HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Đức Phật Thích Ca: Lịch Sử và Huyền Thoại.

Monday, June 1, 20158:46 PM(View: 28800)

Đức Phật Thích Ca: Lịch Sử và Huyền Thoại.

--------------------------------

Thích Nữ Hằng Như

 

     Trước khi ôn lại Tiểu Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, để người đọc nhận định dễ hơn về ngày tháng ghi trong tiểu sử của Ngài, chúng tôi xin nhắc lại là Đức Phật Thích Ca sanh vào năm 624 trước Tây Lịch. Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước Tây Lịch. Sáu trăm hai mươi bốn năm sau, Tây Phương mới bắt đầu chọn năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi điểm cho Dương lịch. Như vậy tính đến nay là năm 2015 thì Đức Phật đã ra đời được 2,639 năm và chiếu theo Phật lịch khởi đầu từ năm Đức Phật viên tịch (năm 544 trước TL) thì Ngài đã nhập Niết Bàn được 2,559 năm.

     Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Đông Á như Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên ... từ  xưa đều làm Lễ Phật Đản vào ngày mồng 8 tháng Tư Âm Lịch. Tên gọi tắt dành cho ngày Lễ Phật Đản"Ngày mồng Tám tháng Tư" đã lưu truyền hằng bao thế kỷ, trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ghi đậm vào tâm khảm của mọi người kể cả người theo hay không theo Phật giáo.

      Vào thế kỷ thứ 20, trong kỳ Đại lễ kỷ niệm Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Tích Lan năm 1954-1956, Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists) quyết định lấy ngày trăng tròn 15 tháng 4 Âm lịch làm ngày kỷ niệm Đức Phật Đản Sanh. Đó là lý do tại sao có 2 ngày kỷ niệm Đức Phật ra đời là Mồng 8 tháng Tư Âm lịch (trước kia) và Rằm tháng Tư Âm lịch (bây giờ).

                                                                        ***

           

            Nhân ngày Lễ Khánh Đản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại tiểu sử của Ngài để có sự hiểu biết về một vĩ nhân đã để lại cho hậu thế một kho tàng văn hoá Phật học vĩ đại gồm 12,601 bài pháp thoại trong suốt 45 năm hoằng hoá, mà đã 2,559 năm trôi qua kể từ ngày Đức Phật viên tịch, nền minh triết đó vẫn còn được dân gian trên thế giới kể cả những người theo đạo Phật và những người không theo đạo Phật nghiên cứuhọc hỏi.

            Trình bày về tiểu sử Đức Phật, người Phật tử có hai cách nhìn. Một là Đức Phật huyền thoại được ghi lại đầy đủ trong bộ kinh Phật Tổ Thống Ký (Bắc Tông) Bộ kinh này diễn tả rất chi tiết về sự kiện đản sanh của Đức Phật, thậm chí còn kể rõ Ngài là một vị Bồ Tát ngự trên cõi trời, đản sinh xuống cõi người. Cái nhìn thứ hai khoa học hơn, cũng theo kinh sử để lại thì Ngài là một người bình thường như bao nhiêu người khác, có cha mẹ, vợ con, có những ưu tư về cuộc sống đau khổ của con người nên muốn tìm phương pháp để thoát ra khỏi cái vòng luân hồi sanh tử. Giai đoạn học đạo với 2 vị đạonổi tiếng thời ấy là đạo sĩ Alãra Kãlama và Uddaka Ramãputta cũng như nhập đoàn với năm anh em đạo sĩ Kiều Trần Như suốt 6 năm tu khổ hạnh cũng không có gì khác biệt giữa vị Phật huyền thoại và vị Phật lịch sử.   

            Cho nên trong bài viết này chúng tôi mạn phép lấy tựa đề là "Đức Phật Thích Ca: Huyền Thoại (tôn giáo) và Lịch Sử". Bài viết chỉ giới thiệu sơ lược về lịch sử đản sanh của Ngài, chứ không khai triển các chi tiết khác, bởi chỉ có mấy ngàn chữ theo quy ước này, thì làm sao có thể diễn đạt được hết cuộc đời của một bậc đại Giác Ngộ như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

 

 ĐỨC PHẬT TÔN GIÁO / HUYỀN THOẠI

            Từ xưa đến nay, muốn thành hình một tôn giáo ít nhất phải hội đủ một số điều kiện như sau: Phải có một vị Giáo Chủ mang nhiều huyền thoại nào đó khiến cho người ta kính phục tin theo, phải có giáo lý, tín đồnghi lễ riêng biệt của tôn giáo đó.

