kích thích của phản xạ thụ động huệ tự phát, chứ không qua sự học hỏi thế gian cóp nhặt của người khác. Đây là trí huệ tâm linh, trí huệ siêu vượt, là tuệ giác, là Phật tánh hay là tiềm năng giác ngộ có sẵn trong mỗi người chúng ta.

                - Ba-La-Mật: Âm từ chữ Paramita, tức là "qua bờ bên kia". Người Trung Hoa dịch là "đáo bỉ ngạn" nghĩa là "đã tới bờ bên kia". Ba-La-Mật ra ngoài chân lý quy ước, nó thuộc chân lý tối hậu. Chúng ta hiểu một cách tổng quát đó là: Sự kiện toàn của Trí Tuệ, Trí Tuệ hoàn hảo, Trí Tuệ cao nhất, gọi là Bát Nhã Ba-La-Mật.

                 - Kinh: Lời dạy của Đức Phật thường gọi là Kinh. Kinh dạy chúng ta tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát. Lời Tổ chú thích về Kinh thường gọi là Luận. Sau này, các vị Tổ viết ra những bộ Luận vẫn ghi là Kinh. Ví dụ như: Ngài Thần Hội, đệ tử trẻ nhất của ngài Lục Tổ Huệ Năng ghi lại những lời dạy của Lục Tổ đề là "Kinh Pháp Bảo Đàn". Cũng như những bộ Kinh của hệ Phát Triển như: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang v.v... cũng đề là Kinh, nhưng thực ra chỉ là những bộ Luận thôi!

                - Tâm Kinh:  Hiểu theo hữu vi pháp, thì tâm đây là trái tim, trái tim giới hạn sự sống chết của con người, trái tim động là sống, không động là chết. Trái tim trong đạo Phật thường được thấy qua các từ ngữ như "mạng mạch" là sinh mạng của giáo pháp nhà Phật. Nói về chân đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim sống hoài của đạo Phật, có nghĩa là Trí Tuệ siêu việt. Nói về tục đế, Bát Nhã Tâm Kinh là trái tim của giáo pháp.

                Nghĩa chung, Bát Nhã Tâm Kinh là Kinh quan trọng nói về Trí Tuệ Bát Nhã.

                "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba-La-Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách"

                - Quán Tự Tại Bồ Tát: Danh hiệu Đức Quán Thế Âm (Avalokitésvara). Bồ Tát là âm của chữ Bodhisattva, có khi người ta đọc dài hơn là Bồ-đề-tát-đoả. Quán Thế Âm theo niềm tin là vị Bồ Tát đã tu tập Tánh Nghe, và ngài đã nghe tiếng sóng biển tức Hải Triều Âm, vào được định và sáng đạo. Đức Quán Âm sống với hạnh từ bi, nguyện đời đời độ chúng sanh không thành Phật. Đây là nhân vật hư cấu, nghĩa là trong sử liệu ngài không có thật như Đức Phật Thích Ca và các đệ tử của ngài. Truy nguồn gốc, ngài là nam thần trong đạo Bà-La-Môn. Khi lan truyền đến Trung Hoa, Việt Nam, ngài trở thành người nữ, là vị Bồ Tát có nhiều hoá thân trong niềm tin dân gian thuộc về tín ngưỡng tôn giáo.

                Trong Phật học Bồ Tát là danh xưng gọi những người tu tập, có mục tiêu muốn đạt tới quả vị Phật. Ở trong kinh Đức Phật cũng tự xưng mình là Bồ Tát khi ngài đang tu tập khổ hạnh.

                Về sau, danh xưng Bồ Tát đòi hỏi 2 giai đoạn: Tự giác-Giác tha,  hay Tự độ-Độ tha, nghĩa là chính mình phải giác ngộ sau đó phát tâm giúp đỡ người khác, cho nên con đường tu tậpgiáo hoá chúng sanh gọi là BồTát đạo.

                - Hành thâm: Thực hành ở trong định, sâu sắc trong Trí tuệ kiện toàn.

                - Bát Nhã Ba-La-Mật: Là Huệ tới bờ bên kia, nghĩa là ngài đã đi qua hết chặng đường tu tập, bây giờ đã tới mức cuối cùng, nghĩa là đã qua tới bờ giải thoát, và kết quả là ngài đạt Trí Tuệ siêu vượt, nhận ra bản thể của Ngũ uẩn là trống không. 

                - Giai không: Giai là tất cả. Giai không là tất cả đều trống không.

                 - Độ: Con đò đưa mình qua sông, cứu vớt, giúp đỡ...

                - Ách: Là cái gông buộc ngang đầu con bò, những đau khổ đè nặng lên mình gọi là khổ ách.

                - Nhất thiết: Tất cả

                - Chiếu kiến: Kiến là thấy. Chiếu kiến là cái thấy soi sáng thông hiểu vấn đề.  Cái thấy này không phải là thấy bằng mắt thường, mà thấy bằng trí tuệ, nhận thức rõ ràng Ngũ uẩn đều là trống không, tức là trong Nhận thức cô đọng, Bồ Tát nhận biết rõ ràng bản thể của năm nhóm này là trống không. Con người chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Mỗi nhóm thay đổi luôn luôn.

                Khi phân tích con người do Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức kết hợp mà thành. Mỗi khối đó không thường hằng, không có thực chất cố định nên gọi là Vô ngã. Trong bài kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật giảng Vô ngã, đưa ra ba đặc điểm của thế gianVô Thường, Khổ, Vô ngã gọi chung là Tam Pháp Ấn.

                Về sau các vị Tổ lập thêm Vô Thường, Khổ, Vô ngã, Không gọi là Tứ Pháp Ấn. "Không" trong Tứ Pháp Ấn dùng để khai triển về cái Ta, đó là: Không Ta, không cái của Ta, không tự ngã của Ta.

                Sau cùng các vị Tổ rút gọn lại chỉ còn một pháp ấn gọi là Nhất Pháp Ấn hay là Nhất Tướng Pháp Ấn là KHÔNG. "Không" này nói đến TÁNH KHÔNG, nói đến trống không của con ngườihiện tượng thế gian. "Không" này bao trùm khắp pháp giới.

                Từ bài kinh Vô Ngã Tướng khai triển bản thể con người là trống không.

                - Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách: Con người hay Ngũ uẩn gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc thuộc phần vật chất, nó bao gồm cơ thể và giác quan. Cơ thể con người gồm đất, nước, gió, lửa, tức tứ đại, nó hình thành nên cơ thể vật chất của con người. Do đó, cơ thể cũng gồm nhiều yếu tố kết hợp lại thành, mà đất, nước, gió, lửa này không phải là nguyên tố thường hằng bất biến. Đất cũng do nhiều yếu tố hợp lại thành đất. Nước, gió, lửa cũng vậy. Mỗi thứ hình thành là do nhiều điều kiện.

                Giác quan con người thì có 5 giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Ngoài ra con người còn có thêm một năng lực để tiếp xúc với hiện tượng thế gian, đó là Ý, nên gọi chung là lục căn.

                Ý không thuộc vật chất, nhưng Ý cũng hình thành nên vọng tâm của con người. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, thì có Xúc, tức là lục căn tiếp xúc với hiện tượng thế gian thì có Xúc.

                Tại sao "Ngũ uẩn giai không" ? Tại vì Ngũ uẩn tức  5 nhóm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức tất cả thay đổi luôn luôn tuỳ theo nhân, tuỳ theo duyên kết hợp nên nó, thành thử nó không có cái gì là cố định trong mỗi nhóm, không có gì thường hằng trong mỗi nhóm, cho nên bản thể của năm nhóm này là trống không. Đó là ý nghĩa của "Ngũ uẩn giai không".

                Khi kết luận "Ngũ uẩn giai không", không có nghĩa là phủ nhận không có Ngũ uẩn. Cái nhìn vạn vật trống không là cái nhìn của Trung đạo. Trung đạo tức là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không.

                Nhắc lại ý nghĩa Trung đạo của "Không", chúng ta phải hiểu nó không có nghĩa phủ định. Và chữ "Không" ở chỗ "Ngũ uẩn giai không" là chữ "Không" trong tiếng Hán Việt có nghĩa là "trống không" chứ không phải chữ "Không" trong ý nghĩa tiếng Việt là "không có".

                Ban đầu Đức Phật chọn con đường Trung đạo để tu tập, là không rơi vào cực đoan của lợi dưỡng, hay rơi vào cực đoan của khổ hạnh thái quá. Cực đoan của lợi dưỡngnếp sống hưởng thụ vật chất xa hoa trong thời kỳ còn là Thái Tử sống trong hoàng cung. Còn cực đoan của khổ hạnh là trong thời gian Đức Phật tu khổ hạnh khốc liệt 6 năm ở trong rừng. Cả hai cực đoan này không đưa tới giác ngộ giải thoát, cho nên Đức Phật chủ trương Trung đạo, là giữ gìn sức khoẻ, ăn uống vừa đủ để có sức khoẻ mà tu tập. Đó là ý nghĩa Trung đạo trong bước đầu.

                Về sau Trung đạoý nghĩa là không rơi vào hai cực đoan: Có và Không. "Có" tức là có mặt, có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Thường kiến". Còn "Không" là phủ nhận hoàn toàn không có hiện hữu, thuật ngữ gọi là "Đoạn kiến".

                Chủ trương "Thường kiến" thì cho rằng mọi vật hay con người, hay thế gian này là thường hằng bất diệt, tức là trong con người có cái Ngã trường cửu, còn gọi là linh hồn trường cửu. Còn chủ trương "Đoạn kiến" thì cho rằng thế gian này chấm dứt là hết,  con người chết là hết, là xong, không có luân hồi sinh tử, không có tương quan nhân quả, không có nghiệp báo.

                Đó là hai cái nhìn Đức Phật cho là sai lầm. Đức Phật chủ trương KHÔNG hay TÁNH KHÔNG, TÁNH HUYỄN là nó nằm trong cái nhìn Trung đạo. Ngài không phủ nhận hoàn toàn về sự hiện hữu của con người hay là không có hiện tượng thế gian ở trên cõi đời này. Ngài không nói con người  thường hằng hay là thế gian này thường hằng, mà Ngài nói rằng hiện tượng thế gian cũng như con người có mặt, nhưng sự có mặt đó thay đổi luôn luôn, do đó bản thể của hiện tượng thế giancon người là trống không. Cho nên quan điểm về Tánh Không nằm trong Trung đạo không rơi vào hai cực đoan của triết thuyết thời bấy giờ.

                Huyễn cũng thế. Huyễn ở đây là ám chỉ con người hay hiện tượng thế gian có, vì với mắt thường chúng ta đều thấy, nhưng những cái có đó là tạm bợ, giả dối, có đó rồi mất đó, nó như mộng, như ảo, như giọt sương ban mai, như điện chớp rồi tắt, cho nên nói Huyễn Có chứ không Thực Có. Do đó Huyễn cũng là Trung đạo.

                Trở lại bản thể của con người là trống không vì do nhiều duyên, nhiều nhân mà thành, khi nhân duyên tan rã, nó phù hợp với những cái khác kết hợp lại thành con người khác, thành thử nó luôn luôn di chuyển, lưu động, luôn luôn chuyển hoá. Nhưng tại sao khi nhận ra con ngườiVô ngã, là Vô thường, là trống không thì không còn đau khổ nữa? "Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Khi chúng ta nghĩ có cái ngã thật nên mới khổ. Trong bài kinh Tứ Diệu Đế, Đức Phật kể 13 cái khổ. Khổ thứ 13 là chấp thủ Ngũ uẩn là thật,  từ đó mới sinh ra 12 thứ khổ khác. Cái khổ thứ 13 bao gồm những cái khổ của cuộc đời. Con người khổ không ra ngoài 13 nguyên nhân đó.

                Chấp ngã là thật, là thường hằng cũng là lậu hoặc. Nguồn gốc khổ đau, luân hồi sanh tửlậu hoặc. Chúng ta biết lậu hoặc có 4 nhóm: Vô minh lậu, dục lậu, hữu lậu, kiến lậu.  Bốn cái lậu này có liên quan đến ngã. Vì chấp ngã nên dục lậu gồm "tài, danh, sắc, thực, thuỳ" đua nhau phục vụ cho cái ngã.  Khi sống mà muốn sống mãi thì đó là hữu lậu. Chỉ cần có cái Ta thật thì nó bao gồm 4 lậu kia. Năm anh em Kiều Trần Như khi được nghe Đức Phật giảng bài kinh Vô Ngã Tướng sạch hết lậu hoặc vì không còn chấp ngã nữa nên đắc quả A-La-Hán.

                Tóm lại, nguyên do đau khổ là do chúng ta thấy thân tâm chúng ta có thật. Muốn nắm chặt những gì đang có và muốn sẽ có thêm những cái khác. Khi biết nguyên nhân khổ của con người, Đức Phật cho phương thuốc để trị. Phương thuốc để trị bệnh khổBát Chánh Đạo. Đầu tiên của Bát Chánh ĐạoChánh Kiến. Đó là cái nhìn đúng. Nhưng mà bản thể của cái nhìn đúng cũng là trống không. Cái Ta thật sự là trống không, cái Ta là Huyễn có, cái Ta là giả danh. Có mà thay đổi không trường tồn, không có thật, bởi cái Ta chỉ là sự kết hợp của Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; mà Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thay đổi luôn luôn từng phút từng giây không có gì cố định để gọi là cái Ta thường hằng. Nhận ra điều này và chấp nhận điều này thì đó là Chánh kiến hay Chánh trí. Hiểu rõ điều đó rồi thì còn cái gì để khổ nữa!

                Tóm lại, mọi vật hay mọi sự kiện trên đời, nói chung là hiện tượng thế gian đều trống không, cho nên những lời nói nặng nhẹ hay từ ái, những cử chỉ nhẹ nhàng, lịch sự hay thô bạo, bản thể của nó cũng trống không. Ý nghĩa của chủ đề KHÔNG là ở chỗ đó! Nhận ra rồi, thì không còn dính mắc vào những thăng trầm của cuộc đời. Cho nên trong đoạn thứ nhất của Bát Nhã Tâm Kinh nêu lên một phương thức tu tập hay một cái nhìn Chánh kiến. Đó là phải nhận ra TÁNH KHÔNG của Ngũ uẩn, cũng như tất cả hiện tượng thế gian đều trống không thì không còn cái gì đau khổ nữa!

                - Xá Lợi Tử: Âm từ chữ Sariputta. Sari là Xá Lợi. Putta là Phất, cũng có nghĩa là con, nên  chúng ta thấy trong kinh có lúc gọi ngài là Xá Lợi Tử, có khi gọi ngài là Xá Lợi Phất. Ngài là đệ tử lớn trong số 10 vị đệ tử của Đức Phật.

                - Sắc bất dị không, không bất dị sắc: Hiểu theo Khoa học, sắc là vật chất, chúng ta tưởng là nó cứng cỏi, vững bền, nhưng thực ra nó có là do nhiều nguyên tử kết hợp, chia chẻ ra... thì phần tử nhỏ nhất của vật chất là quark, mà các nhà Khoa học bây giờ nhìn thấy dưới kính hiển vi. Quark chỉ là cái khoảng trống không mà thôi! Hiểu theo giáo lý nhà Phật "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" có nghĩa là vật chất không khác với không, mà không cũng không khác với vật chất, vì bản thể của vật chất là trống không.

                - Sắc tức thị không, không tức thị sắc: Bằng trí tuệ chúng ta nhìn thấy vật chất này bản thể của nó trống không và trống không này chính là vật chất. Từ sự nhìn thấy này chúng ta có thể hiểu: "Thân con người bản thể trống không và sự trống không này chính là con người".

                Từ thế giới vật chất, chúng ta phải nhận ra bản thể của nó trống không, nhưng chính từ trạng thái trống không đó, nó mới kết hợp lại để trở thành thế giới vật chất "Không tức thị sắc". Ở mặt này, chúng ta biết KHÔNG nó có một năng lực. Đó là năng lực biến dịch hay là quy luật biến dịch, nó thay đổi luôn luôn. Quy luật này giải thích sự biến dịch chuyển hoá trong vũ trụ đồng thời giải thích con người từ đâu mà có, từ nhân từ duyên, vũ trụ cũng thế. Nó có mặt rồi biến đổi theo nhân duyên để trở thành cái khác theo nhân duyên khác. Như vậy dòng sống của con người hay vũ trụ không có nhân đầu tiên và quả cuối cùng. Dòng sống đó vô thuỷ vô chung.

                - Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị: Khi nói bản thể của sắc trống không, thì bản thể của bốn khối: Thọ, tưởng, hành, thức, cũng trống không.

                Do đó, kết luận bản thể của Ngũ uẩn tức 5 khối đều trống không. Nhưng không phải Ngũ uẩn hoàn toàn không có, nó có nhưng mà vì nó di động, biến dịch luôn nên gọi là Huyễn Có. 

                Hai câu đầu trong bài kinh nói về Tánh Không. Khi chúng ta nhận ra bản thể trống không của con ngườivũ trụ thì chúng ta sẽ không còn dính mắc, nắm chặt nữa thì đó là Trí Tuệ Ba-La-Mật. Ở đây dùng chữ "chiếu kiến" không có nghĩa là suy gẫm, suy tư hay là quán chiếu, mà là cái thấy sáng tỏ do Trí tuệ đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời cái Tánh Không của con ngườivũ trụ, vì đã thực hành thâm sâu Bát Nhã Ba-La-Mật nên không còn dùng lời nữa. Ngay đây, hành giả đã nhận ra bằng Nhận Thức Không Lời, tức đã thể nhập vào KHÔNG rồi, nên nhận ra Ngũ uẩn là không thì tất cả những điều đau khổ, những chướng ngại ở trên đời thực ra bản thể của chúng cũng là không. Chỗ này, nếu thực hành Thiền bằng kỹ thuật "Không Nói" của dòng Thiền Tánh Không, thì hành giả đang ở trong trạng thái "Nhận Thức Biết Không Nói" tức là trong trạng thái Nhận Thức Biết Không Lời, kinh nghiệm "thân đau mà tâm không đau" nghĩa là đã vượt qua mọi khổ ách.

                - Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm: Phần ở trên bàn về bản thể, về cái tánh của hiện tượng thế gian. Bây giờ nói đến cái tướng. Tướng là những cái gì biểu lộ ra bên ngoài gọi là tướng. Câu "thị chư pháp không tướng" là thấy tất cả tướng bề ngoài của các pháp là trống không. Khi nói tới tướng là nói đến Chân Như. Chữ tướng là dấu hiệu bề ngoài, giác quan có thể nhận ra.

                Câu này chuyển qua khía cạnh khác của con ngườivũ trụ, đó là nói đến cái tướng trống không, tức là nói đến Chân Như. Muốn nhận ra Chân Như phải nhận ra bằng Nhận thức không lời. Chỗ này là Atakkàvacara. Tạm dùng ngôn ngữ tương đối để diễn tả chỗ Atakkàvacara. Sau khi Đức Phật thành đạo không muốn đi giảng pháp là vì chỗ ngài chứng ngộ là chỗ không thể dùng lời để giảng giải. Chỗ đó là chỗ tự mình dụng côngnhận ra mà thôi. Khi Đức Phật quyết định đi giáo hoá, lúc đầu ngài tạm dùng lời để đi tới Tánh KhôngChân Như là chỗ không lời.