            Về lịch sử thì đạo Phật là một học thuyết, là một con đường tu tập để dẫn tới sự khai mở trí huệ tâm linh do Đức Phật vốn là một người bình thường đã tu tập và sáng đạo, đi giáo hoá truyền lại những kinh nghiệm của mình cho người khác.

            Sau khi Đức Phật viên tịch, theo thời gian sau đó đạo Phật nhập thế. So sánh với những điều kiện nêu trên thì đạo Phật có thể coi như là một tôn giáo, vì nó cũng có đủ các tiêu chuẩn như:

            - Đạo PhậtGiáo ChủĐức Bổn Sư Thích Ca. Cuộc đời của Ngài cũng có nhiều huyền thoại. Chẳng hạn như Ngài là vị Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ tát Hộ Minh trên cung trời Đâu Suất đã tu vô lượng kiếp, chỉ còn một kiếp nữa là sẽ thành Phật. Từ cung trời Đâu Suất ngài nhìn xuống thế gian tìm Cha Mẹđạo đức nhập thai xuống trần tiếp tục tu hành một kiếp chót để đạt Chánh Quả.

            - Đạo Phậtgiáo lý để giảng dạy cho tín đồ. Số lượng kinh điển chia làm 2 loại: Nikãya (Nam Tông) và A-Hàm (Bắc Tông). Ở Việt Nam chúng ta, kinh điển Phật Học được chuyển sang tiếng Việt tuy chưa hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng được khá nhiều. Nói chung, tổng quát có 4 bộ Nikãya gồm 12,601 bản kinh, chưa kể Tiểu Bộ kinh. Còn 4 bộ A-Hàm gồm 2,086 bản kinh. Cộng  lại chúng ta thấy Đức Phật để lại cho tín đồ 14,687 bài pháp thoại.

            - Hiện nay có khoảng hơn 800 triệu tín đồ theo đạo Phật trong số trên 7 tỷ người trên hành tinh này.                                                  

            Trở lại tiểu sử Đức Phật tôn giáo hay nói khác hơn là huyền thoại về Đức Phật Thích Ca. Như đã nêu trên, Bồ Tát Hộ Minh lúc bấy giờ đã tu từ bao nhiêu triệu kiếp rồi, chỉ cần một kiếp cuối cùng là Ngài sẽ thành Phật. Lúc ấy Bồ Tát ở trên cung trời Đâu Suất nhìn xuống thế gian tìm gia đình thích hợp để xuống trần. Người Mẹ mà Bồ Tát chọn nhập thai là Hoàng hậu Mahã Maya.

            Chuyện kể Hoàng Hậu Maya là một người đạo đức và tràn ngập lòng từ bi. Bà là vợ của vua Tịnh Phạn thành Ca-Tỳ-La-Vệ, đã lớn tuổi rồi mà chưa có con. Một ngày kia vào buổi trưa, Đức Hoàng hậu đang nằm nghỉ ngơi thì rơi vào giấc mộng, bà thấy 4 vị thiên thần nâng 4 góc giường bay thẳng lên đỉnh núi Hy-Mã-Lạp-Sơn. Nơi đây có một con voi trắng 6 ngà từ trên trời bay xuống và chui vào hông phải của bà. Hoàng hậu giựt mình tỉnh giấc, cảm thấy trong người mát mẻ dễ chịu, tinh thần sảng khoái. Ngay lúc đó là lúc Hoàng hậu đã thọ thai.

            Theo phong tục Ấn Độ, người phụ nữ khi mang thai phải về quê cha mẹ của mình để sanh nở. Hoàng hậu Maya cũng không ra khỏi tập tục đó. Gần ngày khai hoa nở nhụy, trên đường về quê cha mẹ, đến vườn Lâm Tỳ Ni ở ngay biên giới của hai nước Kosola (Nepal) và Ca-Tỳ-La-Vệ (Bắc Ấn Độ), Hoàng hậu ra lệnh cho đoàn tuỳ tùng dừng chân nghỉ mát vì nơi đây không khí dễ chịu thoang thoảng hương hoa nhẹ nhàng bay trong gió. Đoàn tuỳ tùng dừng lại. Khi Hoàng hậu Maya từng bước đi vào ven rừng ngắm cảnh, bà nhìn thấy một cây to có nhiều hoa nở rất đẹp mà trong kinh sách ghi là hoa Linh Thoại, có kinh ghi là hoa Vô Ưu. (Tương truyền loại hoa này 3,000 năm mới nở một lần, nhưng nếu hoa nở trái mùa, đó là hoa nở để chào mừng hay báo hiệu sẽ có một vị giác ngộ tương lai sắp ra đời.)            

            Về huyền thoại của Đức Phật thì chuyện xưa kể rằng, khi Hoàng hậu Maya đưa tay phải lên vịn vào cành cây Vô Ưu thì Thái tử ra đời, Ngài sanh từ bụng mẹ qua bên hông phải. Lúc đó liền có 2 vị Phạm Thiên xuất hiện đỡ lấy Ngài. Hai vòi nước một ấm một lạnh do 2 con rồng phun ra từ trên cao xuống tắm cho vị hoàng tử mới sơ sanh.

            Tích cũ kể tiếp, Thái tử vừa lọt lòng mẹ đã bước đi bảy bước, mỗi bước có một hoa sen nở để đỡ lấy chân của Ngài. Đến bước thứ bảy Thái tử đưa một tay chỉ ngón trỏ lên trời, một ngón tay chỉ xuống đất thốt lên câu nói:

            "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" nghĩa là " Trên trời dưới đất chỉ có chân-ngã (tức cái-Ta-chân-thật) là số một" ... rồi sau đó Ngài đã trở lại đời sống như một đứa bé sơ sanh bình thường khác.

            Khi Thái tử sinh được 5 ngày, đức vua Tịnh Phạn (Suddhodana) đặt tên cho con trai là Siddhattha (tiếng Sanskrit) âm tiếng Việt là Sĩ-Đạt-Ta, họ là Gotama, âm tiếng Việt là Cồ Đàm. Tiếng Pãli là Siddharta Gautama. Ngài thuộc dòng dõi quí tộc Thích Ca (Sakiya).

           Theo phong tục thời bấy giờ, nhà vua cho mời nhiều vị đạoBà La Môn học rộng tài cao vào triều dự lễ đặt tên và xem tướng cho Thái tử. Có tám vị đạolỗi lạc vào cung xem tướng cho Thái tử. Bảy vị đưa lên 2 ngón tay và giải thích hai lẽ: Một là Thái tử sau này sẽ trở nên vị Hoàng đế vĩ đại nhứt thế gian, hai là Ngài sẽ đi tu và đắc quả Phật. Riêng đạo sĩ trẻ tuổi tên là Kiều Trần Như (Kondanna) thì bảo rằng sau này Thái tử sẽ xuất giathành tựu quả Chánh Đẳng Chánh Giác.

            Trước đó, có một vị đạo sĩ tên là A-Tư-Đà (Asita) là một người thân tín của nhà vua tu hành trên núi Hy-Mã-Lạp-Sơn, nhân chuyến hạ sơn nghe dân gian loan truyền Hoàng hậu Maya vừa hạ sanh hoàng nam, nên ông xin được vào thăm Thái tử. Vua Tịnh Phạn lấy làm hân hoan, cho bồng Thái tử ra đảnh lễ đạo sĩ. Đạo sĩ A-Tư-Đà xem tướng Thái tử rồi tiên tri rằng về sau Thái tử sẽ trở nên bậc vĩ nhân cao quý nhất của nhân loại. Nói xong, ông sụp quỳ lạy Thái tử. Thấy lão đạo sĩ đảnh lễ con mình như vậy, đức vua Tịnh Phạn cũng làm theo đạo sĩ, xá chào con mình.