                Định nghĩa đầu tiên của Chân Như"cái bề ngoài khách quan của hiện tượng thế gian". Bề ngoài là tướng. Khách quan là không có những chủ quan. Chủ quan là những cái mà người đời gán ghép lên cho nó, như tên tuổi, màu sắc, đẹp xấu v.v... gọi là tướng thế gian.  Lấy hết những cái chủ quan đó ra, còn lại "cái khách quan" là cái của chính nó, là tướng thật của nó. Nhưng mà tướng thật của nó là không có tướng gì hết, nên mới có thành ngữ "Thực Tướng Vô Tướng" để chỉ Chân Như, đó là cái "khách quan tánh tuyệt đối" của hiện tượng thế gian, là Chân Như.

                "Thị chư pháp không tướng" là nhìn thấy tất cả hiện tượng thế gian, tướng của nó là trống không, ý muốn nói "thật tướng của nó là vô tướng", trạng thái này là trạng thái Chân Như hay là trạng thái Thật tướng Vô tướng, tạm gọi là trạng thái Như vậy!

                Khi nào "có tướng" thì mới có như thế này, như thế khác, thay đổi luôn luôn, gọi là có tướng sanh có tướng diệt.  Còn "không tướng" trong câu "thị chư pháp không tướng" nghĩa là thật tướng của nó là KHÔNG. Không này là "trống không". Mà nói "cái tướng trống không" thì lại có nghĩa là "không có tướng", tức là "cái tướng của nó trống không". Khi nói đến tướng là nói Chân Như chứ không phải nói Tánh Không ở trên nữa! 

                Trong trạng thái Chân Như không có cái gì trong đó hết, nó khách quan, không tên tuổi, không dấu vết và nó yên lặng bất động, cho nên nó không có tướng sanh tướng diệt, nó cũng không có tướng dơ, tướng sạch. Nó cũng không có tăng lên cũng không có giảm đi.

                - Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp;...... : Chúng ta nhìn thấy biết rằng trong cái chỗ trống không đó, tức là trạng thái Chân Như không có chứa đựng cái gì hết. Nó chỉ Như vậy và Như vậy thôi! Nó là trạng thái khách quan của hiện tượng thế gian, chứ nó không phải là hiện tượng thế gian, cho nên ở đây mới nói phủ định là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là giác quan không có trong đó cho nên không có nhãn giới, không có ý thức giới, không có vô minh cũng không có chấm dứt vô minh, không có lão tử cũng không có chấm dứt lão tử, không có cả Tứ Diệu Đế, Bát Chánh đạo, không có Trí cũng không có đắc... nghĩa là trong Chân Như  không có cái gì hết, nó chỉ Như vậy là Như vậy thôi!

                Còn như nói con người có thân có già có chết, là dùng lời ở trong quy ước tục đế. Khi ở trong Tâm Như, không còn dùng lời, không định danh đối tượng, thì không nói cái này già, cái kia chết. Già hay chết cũng có cái Chân Như của nó. Tâm bất động thấy như vậy, mình thoát khổ, mình sống thong dong trong cuộc đời, đạt được trạng thái Niết Bàntrạng thái tâm vắng lặng tịch diệt, là trạng thái Tâm Như.

                Như vậy không có cả Tứ Diệu đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Tứ Diệu Đế là do Đức Phật bày ra làm phương tiện để hướng dẫn con người, đó là Tục đế Bát Nhã. Đức Phật tạm đứng trong thế gian giảng Tứ Diệu Đế, vì con ngườicảm thọ, có khổ, phải tu tập để đi đến Chánh địnhChân đế Bát Nhã.

                - Vô Vô Minh diệc vô Vô Minh tận, nãi chílão tử diệc vô lão tử tận: Là nói tới 12 nhân duyên. Vô minhnhân thứ nhất, nhân cuối cùngLão tử. Nhưng đây là một vòng tròn khép kín nên cũng không nói mắt xích nào là đầu, mắt xích nào là cuối. Cả 12 nhân duyên này cũng nói theo cái nhìn tục đế, tức là có Vô Minh thật, nên khởi Hành thật, Hành thật nên khởi Thức thật, Thức thật mới có Danh Sắc v.v... Đó là cái nhìn tất cả đều thật là tại vì con ngườicảm thọ qua giác quan nên thấy là thật. Đây là chỗ đứng của Tục đế Bát Nhã.

                Bây giờ trong Chân đế Bát Nhã, nhất là ở trong trạng thái Chân Như thì không có 12 nhân duyên, cho nên 12 nhân duyên cũng là pháp phương tiện, Đức Phật bày ra để dẫn dắt chúng sanh tu, chứ bản thể của mỗi mắt xích liên kết với nhau đều là trống không, đều là Huyễn Có và nó có cái Chân Như của nó. Như vậy cuối cùng, cũng không có trí, mà cũng không có đắc.

                - Vô khổ, tập, diệt, đạo: Cũng không có Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có là đặt trên quan điểm thế gian, đứng trên cái nhìn giống như cái nhìn của người thế gian, cho thấy pháp của  Đức Phật dạy không  xa rời thực tế. Ngài đứng trên chỗ đứng của người đời để mà giảng dạy, nên Phật pháp rất là thực tiễn không mông lung mơ hồ.

                Chân lý đầu tiên nói cuộc đời là biển khổ, đó là cái nhìn theo Tục đế Bát Nhã, là tại vì con ngườicảm thọ thật, nên thấy mình khổ thật, cho nên ngài đồng ý với mọi người rằng là: "phải rồi có khổ" và ngài kể ra 13 cái khổ. Đây là cái nhìn Tục đế Bát Nhã có sức thuyết phục của Đức Phật, ngài không giảng dạy những gì xa xôi,  mà nói thẳng đến cuộc sống thiết thực của con người là Khổ. Có khổ vì có cảm thọ.

                Tới chân lý thứ hai là Tập đế, tìm hiểu nguyên nhân sâu xa vì đâu mà có tới 13 loại khổ? Đó là vì khát ái từ cái Ngã ý thức mà sinh ra, như vậy là nói có thật khát ái, có thật lậu hoặc. Đây cũng còn là cái nhìn của Tục đế Bát Nhã.

                Qua tới chân lý thứ ba của Tứ Diệu Đế mới nằm trong Chân Đế Bát Nhã. Bản thể của Khổ là trống không thì bây giờ mới tu tập Bát Chánh đạo để thoát khổ. Hai đế trên khổ là có thật, có thật tức thường hằng bất biến, có nghĩa là cứng chắc kiên cố. Qua đế thứ ba thì nỗi khổ nào cũng do nhân do duyên hợp hết. Khi nhận ra duyên hợp tức bản thể trống không thì thuộc về mặt Chân đế, Đức Phật đưa ra bài thuốc gồm 8 vị, đó là Bát chánh đạo tu tập để hết khổ.

                Trở lại bài Bát Nhã Tâm Kinh, hoàn toàn nói về Chân đế Bát Nhã không có nói Tục đế thì ngay cả khổ, tập, diệt, đạo cũng không có, bởi vì bản thể của nó trống không. Những nỗi khổ là do duyên sanh, do quy luật nhân quả, nó có trong cái nhìn Tục đế, nhưng trong cái nhìn giác ngộ thì nó không thật có mà là Huyễn Có vì nó là trống không. Cho nên cả 4 chân lý khổ, tập, diệt, đạo cũng không thật sự có trong cõi đời này, nó là phương tiện để dắt dẫn con người đi tới thoát khổ thôi! Vì thế ở trong trạng thái Chân Như, nó không có những pháp phương tiện này.

                 - Vô trí diệc vô đắc: Trí là trí tuệ,  cũng không có đạt được cái gì. Nếu nói đạt được cái gì là còn nằm trong Tục đế. Bởi vì khi nói có cái Trí đạt, tức là chưa đạt, là vì còn Ta và đối tượng, còn năng sở, còn cái Ngã, thì làm gì có đạt. Trong kinh có ghi lời Đức Phật: "Nếu ai nói Như Lai đạt quả Vô Thượng Bồ Đềphỉ báng Như Lai", ở chỗ này nếu có quả vị thật để mình chứng đạt thì có nghĩa là mình chưa chứng đạt, mà nếu nói không chứng đạt thì cũng là sai. Tại sao? Nói ra lời là rơi vào quy ước rồi! Mình nói có ông Phật thật là sai chắc rồi, mà mình phủ nhận không có ông Phật cũng sai. Cho nên Đức Phật nói Trung đạo, mà Trung đạo bây giờ chỉ Thầm Nhận Biết, là Nhận Thức Không Lời thôi, mở miệng nói ra lời là rơi vào quy ước, rơi vào Tục đế, rơi vào nhị nguyên liền. Phần này chỉ khai triển những sắc thái của Chân Như thôi.

                Trong kinh dùng chữ "bất" và chữ "vô", nó có nghĩa là phủ định. Tại sao lại phủ định? Nếu không nói thì không ai hiểu, mà hễ dùng lời là quy ước, cho nên phải dùng phủ định để dẫn dắt tới chỗ không có gì trong Chân Như.

                Thí dụ: Tâm Như là chỗ không lời, Atakkàvacara, nhưng nếu không nói ra ai biết mình chứng ngộ chỗ này? Làm sao người ta biết chỗ này phát huy Trí huệ, thành ra phải nói, mà lời thì nằm ở bên ngoài không có ở bên trong. Bài kinh này các vị Tổ dùng lời để giảng chỗ không lời. Chỗ nào không có gì hết thì dùng chữ "bất", dùng chữ "vô" nghĩa là phủ định. Như không tăng không giảm, không cấu không tịnh, không già, không chết v.v... tức là không có gì hết. Đó là phải tạm dùng lời, vì lời cho nên phải phủ định để trừ ra những phủ định đó, cái còn lại là Chân Như, là nó đó. Chỉ là phương tiện thôi, cho nên "lời này" cũng giống như "ngón tay" chỉ "mặt trăng" hay "mặt trời". Phương tiệnlời nói, chữ viết, kinh điển... không phải là nó. Nó ở đây là kho báu, là mặt trời trí huệ của mình, nó phát triển tới vô lượng vô biên. Vì nó không tên nên ai đặt tên gì thì là tên đó. Đức Phật gọi là Tathatà, là cái Như vậy. Chúng ta cũng tạm gọi Như vậy, Như thế!