            Kế đó, đạo sĩ bỗng dưng cất tiếng cười khan rồi lại khóc. Đức vua và mọi người ngạc nhiên trước những cảm xúc vui buồn của đạo sĩ, hỏi tại sao, thì được đạo sĩ A-Tư-Đà giải thích rằng ông vui mừng vì biết rằng về sau Thái tử sẽ đắc quả Phật và ông khóc vì biết rằng không bao lâu nữa ông sẽ chết và tái sanh vào cảnh giới Vô Sắc (là cảnh giới mà người đắc thiền sẽ tái sanh vào). Do đó ông sẽ không được hưởng phước lành thọ giáo với bậc trí tuệ cao siêu, Chánh Đẳng Chánh Giác.

            Sau lễ đặt tên Thái tử được 2 ngày, Hoàng hậu Mahãmaya đột nhiên qua đời, trong kinh ghi bà được sanh về cung trời Đao Lợi. Lúc bấy giờ, Vương phi Mahã Pajãpati Gotami (em ruột của hoàng hậu) tình nguyện nuôi dưỡng Thái tử cho đến khi Ngài khôn lớn.

 

LỄ HẠ ĐIỀN

            Một sự kiện lạ lùng xảy ra trong thời thơ ấu của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta. Sự kiện ấy là một kinh nghiệm tinh thần của Ngài, là chiếc chìa khoá mở đường cho Ngài tiến đến sự Giác Ngộ

            Câu chuyện kể lại là vào hằng năm vua Tịnh Phạn có tổ chức lễ Hạ Điền. Đó là một nghi lễ cầu thần linh ban cho mưa thuận gió hoà, trước khi mọi người bắt tay vào việc đồng án.

            Ở Ấn Độ, người ta tin đủ các loại thần: nào là thần mưa, thần gió, thần lửa, thần đất v.v... Họ tin tưởng tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống của con người đều do thần linh cai quản. Con người phải cúi đầu nhận chịu sự ban phát hay trừng phạt của các đấng thần linh.

            Sáng ngày đức Vua cùng quần thần áo mão chỉnh tề ra tận nơi hành lễ.  Các cung phi mỹ nữ đỡ thái tử Sĩ-Đạt-Ta ngồi vào kiệu, lính hầu khiêng kiệu đặt dưới bóng mát của một cội cây trâm lớn, nơi nghi lễ sẽ diễn ra cách đó không xa. Mọi người đều hân hoan chiêm ngưỡng cảnh nhà vua chủ lễ, các cung phi có phận sự trông nom Thái tử cũng lén chạy đến gần để xem.

            Thái tử lúc đó còn nhỏ khoảng 9, 10 tuổi, nhưng lại không ham thích cảnh tưng bừng nhộn nhịp của buổi lễ. Thái tử rời kiệu xuống đất, thay vì chạy nhảy vui chơi, Ngài lại chọn bóng mát dưới gốc cây trâm, ngồi tréo 2 chân theo lối kiết già, trầm ngâm lặng lẽ, mắt lim dim, chăm chú vào hơi thở, định tâmtình cờ nhập định đắc Sơ Thiền.

            Đang lúc mọi người bận rộn, vui vẻ với cuộc lễ, các cung phi bỗng sực nhớ tới Thái tử, vội vã quay về với phận sự, họ thấy Thái tử đang ngồi trầm ngâm thiền định. Lấy làm lạ nhưng không dám quấy rầy, họ vội vàng đến trình tâu tự sự cho vua Tịnh Phạn.

            Đức vua Tịnh Phạn hối hả đến nơi, thấy Thái tử Sĩ-Đạt-Ta vẫn còn trong tư thế nhập định. Đức vua đến trước mặt Thái tử, chắp tay xá chào con, dịu dàng nói: "Hỡi này con yêu quí, đây là lần thứ nhì, phụ vương đảnh lễ con."

 

ĐỜI SỐNG THÁI TỬ SĨ-ĐẠT-TA BỊ BƯNG BÍT

            Vua Tịnh Phạn thấy Thái tử còn nhỏ mà không ưa thích cuộc sống ồn ào vui chơi như những trẻ con hoàng thân quốc thích khác, nên Ngài rất lo sợ, nhất là mỗi khi nhớ đến những lời tiên tri của các vị đạo sĩ rằng sau này Thái tử sẽ xuất gia tìm đạo và đắc quả Phật.