                Nói Vô Trí là không có trí tuệ cũng không đúng, mà nói có cũng không đúng. Có trí tuệ thì mới gọi là kho báu, là viên ngọc như ý, tức là lúc đó hoàn toàn an vui không còn khổ nữa và mình có những phương tiện thiện xảo để giúp đời, nhưng mà khi nói Có là đã dính mắc, đã rơi vào cái nhìn của thế gian. Mà nói không thì cũng không đúng.

                Kinh nói "vô đắc vô trí" là không có đạt gì. Mà thực sự có đạt gì không? Hễ dùng phương tiện thì nói là có đạt, nhưng khi mình hoàn toàn không khởi niệm gì hết thì mình không vướng vô 2 cực đoan Có và Không, mà ở trong Trung đạo.

                - Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát-đoả y Bát Nhã Ba-La-Mật Đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn: Tâm có ngăn ngại là tâm còn có ranh giới vì còn cái Ngã, còn giới hạn hay là khi còn có Ý thức thì còn phân biệt còn ngăn ngại. Còn bây giờ tâm Bồ Tát hoàn toàn ở chỗ Như Như bất động nên không còn ngăn ngại chướng ngại gì hết. Đây là một người vẫn còn sống trong cuộc đời cũng gặp nhiều cảnh trái ngang không vừa ý, nhưng đối với người ở trong Tâm Như rồi thì tất cả đều thông suốt đều êm xuôi, không có gì ngăn ngại bước đường tu tập của họ. 

                Tâm không còn chướng ngại nên không còn sợ hãi. Đối với người đời khó có ai nói là mình  không sợ gì hết. Thực sự, chúng ta sợ đủ thứ, trong đó sợ chết là cái sợ kinh khủng nhất. Bây giờ tu tập rồi mình cũng bớt lo, bớt sợ, bằng cách phải tỉnh thức, phải có Trí tuệ hiểu tất cả bản thể đều trống không. Khi mình không tác ý, thì mình không nói đó là chết, đó là sanh, đó là già. Khi mình tác ý ra, mình gán cho cái tên, từ cái tên đó mình mới sợ.

                Bằng Trí tuệ, cái gì mình cũng thấy đó là quy luật khách quan, muốn hay không đều phải chịu, và khi mình hiểu bằng Trí tuệ thì mình không khổ, không sợ, thì đó là mình đã thoát ra khỏi quy luật sinh tử rồi. Khi không còn sợ hãi nữa thì "xa rời mộng tưởng", mình sợ là tại vì mình mộng tưởng, tưởng tượng thôi. Có nhiều khi nỗi sợ của mình không có thật mà mình cứ tưởng ra hay vẽ ra để mình sợ hãi. Nên khi tu tậpTrí huệ mình sẽ vượt qua cái sợ tức là Vô uý. Khi không tác ý, tưởng tượng vẽ vời hay tác ý về những hiện tượng thế gian, lúc đó không còn xử dụng tâm thế gian nữa mà mình đang ở chỗ Tâm Như rồi thì gọi là Niết Bàn.

                Cứu cánh là ở chỗ cuối cùng mình chứng nghiệm được trạng thái tâm vắng lặng, tịch diệt gọi là Niết Bàn, cho nên trạng thái Niết Bàn chính là trạng thái Tâm Như, Như Như bất động. Khi còn sống gọi là Hữu Dư Y Niết bàn. Khi ra đi không còn thân nữa thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn. Như vậy mình hiểu Niết Bàn không phải là nơi chốn nào xa xôi, nó là trạng thái Tâm Như của mình thôi.

                - Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-Bồ-Đề: A-nậu-đa-la Tam-Miệu Tam-Bồ-Đề  phiên âm từ Anuttara-Sammà-Sambodhi. Có ý nghĩaVô Thượng Chánh đẳng giác (sự giác ngộ không ai hơn). Bodhi là Giác ngộ, là Bồ đề, tức là quả vị Phật, mà Đức Phật tự xưng mình là Như Lai (Tathàgata). Do danh xưng Tathàgata, chúng ta biết rằng, muốn đạt được quả vị toàn giác phải đi qua Tâm Như, phải kinh nghiệm Tâm Như, và từ đó các vị Tổ thuộc hệ Phát Triển chủ trương mười phương thế giới chư Phật, đồng thời các vị Phật đều có danh hiệu Như Lai. Qua câu này mình biết phần quan trọng của bài kinh là nói đến Chân Như.

                Tam thế chư Phật là Phật đời quá khứ, hiện tạivị lai đều y theo Trí tuệ siêu vượt này đạt được quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.

                - Cố tri Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư: Như vậy phải biết Trí tuệ kiện toàn này giống như mật ngôn vĩ đại nhất, sáng suốt nhất, cao thượng nhất, không có cái nào cao hơn. Nó trừ tất cả mọi thứ khổ trong đời, và nó là cái thực tại tối hậu không hư dối.

                Như vậy bài Bát Nhã Tâm Kinh muốn nói đến 2 chủ đề lớn là Không và Chân Như. Chủ đề Không đưa đến thoát khổ. Chủ đề Chân Như đưa tới Trí huệ kiện toàn. Đó là căn cứ nơi sự kiện lịch sử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã chứng ngộ cái Chân Như đó, Trí huệ phát sinh giải thích tất cả những bí ẩn thầm lặng của con ngườivũ trụ.

                Còn đoạn cuối cùng với câu thần chú, thật ra cũng không phải là thần chú, đó chỉ là một câu tiếng Pàli bày tỏ niềm vui tán thán của người đã đạt được sự giác ngộ, đã tới được bến bờ bên kia: "GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SVAHA" , chỉ vì câu này viết sau mấy chữ thần chú...  nên vô tình người ta tưởng nó huyền bí, chứ nó không có ý nghĩa huyền bí, Thầy Thiền Chủ dịch ra là: "Đã tới rồi, đã tới rồi, tới bờ bên kia, bờ Giác ngộ rồi!"

     

    CỐT LÕI CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH

                Chúng ta đã biết nhân vật Quán Tự Tại Bồ Tát là nhân vật huyền thoại. Bài kinh này sáng tác sau thời Đức Phật. Sau khi nghiên cứu tìm hiểu chi tiết từng chữ, từng câu, từng đoạn của bài kinh, chúng ta nắm được cốt lõi bài kinh mà chư Tổ muốn gửi gắm cho hàng hậu học. Còn cấu trúc của bài kinh, các Tổ thuộc hệ Phát Triển mượn danh xưng ngài Xá Lợi Phất để trao truyền. Nếu tính thời gian theo trong Sử ghi lại thì ngài Xá Lợi Phất đã viên tịch trước Đức Phật, mà kinh này thì xuất hiện sau thời Đức Phật. Chúng ta Thầm Nhận Biết tới đây thôi.  Chuyện kế tiếp của chúng ta là rút ra bài học chính của bài kinh này để tu tập mà thôi!

                Đọc kinh chúng ta thấy các vị Tổ đã trình bày ngay cái chỗ cuối cùng, ngay nơi đến của người tu tức là trong trạng thái Tâm Không và Tâm Như. Hai trạng thái cùng giống nhau ở chỗ Atakkàvacara, là chỗ không lời.

                Khi trình bày về Tánh Không, chúng ta nhận thấy văn kinh rất là ngắn gọn, hàm xúc, minh bạch, không mơ hồ. Các Tổ đã đứng trong chỗ đứng của Đức Phật để trình bày cái nhìn Phật Giáo, nói về con người, đó là nói bản thể của con người trống không. Và từ cái nhìn này, sẽ có cách đưa con người thoát ra khỏi mọi khổ đau ở trên đời.

                Mục tiêu giảng dạy bài này của chư Tổ nói lên được mục tiêu giảng dạy của Đức Phật khi ngài nói: "Tất cả nước trong đại dương có một vị mặn, đạo của Ta cũng có một vị thôi, đó là vị thoát khổ".  Trong cái nhìn này, Phật giáo không mơ hồ, viễn vông, mà giúp con người ngay khi còn sống chứ không hứa hẹn ở tương lai xa vời. Bài Bát Nhã Tâm Kinh này quả thật xứng đáng để chúng ta học hỏi vì đã nói đúng theo chân ý của Đức Phật là:

                - Đưa con người thoát khỏi khổ đau triền miên,  đó là cái nhìn của Tánh Không. Cái nhìn Không là cái nhìn Trung đạo của Phật giáo không rơi vào cực đoan Thường kiếnĐoạn kiến. Con người có thật nhưng bản thể trống không, nghĩa là Vô ngã phá tan xiềng xích của Chấp Ngã. Các vị Tổ khai triển Trí tuệ rốt ráo tới bờ bên kia là khai triển tới Chân Như. Chân Như cũng nằm trong Trung đạo, nó cũng tương tự như Không, như chỗ đứng của Huyễn. Đó là thế chân vạc, thế đứng vững chắc để phát huy Trí huệ kiện toàn, đó là Bát Nhã Ba-La-Mật.

                - Khi ở trong trạng thái Tâm Như nhìn ngắm hiện tượng thế gian thấy nó như thế, không diễn tả bằng lời, thì tâm bất động, cảnh bất động khách quan.

                - Chủ đề Không được trình bày trước với dụng ý đưa kết quả giúp thoát khổ. Sau đó mới trình bày Chân Như. Đây là phương tiện giúp con người phát huy Trí huệ kiện toàn, bằng chứng là Đức Phật đã thành đạo qua Chân Như.

                - Các chư Phật ba đời cũng qua Chân Như mà phát huy Trí huệ siêu vượt.

     

    KẾT LUẬN

                Con đường tâm linh là một con đường dài thăm thẳm, đi từng bước, đòi hỏi nhiều điều kiện. Chúng ta còn ở "bờ bên này",  điều kiện đầu tiên là tỉnh ngộ để hướng cuộc đời đi vào ngã tâm linh. Tỉnh ngộsức mạnh quyết định mục tiêu mình sẽ đến, nhưng phải có quyết tâm để không chùn bước bỏ cuộc trên đường đi. Cả hai điều kiện này cũng chưa đủ, vì ngay như Đức Phậtý chí sắt đátỉnh ngộ  nhưng vẫn bị hai lần thất bại. Cho nên điều kiện thứ ba cần thiết nhất chính là Pháp tu hay Pháp môn tu. Đã chọn Pháp tu rồi, nó dẫn mình đi đâu thì mình phải biết. Không phải đặt chân lên con đường đã chọn là bảo đảm mình đã đi đúng.

                Phải lấy bài học của Đức Phật mà rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Sau khi Đức Phật thành đạo, ngài nhận ra sự thành đạo của ngài là nhờ Pháp. Pháp đó là Chân Như. Ngài đã đảnh lễ và tôn Pháp là vị Thầy của ngài.

                Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã dặn dò đệ tử: "Sau khi ta diệt độ, các ông lấy Chánh Pháp làm Thầy". Đức Phật dạy rất nhiều Pháp, Pháp nào cũng đúng,  chúng ta  làm sao biết Pháp nào mà chọn? Ở đây Thầy Thiền Chủ giảng: Chánh PhápChân Như.

                Hệ Phát Triển dùng ba chủ đề lớn để đi tới bờ bên kia là: Không, Chân Như và Huyễn

                Ở đây, Thầy Thiền Chủ chọn chủ đề Chân Như để hướng dẫn các thiền sinh. Khi thông suốt Chân Như sẽ hiểu rõ Không và Huyễn. Là thiền sinh, chúng ta phải có tâm tỉnh ngộ, có ý chí sắt đá để không thối chuyển. Làm sao có ý chí sắt đá? Đó là mình phải có Tánh Nguyên tắc của một thiền sinh. Nguyên tắc sẽ giúp cho chúng ta tiến đến mục tiêu đã chọn. Và điều quan trọng nhất là chọn Pháp tu đúng, thích hợp với căn cơ của mình.

                Phật và Tổ đã dạy: "Y Pháp bất y Nhân", không vì tình cảm chủ quan đối với một vị Thầy, mà phải chọn Pháp tu. Trên đường tu, phải học vừa giáo lý vừa thực hành, tức là phải tu Huệ và tu Định. Phải kinh nghiệm cái Biết Không Lời của Tánh Giác để tâm được tĩnh lặng, đồng thời phải thực hành trong 4 oai nghi để đi đến cuối cùngkinh nghiệm Nhận Thức Biết Không Lời tức đạt được trạng thái Tâm Như.

                Để biết mình tu sai hay đúng? Đúng là trên đường tu nếu sức khoẻ yếu hay bệnh tâm thể thì sức khoẻ dần phục hồi. Tâm không còn dính mắc, phiền muộn, mà thanh thản, an vui, bao dung, tha thứ. Về Trí tuệ tâm linh thì nhận ra Tánh Giác kiến giải nhiều điều giúp mình hành xử đúng đắn, thành công, và hài hoà trong cuộc sống hằng ngày. Trí tuệ tâm linh sẽ phát huy từ thấp đến cao tuỳ theo sự dụng công của mình.

                Đó là những tiến trình tu tập đòi hỏi thời gian, hãy khép mình vào kỷ luật, kỷ luật của thiền sinhan trú thường xuyên trong Tánh Giác, lúc nào cũng có cái Biết Không Lời qua nghe, thấy, xúc chạm. Trong kinh gọi là Chánh Niệm. Thực hành miên mật trong 4 oai nghi sẽ đưa đến Chánh Niệm Tỉnh Giác, và khi đó mình sẽ kinh nghiệm trạng thái Tâm Như.

                Tất cả mọi kỹ thuật hay chiêu thức giảng dạy của Thiền Tánh Không đều hướng tới sự yên lặng tâm ngôn. Khi làm chủ tâm ngôn (tầm, tứ) là mình làm chủ nghiệp của mình.

                Điều quan trọng sau cùng, chúng ta nhận ra trong Bát Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh, các Tổ muốn gởi gắm lại bí quyết "qua bờ bên kia" tức đạt "Trí tuệ kiện toàn" bằng 2 chủ đề Tánh KhôngChân Như. Ngày xưa Đức Phật và Chư Tổ dạy Tu thiền là phải thực hành. Ngày nay Thầy Thiền Chủ cũng thế, Thầy đã hướng dẫn chúng ta từ lớp Căn Bản lên đến 4 lớp Bát Nhã về Lý Thuyết lẫn thực hành chủ đề Chân Như. Thầy đã truyền trao kiến thức Phật họcbí quyết thực hành, đặc biệt"Kỹ Thuật Không Nói" để đến "bờ bên kia". Phương tiện đã bày trước mặt. Đến nơi hay không là do chúng ta. Chúng ta thường hay nói: "Chúng con rất mang ơn Phật, Tổ và Thầy đã dày công giảng dạy". Nhưng Phật, Tổ và Thầy không muốn chúng ta mang ơn, mà chỉ muốn chúng ta đạt tới chỗ các ngài chỉ bảo. Vì thế đền ơn Thầy Tổ không phải chỉ là lời hứa suông mà phải thực hành miên mật để sớm thoát khổ giác ngộ giải thoát.   

                 

                THÍCH NỮ HẰNG NHƯ tổng hợp và ghi nhận

                Mùa An Cư tại Tổ Đình Tánh Không, CA / 27-10-2015

               

     

     

               

               

     

     

                 

     

     

     

      