            Trong lòng vua Tịnh Phạn không muốn con mình đi tu, Ngài chỉ muốn huấn luyện cho Thái tử trở thành người tài giỏi xuất chúng về mọi mặt, để sau này trao ngai vàng cho Thái tử trị vì trăm họ.

            Để đạt được mục đích của mình. Nhà vua bắt đầu lên kế hoạch che đậy bưng bít không cho Thái tử thấy, biết... cuộc sống thế gian vốn có nhiều đau khổphiền lụy.

            Bao vây chung quanh thái tử là cuộc sống vương giả, xa hoa, đàn ca hát xướng, tràn ngập sự hoan lạc. Khi lên 16 tuổi, theo phong tục thời bấy giờ, Thái tử kết duyên cùng công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharã), một người em cô cậu cùng tuổi. Trong 13 năm chung sống cùng Công chúa, Thái tử hoàn toàn sống cuộc đời nhung lụa, không hay biết gì về nỗi thống khổ của nhân loại bên ngoài ngưỡng cửa cung điện, Ngài và Công chúa Da-Du-Đà-La lại sinh được một đứa con trai, khiến cho vua Tịnh Phạn hết sức vui mừng. Vua đặt tên cháu nội là La-Hầu-La (Rãhula)

 

XUẤT GIA

            Suốt 29 năm sống trong cung vàng điện ngọc, được sự chiều chuộng của tất cả mọi người trong hoàng cung, nhất là vua cha và kế hậu cùng công chúa xinh đẹp Da-Du-Đà-La luôn để ý chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợi, khiến cho Thái tử lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ hạnh phúc. Một mình Ngài được hưởng thụ mọi thứ vinh hoa trên cõi đời này. Trong kinh Tăng Nhứt A-Hàm (Anguttara Nikãya, phần 1, trg 145) có ghi lời Ngài kể cho đệ tử nghe như sau:

            "Đời sống của ta thật là tế nhị, vô cùng tinh vi. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phiá bên kia, và trong đầm bên cạnh, sen trắng đua nhau tranh đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Kasi đưa về. Khăn và áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhứt từ xứ Kasi chở đến.

            "Ngày cũng như đêm, mỗi khi ta bước chân ra khỏi cung điện là có tàng lọng che sương đỡ nắng. 

            "Phụ hoàng cũng kiến tạo riêng cho ta ba toà cung điện. Một để cho ta ở mùa lạnh, một mùa nóng và một mùa mưa. Trong suốt bốn tháng mưa ta lưu tại một biệt điện có đầy đủ tiện nghi, giữa những cung tần phi nữ. Cho đến hàng nô tỳ của phụ hoàng cũng được ăn sung mặc sướng chớ không phải như ở các nhà khác, gia đình chỉ được ăn cơm xấu và thức ăn cũ."

           Bấy lâu nay, trước mặt Thái tử chỉ là cảnh cung vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ đàn ca xướng hát quanh năm suốt tháng, là vợ đẹp, con thơ, là ngôi báu đang chờ đợi.

            Nhưng đến một ngày nọ, Thái tử nãy ra ý kiến xin phụ hoàng đi thăm dân cho biết sự tình. Vua Tịnh Phạn nghĩ cũng đến lúc cho Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta ra ngoài thành để biết đất nước của mình hùng tráng, xinh đẹp như thế nào.

            Vua Tịnh Phạn liền ra lệnh cho dân chúng mọi nhà phải cấp tốc giăng đèn kết hoa, trưng bày một cảnh thái bình thịnh vượng, người người phải lộ nét vui vẻ hạnh phúc, nhất là trên những con đườngThái tử sẽ đi qua.