    Reader's Comment
    Thursday, July 23, 20203:50 AM
    Guest
    A Di Đà Phật ! Nhờ có bài bình giàng này , con mới hiểu Kinh Bát Nhã, nếu không có bài bình này thì con mù tịt chỉ biết đọc mà thôi , cùng giống biết ăn nhưng không hấp thu chất dinh dưởng vào cơ thể, cũng nhờ công nghệ iternet mới truy cập được , người xưa đi gia đình phật tử phần nhiều chỉ đọc thuộc lòng , không ai hiểu , chỉ có mấy khóa huấn luyện đại cương nhưng không kỷ lưởng
    Saturday, January 4, 20206:21 AM
    Guest
    Ngủ uẩn...được ta cho là vô thường, duyên sinh...đều là giáo môn thanh văn, duyên giác...nếu cho là mộng huyển...cũng là giáo môn đại thừa...3 lộ trình nầy khởi quán khác nhau...mặc dù cùng điểm đến.
    Nếu vậy khi "đối cảnh vô tâm" thì ngủ uản không cần nội quán...mà cũng tự đến giai không?
    Saturday, January 4, 20206:01 AM
    Guest
    Xử lý ngủ uẩn ....đến giai không bằng nội quán duyên sinh...là hạ thấp tâm kinh xuống 1 bậc(xem kinh Na Tiên)
    Xử lý ngủ uẩn.....đến giai không bằng nội quán đại thừa" nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyển bào ảnh...(theo kinh Kim Cang)
    Vậy nên theo kinh nào?
    Tuesday, October 22, 20193:04 AM
    Guest
    Bài viết sâu sắc, rõ ràng, cu thể, rất dễ hiểu. Con kính cảm ơn sư cô. Kính chúc sư cô sk, an lành.
    Tuesday, October 1, 20196:08 PM
    Guest
    Con thấy rất hay và rất ý nghĩa..con sẽ cố gắng học tập và làm theo.. cảm ơn sư thầy.. Nam mô a Di Đà Phật.
    Tuesday, October 1, 20196:02 PM
    Guest
    Hay. Nam mô
    Tuesday, October 1, 20196:02 PM
    Guest
    Hay. Nam mô
    Monday, May 13, 201912:34 PM
    Guest
    Cảm ơn Thích Nữ Như Hằng đã giải nghĩa Bát Nhã Tâm Kinh ....
    Friday, May 3, 20195:07 AM
    Guest
    Xin cảm ơn tác giả đã dịch và hiểu rộng về bài kinh này tôi đã đọc kỹ và cũng thực sự không hiểu nhiều cũng không giác ngộ được có lẽ trí tuệ của tui thật sự có vấn đề...nhưng cũng thành thật cảm ơn tác giả rất nhiều vì tui đã đọc được bài kinh mà tác giả đã dịch rất hay nam mô a di đà phật
    Friday, May 25, 20185:41 PM
    Guest
    TÔI CHƯA ĐỦ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẠO PHẬT, SONG ĐƯỢC SỰ CẢM NHẬN VỀ TÂM LINH THÌ CÓ THỂ NÓI:TÂM LINH LÀ CÓ THẬT-VÀ LÀ SỰ THẬT MẶC DÙ KHÔNG THỂ CHỨNG MINH MỘT CÁCH CỤ THỂ BẰNG NHỮNG CHỨNG LÝ NHƯ MỘT SỐ NGÀNH KHOA HỌC KHÁC.ĐIỀU ĐƯƠNG NHIÊN LÀ (KHOA HỌC)MỚI CHỈ LÀM CHỦ,MỚI CHỈ LÝ GIẢI ĐƯỢC MỘT PHẦN RẤT GIỚI HẠN MỌI HIỆN TƯỢNG TRONG VŨ TRỤ BAO LA NÀY.CỨ BIẾT RẰNG:(PHẬT PHÁP TẠI THẾ GIAN-PHẬT TẠI TÂM...)PHÚC CHO NHỮNG AI TIN VÀO PHẬT PHÁP ĐÓ LÀ SỰ BÌNH AN TRONG TÂM,SỰ SÁNG SUỐT TRÍ HUỆ!NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
    Send comment
    Off
    Telex
    VNI
    Your Name
    Your email address
    Wednesday, November 25, 2020(View: 246)
    Làm sao tới bờ? Đó là “bí kiếp” của cô: “thả nổi” trên biển đời.
    Tuesday, November 24, 2020(View: 191)
    Mong sao, dù cho "Trường An náo loạn", mình còn xuôi ngược trong dòng náo loạn hoài, nhưng Đức Phật đã cho mấy cái mái chèo “Giới- Quán- Định- Huệ”, mình sẽ có ngày bơi về tới "Nước con an ổn".
    Friday, November 20, 2020(View: 85)
    "Cửa không": cửa không cửa, Đường vào, chẳng lối đi, Tìm cửa nào thấy gì, Tâm không: bặt suy nghĩ.
    Wednesday, November 18, 2020(View: 627)
    Năm nay, cô sẽ trồng hoa, thật nhiều loại hoa trong vườn Tổ Đình của mình. Mùa xuân sẽ có hoa xuân, đào trắng, đào hồng, mùa hạ sẽ có hoa phượng vỹ, trúc đào, có trái ngọt, mùa thu sẽ có lá vàng, trời xanh, mây trắng, ...
    Wednesday, November 18, 2020(View: 234)
    Trong thời gian qua có đôi lần, thiền sinh yêu cầu chúng tôi giải thích cụm từ “Tam Tự Quy Y Là Gì? ”. Nay thuận duyên chúng tôi gửi đến các bạn bài viết về đề tài quy y nầy. Muốn hiểu ý nghĩa của “Tam Tự Quy Y ” trước hết chúng ta cần biết rõ “Tam Quy Y ” là gì?
    Thursday, November 12, 2020(View: 158)
    Kẻ hạ căn thì lắm lời chơn, ngụy, Cứ biện phân theo quán tính tư duy: Thích suy nghĩ mà đòi làm người vô sự, Thích lang thang mà nói mình không trụ xứ
    Wednesday, November 11, 2020(View: 673)
    Bài nầy cô muốn nhắc nhở chúng ta, phải thấy vấn đề sinh tử của mình như “lửa cháy ngang mày”, mau mau tinh tấn hơn nữa. Đừng có chọn con đường: “còn sống mà như đã chết”.
    Wednesday, November 11, 2020(View: 422)
    “Trong mơ xin mớ vài câu,- Dế kêu chí cách rồng gầm sợi tơ....- Dế kêu mà tưởng rồng gầm? - Người nghe biết dế, không nghe biết rồng.
    Friday, November 6, 2020(View: 182)
    Trong chánh niệm, ta hằng biết, không ngôn ngữ, Chẳng tư duy mà biết rất rõ ràng.
    Wednesday, November 4, 2020(View: 774)
    Cuộc đời kỳ diệu như vậy, thiên nhiên tươi đẹp như vậy, muôn trùng màu sắc, biến hóa huyễn ảo. Vậy mà cả đời rồi không nhận ra. Sống giữa ban ngày, mà không nhìn thấy gì. Bây giờ cuối đời mới biết mình đã sống “một đời mộng du”.
    Wednesday, November 4, 2020(View: 232)
    Trong giấc ngủ bình an, Đại đức không còn nhớ gì ngoại trừ câu nói ấm áp của Đức Phật: "Thời gian không chờ đợi ai, hãy tinh tấn lên thầy Ananda.".
    Sunday, November 1, 2020(View: 256)
    Nhưng lý đạo thì không màng già, trẻ. Đạt Vô Sanh nào có trẻ, có già?
    Thursday, October 29, 2020(View: 485)
    Bài kinh “Thừa Tự Pháp” phác họa cho thấy hình ảnh của người xuất gia chân chánh phải là người “thừa tự Pháp” chứ “không thừa tự tài vật”.
    Tuesday, October 27, 2020(View: 793)
    Trên đây cô mới nhìn lại quãng đường chúng ta đã đi trong năm nay. Tất cả các đạo tràng đều hoạt động tốt. Theo nề nếp xưa nay. Cô biết các đạo tràng đều tiếp tục sinh hoạt đều đặn, “online”, hay qua điện thoại thăm hỏi lẫn nhau. tới lúc này có lẽ các em cũng quen với cuộc sống mới phải thích ứng với hoàn cảnh hiện tại.
    Tuesday, October 27, 2020(View: 367)
    Chú ý mà không lời, Nhìn, ngó, biết khắp nơi. Trong đó không người biết, Chỉ có biết không lời, Tánh biết lộ khắp nơi.
    Monday, October 26, 2020(View: 470)
    Định có tầm không tứ chúng ta phải dùng niệm nói thầm hai từ Không Nói để chúng ta cắt đứt được sự đối thoại thầm lặng trong não chúng ta.
    Sunday, October 25, 2020(View: 301)
    Ý, lời nhập thể không, Tứ, tầm không khởi động. Tâm ngôn không còn bóng, Nhị Thiền, ta thành công! Vọng tưởng hết khởi dậy, “Nhà Xưa” ta liền thấy! Tánh Giác hiện tròn đầy. Trời xanh không áng mây!
    Wednesday, October 21, 2020(View: 1109)
    Tất cả những giọt mồ hôi âm thầm đó như một nguồn năng lượng thúc giục mình phải bước tới, đem khả năng của mình ra góp vào dòng sống chung của cuộc đời.
    Sunday, October 18, 2020(View: 408)
    Ở đâu có vô thường, Ở đó có tâm nhiễu nhương xuất hiện, Vì tự ngã có mặt, Dính mắc việc thị phi, Chấp trước việc thường hằng, Sắc, tâm luôn dính mắc.
    Sunday, October 18, 2020(View: 428)
    Dùng sắc thấy Như Lai, Dùng âm thanh cầu Như Lai, Là thấy Phật trên bàn thờ, Chớ chẳng phải thấy Như Lai.
    Monday, October 12, 2020(View: 751)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Chiến Đấu Với Vọng Tưởng ngày 10 tháng 10, 2020 qua ứng dụng Zoom.
    Saturday, October 10, 2020(View: 420)
    Ở đâu có vô thường, Ở đó tâm nhiễu nhương...
    Wednesday, October 7, 2020(View: 1199)
    Thử xem mình có nghe được tiếng con rồng gầm trong khúc gỗ khô, hay chỉ là tiếng con dế kêu rỉ rả?
    Sunday, October 4, 2020(View: 745)
    1. Thường Chiếu: 00:00 - 2. Viên Chiếu: 10:27 - 3. Huệ Chiếu: 15:31 - 4. Thiến Thất Chân Nguyên: 19:09 5. Chân Không: 20:16 6. Lễ giỗ cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa: 1:02:54 - 7. Trúc Lâm: 1:16:04 - 8. Đại hồng chung mới của Thường Chiếu: 1:33:17 -
    Saturday, October 3, 2020(View: 516)
    Luân hồi, sinh tử thà ôm chịu, Chân không Diệu hữu đành lìa xa. Nhưng nay tỉnh ngộ; không lười mỏi, Noi dấu Phật chân quyết Về Nhà.
    Saturday, October 3, 2020(View: 519)
    Ta đã hết rồi chuyện thế gian, Tâm ta thanh thản như mây ngàn, Đâu còn chi nữa mà đem nói, Ý bặt, lời không, óc rổng rang.
    Thursday, October 1, 2020(View: 530)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Tu Không Thấy Người Tu tại Đạo Tràng Houston ngày 27 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom.
    Tuesday, September 29, 2020(View: 1367)
    Nghi thức tụng niệm có ích khi mình nhận ra trạng thái tâm của mình lúc đó đang “ly dục, ly pháp bất thiện”. Tâm đang trong sạch. Nhưng chưa thực sự trống không, vì tâm có một chỗ để duyên theo, là kinh sách, là kệ tụng v.v... cho nên phương thức này là bước đầu hỗ trợ mình, có thêm tuệ trí, hiểu biết kinh điển thêm.- Tâm thực sự trống không khi mình đi vào cái Biết không lời vững chắc, nghĩa là ngay cả không còn chủ đề dụng công.
    Monday, September 28, 2020(View: 590)
    Đời tu thật sống động, Đó đây ta thong dong. Thường sống trong CHÂN TÁNH, Phật gọi cái "VÔ SANH."
    Monday, September 28, 2020(View: 447)
    An lạc trong tầm tay. Trong ngoài thường an tịnh, Viễn xứ hết linh đinh; An tĩnh ngồi nhà xưa.
    Monday, September 28, 2020(View: 665)
    Tứ Nhiếp Pháp là pháp môn thực hành của người tu tập đi vào đời nhằm nhiếp hóa, cảm phục lòng người với mục đích cao thượng là giúp mọi người quay về sống trong Phật Pháp dẹp bỏ tham sân si.
    Monday, September 28, 2020(View: 744)
    Phân biệt CHỈ ( SAMATHA) và ĐỊNH ( SAMADHI) - Áp dung trong thực hành Tứ Niệm Xứ
    Wednesday, September 23, 2020(View: 522)
    Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài : THIỀN TRONG THỜI MỚI tại Đạo Tràng Sacramento ngày 19 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom.
    Wednesday, September 23, 2020(View: 1452)
    Nếu nói có Định mà Giới và Tuệ chưa có thì là tà định. Tuệ ở đây là phát huy sáng tạo, là có biện tài, giảng pháp chính xác, lưu loát. Chứ không phải không cần giáo lý, xem thường tuệ, cho là lý thuyết. Một khi con đường đi lệch lạc, thì dẫn tới ý nghĩ và lời nói ra cũng lệch lạc, chỉ vì mình chưa có trí tuệ thực sự. Tóm lại, từ bước đầu tu học, phải có trí tuệ, và bước cuối cũng là phát huy trí tuệ mà thôi.
    Monday, September 21, 2020(View: 689)
    Trên dòng đời, muôn vạn nẻo chánh tà, Pháp "nhiệm mầu," Tỉnh Thức Biết, ta tùy thân. Lửa Vô Minh dù cho có đến gần, Cũng không đốt được bản thân tánh linh giác.
    Thursday, September 17, 2020(View: 578)
    Giữ năm giới để tâm mê thuần tịnh, - Để vào đời không vướng mắc linh tinh: - Dâm, sát, đạo, tửu đình, vọng ngữ, - Để tâm người cư sĩ quang minh,
    Thursday, September 17, 2020(View: 624)
    Chuyến hành hương viếng thăm Phật tích năm 2006 có 2 mục đích: 1. Thầy Thiền Chủ tạo điều kiện thuận lợi để hướng dẫn thiền sinh tại các Đạo tràng Đức, Pháp, Canada, Úc, Mỹ thực tập các chủ đề đã học từ lớp Căn bản đến các lớp Trung cấp Bát Nhã và hướng dẫn thiền sinh chiêm bái các thánh tích để củng cố thêm ý chí hướng đến tâm linh. 2. Giúp thiền sinh nhận rõ giá trị Phật pháp đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh, qua sự tự lực thực hành theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca.
    Thursday, September 17, 2020(View: 1865)
    Hôm nay cô đặt câu hỏi, chúng ta tùy ý trả lời. Xem như một “trò chơi mới” thôi... Sau khi hiểu ý nghĩa của mười câu xướng đó rồi, mình có thấy được bài học nào cho mình không? - Tại sao chư Tổ đặt ra phương thức hằng ngày mình phải lễ lạy Phật và Tổ? - Mình phải lễ lạy ra sao mới có giá trị? - Tâm mình phải như thế nào? Cô ước mong chúng ta hưởng ứng “trò chơi” này. Ghi lại vài dòng, vài ý nho nhỏ, cũng là có hồi đáp,...
    Wednesday, September 16, 2020(View: 1232)
    Cửa thiên đàng hay cửa địa ngục là do ai? Do mình chọn thôi. Mình làm chủ cuộc đời của mình. Phải luôn luôn nhớ điều đó. Dòng tuôn chảy của cuộc đời từ ngàn xưa vẫn vậy. Mình thấy cuộc đời ra sao? Mình thu nhặt cái gì trong cuộc đời? Là do mình thấy, là do mình thích, là do mình muốn, là do mình chọn.
    Wednesday, September 16, 2020(View: 782)
    A. THẬN: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế đứng: 00:00 2. Thế nằm: 01:48 B. SUYỄN: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế nằm: 04:02 C. THƯ GIÃN TOÀN THÂN: 06:21 Hướng dẫn lý thuyết: Thầy Thích Thông Triệt. Hướng dẫn thực tập: Thầy Thích Không Như.
    Friday, September 11, 2020(View: 667)
    Thiền hành trong vô ngôn.- Pháp tu theo Phật dạy: - Niệm Biết giữ không hai, - Ngày ngày ta gắng tập, - Tánh giác sẽ hiển bày. - Dứt khổ, đoạn trần ai.
    Wednesday, September 9, 2020(View: 1213)
    Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài : THIỀN TRONG THỜI MỚI tại Đạo Tràng SanJose ngày 6 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom ( Thu hình từ Saccramento)
    Wednesday, September 9, 2020(View: 862)
    Khí Công Căn Bản (Phần 5/6): THẤP KHỚP: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế gót chân: 00:00 2. Thế mép chân ngoài: 2:05 3. Thế mép chân trong: 3:54 4. Thế hai mép chân trong: 5:37 5. Thế nằm ôm nhượng và ngóc đầu lên: 7:42 6. Thế nằm bỏ chân qua một bên: 9:25 7. Thế nằm co chân vô: 11:23 8. Thế lòn chân qua: 13:10 9. Thế nằm co chân và nghiêng thân người: 15:06
    Tuesday, September 8, 2020(View: 1643)
    Trình bày cốt lõi con đườngg tu của mình 1 cách
    Monday, September 7, 2020(View: 1029)
    “...Chợt thấy Ngôi Nhà Xưa, Chính tại bờ bên này”. Mình không tìm kiếm ở đâu xa xôi nữa. Tâm dừng lại, là đang ở trong nhà. Không cần nhờ ai chỉ đường nữa. Vậy thì thôi, xin rủ áo, buông tay. Giã từ. Ta lại đi chèo thuyền trên dòng sông đời, mặc tình rong chơi.
    Monday, September 7, 2020(View: 712)
    Chỗ tinh yếu là giữ tâm ngôn cho thuần tịnh, - Chỗ buông lời không một niệm dính hai bên. - Đường Về Nhà là lối đến Không Tên, - Phải ghi nhớ, nếu quên thì lạc lối. -
    Wednesday, September 2, 2020(View: 1724)
    Thiệt ra cô viết mấy dòng nầy cũng như là cô đang nhắc nhở chính cô thôi. Cô cũng đã nhìn thấy dòng thời gian trôi qua, như gió thổi mây phải bay. Mây có bao giờ cưỡng chống lại... Vậy đó. Cô đã dự tính cho cô: sống đơn giản, tu đơn giản, và đi cũng đơn giản, nếu cô được cái phần thưởng cuối cùng này.
    Wednesday, September 2, 2020(View: 425)
    Khi ý thức không còn dậy sóng, Nội tâm ta liền vắng bóng tâm ngôn, Ngay lúc ấy tâm hồn ta an lạc, Chẳng đeo sầu, chẳng chua chát, khổ đau.
    Tuesday, September 1, 2020(View: 1387)
    Tới đây, cô tạm ngừng. Xem như “con đường mòn tâm linh” đã vẽ rồi, chúng ta cứ yên tâm bước tới. Đi tới đâu là tùy mỗi người thôi. Mỗi người là tác giả của dòng sống của riêng mình. Mỗi kiếp sống là tác phẩm của chính mình sáng tạo ra. Đau khổ hay hạnh phúc là tự mình vẽ ra cho mình. Cảnh đời bên ngoài cũng là tác phẩm của chính mình sáng tạo
    Tuesday, September 1, 2020(View: 987)
    Ni Sư Triệt Như trình bài đế tài tổng hợp thuộc về Lý Thuyết liên quan đến THỰC HÀNH THIỀN - (tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 31 tháng 5, 2016)
    Saturday, August 29, 2020(View: 793)
    Khí Công Căn Bản (Phần 4/6): TIM MẠCH: Thở bình thường 1. Thế đánh hai tay lên xuống: 00:00 2. Thế đánh hai bàn tay tréo qua tréo lại trước mặt: 2:19 3. Thế đánh xéo tay lên xuống kết hợp với khuỵu đầu gối: 3:12 4. Thế đánh cổ tay: 4:44 5. Thế đánh tay và xoay thân mình: 5:53 6. Thế đứng nghiêng thân người và cúi xuống: 7:02 Thở theo nguyên tắc 1-4-2
    Saturday, August 29, 2020(View: 687)
    Vô Tướng chính là đây, Vô Nguyện không thể thấy..., Nhưng Không Tánh đủ đầy. Chân như đã nội tại, Trong nhận thức không lời, Gió dừng sóng êm vỗ Bát Nhã ta đến nơi.
    Thursday, August 27, 2020(View: 1533)
    Tới đây cô tạm chấm dứt phần đúc kết các bài học nhỏ trong mấy tháng qua. Về phần mình, các em cũng nên nhìn lại chặng đường mình đã đi trong mấy tháng qua như thế nào? Tâm của mình chuyển hóa ra sao, có bình an trong khi cuộc đời xáo trộn? Trí tuệ có hiểu sâu sắc hơn về những biến chuyển của cuộc đời?
    Wednesday, August 26, 2020(View: 896)
    AUDIO: Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT đọc lời giới thiệu Diệu Như & Minh Đạo diễn ngâm - Đạo tràng Houston TX thực hiện
    Wednesday, August 26, 2020(View: 893)
    Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế sư tử ngồi nghinh thiên: 00:00 2. Thế nằm: 1:54 3. Thế nằm co hai chân lại: 4:08 4. Thế nằm ngóc đầu lên, hai gót chân sát sàn nhà: 6:15
    Friday, August 21, 2020(View: 846)
    Niết-bàn là một đạo quả, một chứng ngộ, một trạng thái tinh thần với trí tuệ rốt ráo mà con người đạt được.
    Wednesday, August 19, 2020(View: 1301)
    Thầy Thích Không Chiếu: BƯỚC ĐẦU VÀO THIỀN Hướng dẩn cách thực hành Thiền đơn giản
    Wednesday, August 19, 2020(View: 1422)
    Riêng vị thiền sư Nhật bản này có hơn 10 đệ tử sáng đạo. Thật là một việc phi thường. Chúng ta tìm hiểu xem nguyên nhân nào dẫn tới kết quả đó? Có thể từ kinh nghiệm này, mình ứng dụng cho mình để mình cũng đạt được kết quả sáng đạo.
    Wednesday, August 19, 2020(View: 934)
    Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT hướng dẩn Khí Công Căn Bản phần 2/6: THỞ NỘI LỰC
    Wednesday, August 19, 2020(View: 792)
    Tuyển Tập Thơ THÔNG TRIỆT: Kiến Tánh AUDIO: Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT đọc lời giới thiệu AUDIO: Diệu Như (Quảng Diệu) diễn ngâm
    Wednesday, August 12, 2020(View: 1304)
    Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT hướng dẩn Khí Công Căn Bản (phần 1/6): GIỚI THIỆU Sơ lược về TÁC DỤNG của THỞ KHÍ CÔNG và NGUYÊN TẮC 1- 4- 2
    Wednesday, August 12, 2020(View: 1345)
    THIỀN NHẬP THẾ phần 2 Dành cho người có kinh nghiệm Định
    Wednesday, August 12, 2020(View: 1750)
    Mình có thể xem ngài Đại Mai như tiêu biểu cho lối sống và trí tuệ của thiền sư hay không? Cốt lõi của Thiền là sao? Kho báu trí tuệ của mình ở đâu? Sống Thiền là thế nào? Chúng ta có thể ứng dụng như thế nào cho chính mình?
    Wednesday, August 12, 2020(View: 1479)
    Nhưng nếu mình đứng lại, thì là mình tới nhà rồi. Tâm đứng yên, là đang ở trong nhà. Còn tìm gì ở đâu nữa? Cho nên một thiền sư xưa đã nói: “Một niệm vô sanh, đạt niết bàn”. Con đường Thiền đó- tạm nói vậy- chứ nếu còn con đường phải đi, thì là chưa tới.
    Thursday, August 6, 2020(View: 1671)
    THIỀN NHẬP THẾ phần 1: Dành cho người mới học Thiền hay Thiền mà không có kết quả
    Wednesday, August 5, 2020(View: 2149)
    Hôm nay cô cho một chủ đề khác: “Con Đường”. Các em có thể đi trên con đường, hay ngồi nhìn con đường, hay đứng nhìn con đường. Con đường nào cũng được... Thực tập khoảng 15 phút cũng đủ. Mong rằng các em nhìn ngắm con đường, thấy cảnh ra sao, tâm ra sao?
    Wednesday, August 5, 2020(View: 1399)
    Mình học được bài học nào, qua truyện ngài Angulimala? Mỗi em tự suy gẫm. Mình đã đứng lại chưa? Nếu mình còn đi, tức là mình chưa đứng lại. Nhưng nếu mình chưa đi, mà mình đứng lại, thì sao?
    Wednesday, August 5, 2020(View: 1171)
    Đức Phật giáo hóa đệ tử với tâm bình đẳng, khách quan, nhưng mỗi người tùy theo căn tánh, khả năng riêng mà tu tập và tiến bộ khác nhau. Vậy chúng ta hãy suy gẫm xem mình là hạng đệ tử nào, mình có những ưu điểm nào, hay còn khuyết điểm đã khiến cho mình chưa đến nơi mà mình muốn đến?
    Saturday, August 1, 2020(View: 899)
    Hạnh lắng nghe là phương pháp tu quan trọng có khả năng trị liệu và chuyển hóa. Chuyển hóa nhận thức của người và chuyển hóa chính tâm thức của chính chúng ta.
    Thursday, July 30, 2020(View: 1079)
    Mỗi tuần 1 bài thơ Thầy (trích trong THÔNG TRIỆT các Tác Phẩm / Tuyển tập Thơ) Diệu Như diễn ngâm - Đạo tràng Houston TX thực Hiện
    Thursday, July 30, 2020(View: 2109)
    Hôm nay, cô cho chủ đề số 3. Chủ đề này sẽ trừu tượng hơn một chút. Chủ đề: “quan sát Tâm” của mình... Các em thực tập rồi ghi lại, khoảng 5 lần, nhận thấy tâm mình ra sao?
    Thursday, July 30, 2020(View: 1290)
    Kết luận, trong nhà Thiền, điều kiện thực hành là quan trọng, thực hành trong khi tọa thiền, và thực hành trong đời sống. Thực hành : Quán, Chỉ, Định, và Huệ. Chúng ta không quên Giới, vì Giới là quan trọng, là nền tảng vững chắc của phẩm hạnh thanh cao của con người. Giới là bước tu tập đầu tiên để chuyển Nghiệp của mình.
    Thursday, July 30, 2020(View: 1330)
    Đập vỡ cây đàn làm chi hỡi Bá Nha? Cứ khảy đàn đi, vẫn còn vầng trăng sáng năm xưa đang thấy, vẫn còn dòng nước trong veo bến Hán Dương đang nghe, kìa là hoa lá cũng rộn ràng một vũ điệu vô tư theo tiếng nhạc.
    Thursday, July 30, 2020(View: 1085)
    Tất cả cũng chỉ là cõi tâm của một người. Xem như cô tặng cho các em những mảnh vụn trò chơi “puzzle”, ai biết thì ghép lại làm thành một bức tranh tâm của một đời phù du.
    Thursday, July 23, 2020(View: 1666)
    Ni sư Triệt Như trình bày, đút kết lại những bước cần thiết trên con đường tâm linh của chúng ta, Bài giảng dành cho những Thiền Sinh mới làm quen với Thiền nhưng cũng hướng tới mức độ cao hơn cho những vị đã tu tập lâu năm
    Wednesday, July 22, 2020(View: 1581)
    Từ có nhận thức rõ ràng về tâm biết tĩnh lặng trong sáng này, mình cứ kiên nhẫn thực hành hoài trong đời sống hằng ngày là mình sẽ đạt được tất cả: sức khỏe tốt, hài hòa trong tất cả hoàn cảnh sống, chính mình an lạc và đem an lạc tới cho tất cả mọi người khi mình tiếp cận.
    Wednesday, July 22, 2020(View: 1309)
    Mấy năm sau này cô chỉ hướng dẫn khóa Bát nhã đặc biệt với cách hướng dẫn uyển chuyển khác nhau trong từng đạo tràng. Đạo tràng nào thấy cần bổ túc phần nào thì bổ túc. Mà phần thiếu nhất là Kinh Nikàya, cần học thêm để tăng niềm tin và để mình không xa rời những lời dạy của Đức Phật. Muôn đời, những lời dạy của Đức Phật là khuôn mẫu vô giá cho người đời sau.
    Wednesday, July 22, 2020(View: 1261)
    "Xin đừng hỏi nữa, hãy ngồi lắng nghe Tiếng tùng bách khi không gió lộng." - Hãy im lặng lắng nghe! Nghe gì? Không có gió thổi, vậy cây tùng cây bách có âm thanh hay không?
    Friday, July 17, 2020(View: 2298)
    Trên đây, cô tạm đúc kết lại tiến trình cái thấy của mình, bắt đầu qua một chủ đề tầm thường, nhỏ nhoi, thực tiễn, là “một chiếc lá”. Mà chiếc lá có nói gì với mình không, hở các em? Tới đây, mình đã hiểu “Kinh Vô Tự”, mới là chân kinh.
    Thursday, July 16, 2020(View: 1023)
    “Pháp Tu Sám Hối” trong đạo Phật không phải là nghi thức rửa tội để được sạch tội, mà sám hối mang đủ hai yếu tố “nhận lỗi và sửa lỗi”. Nhờ có sửa lỗi nên tội trước được giải trừ, tội sau mới không sinh khởi.
    Wednesday, July 15, 2020(View: 1662)
    Nhưng là người tu thực sự thì tự mình phải biết rõ chính mình... Không cần nói ra, không thể nói ra. Nhưng mình vẫn lảnh cái hậu quả của cái tâm thức sâu kín của mình, trong đời này và đời sau nữa. Có khi nó là tùy miên, mình không biết được. Nhưng những giấc mơ, nó sẽ báo cho mình biết. Cám ơn những giấc mơ.
    Wednesday, July 15, 2020(View: 1219)
    Hình ảnh Đức Phật và các vị thánh đệ tử của ngài là tấm gương sáng muôn đời cho chúng ta.
    Wednesday, July 15, 2020(View: 1206)
    Kết luận, tâm được tu tập là con đường dẫn tới hạnh phúc, nói theo ngôn ngữ thông thường. Tâm không được tu tập dẫn tới khổ đau. Mà tâm không biết tu tập, không gì nguy hiểm bằng chọn lầm người bạn đường. Khổ cho cả 3 đời: cha mẹ, mình và con.
    Wednesday, July 15, 2020(View: 1036)
    Khi mình có cái “rõ biết tâm mình” trong mọi lúc, thì mới xem như “thần thông” của Thiền. Còn nếu chỉ nói về ích lợi của kỹ thuật, thì đó là “thần thông” của thế gian thôi.
    Thursday, July 9, 2020(View: 2104)
    Như vậy, mình thử ngẫm nghĩ xem mình thích hợp với phương thức nào, mình muốn vào bậc nào theo ngài Tường Quan Chiếu Khoan, hay mình thích tu theo ngài Ô Sào?
    Thursday, July 9, 2020(View: 2774)
    Hôm nay cô muốn chúng ta thử áp dụng “Như Lý Tư Duy”. Tất cả mọi người đều được khuyến khích tham gia, xem như một “trò chơi mới” hay như “đố vui để học” trong thời điểm đặc biệt hiện giờ “rảnh rang mà chưa thanh thản”. Chủ đề cô đề nghị là < Một chiếc lá>
    Thursday, July 9, 2020(View: 1163)
    Vậy hôm nay cô nhắc lại cho các em một bữu bối thần diệu, có thể soi chiếu thấy tới đời vị lai, mà Đức Phật với lòng từ mẫn, đã ban cho mình.
    Thursday, July 9, 2020(View: 1378)
    Kết luận, trong một đời tu cần phải có nhiều lần ngộ. Mỗi lần ngộ là ta được giải tõa khỏi một bế tắc nào đó, trí tuệ phát huy thêm rộng và sâu sắc hơn.
    Thursday, July 9, 2020(View: 1182)
    Nói gọn lại là: Phải nhớ cái bản thể của cuộc đời là ...Là gì? - Là Trống Không. - Là Như Huyễn mà thôi. Thì lập tức cái tâm của mình dừng lại ngay.
    Wednesday, July 8, 2020(View: 1020)
    Kết quả cuối cùng của “Giới-Định-Huệ” và “Bát Chánh Đạo” có điểm giống nhau là thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Như vậy hai pháp này có sự tương đồng với nhau.
    1,191,602