            Dù đức vua Tịnh Phạn ra lệnh che giấu cuộc sống của dân chúng chu đáo như thế nào cũng không qua mắt được Thái tử. Sau bốn chuyến du ngoạn ngoài thành Thái tử đã quan sátnhận thấy cuộc sống của con người không hoàn toàn hạnh phúc, mà cuộc sống con người bị quay cuồng trong một vòng tròn khốn khổ như hình ảnh một cụ già yếu ớt, mắt mờ, lưng còng, tóc bạc, da nhăn, bước đi rung rẩy phải nhờ một cây gậy chống đỡ. Một người bệnh hoạn đau đớn rên la ngoài đường trông thật thảm thương. Một thây người chết sình thúi đưa lên giàn hoả thiêu đốt trước sự khóc lóc sầu não của người thân còn sống. Bên cạnh đó những người xung quanh chỉ lo chạy đua, tranh giành, chụp giựt, bon chen hằng ngày, không hề có giây phút suy tư tìm cách thoát khỏi cái vòng hệ luỵ sanh, già, bệnh, chết đó! Chừng như họ chịu thua hoàn cảnh khắc nghiệt ập lên cuộc đời ngắn ngủi của họ và cứ tiếp tục thả mình trôi lăn trong biển khổ định mệnh. Riêng Thái tử thì không chấp nhận, Ngài nghĩ là mình phải làm bất cứ giá nào để vượt khỏi sự sinh diệt. Rồi Ngài trầm ngâm tư duy tìm lối thoát ra, nhưng không có cách nào hết.

            Cũng may, ngoài ba cảnh già, bệnh, chết... thì trong chuyến du ngoạn lần thứ tư, Thái tử gặp được một vị đạoBà La Môn nghiêm trang khả kính. Hình ảnh thong dong từ tốn của vị tu sĩ này đã mở cho Thái tử một con đường mà Ngài hy vọng sẽ đạt được giải thoát an vui.

            Trong kinh Trung A-Hàm (Majjhima Nikãya, Phần 1 - Ariyapariyesana Sutta số 26, trang 163) có ghi lại sự suy nghĩ của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta như sau:

            "Chính ta phải chịu sanh, già, bịnh, chết, phiền nãoô nhiễm. Tại sao vẫn mải mê chạy theo những điều mà bản chất cũng còn như vậy. Vì chịu sanh, lão, bịnh, tử, phiền nãoô nhiễm, ta đã nhận thức sự bất lợi của những điều ấy. Hay ta thử đi tìm cái chưa thành đạt, cái tối thượngtuyệt đối của Niết Bàn".

            Nói về cuộc sống tại gia, cũng trong kinh Trung A-Hàm, Phần 1, Mahãsaccaka Sutta số 36, kể lại rằng:

            "Đời sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược, nhưng đời của bậc xuất gia quả thật là cảnh trời minh mông bát ngát! Người đã quen với nếp sống gia đình ắt thấy khó mà chịu được Đời Sống Đạo Hạnh Thiêng Liêng với tất cả sự hoàn hảotrong sạch của nó."

            Nhận định rõ ràng những thích thú vật chất mà phần đông tranh giành nhau đều không thể đem lại lợi ích bền vững, chỉ có sự xuất gia, từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, nên Thái tử Sĩ-Đạt-Ta dứt khoát rời bỏ cung điện với ngai vàng ngôi vua đứng đầu thiên hạ, từ giã người vợ cao sang quyền quý xinh đẹp và đứa con kháu khỉnh dễ thương vừa mới chào đời để ra đi tìm Chân lý Tịch Tịnh trường cửu. Hy sinh tình cảm riêng tư để ra đi không phải Thái tử ích kỷ chỉ nghĩ riêng cho bản thân mình, mà Ngài ra đi để tìm pháp tu hầu tự cứu mình và cứu hàng hàng lớp lớp chúng sanh đang lặn ngụp trong biển khổ, trong đó cho phụ hoàng,  mẫu hậu, vợ con của Ngài.

                                                   

            Từ một Thái tử giàu sang vinh hiển tột bậc. Ngài trở thành một đạo sĩ nghèo nàn, không tiền của, không cửa nhà, sống nhờ lòng từ thiện của bá tánh thập phương. Ngài không có một nơi chốn nào nhất định. Hôm nay, ngủ dưới gốc cây cao bóng mát, ngày mai tạm trú trong một hang đá vắng vẻ hoang vu... Thế nào cũng được, chỉ cần có thể che mưa đỡ nắng cho Ngài trong buổi trưa hè nắng gắt, hay trong đêm khuya gió sương lạnh lẽo là được rồi. Chân không giày dép, đầu không mũ nón, Ngài đi trong ánh nắng nóng bức và trong sương gió lạnh lùng như thế ngày này qua ngày khác. Tất cả xiêm y chỉ là những mảnh vải vụn vặn ráp lại vừa đủ để che thân. Tất cả tài sản chỉ là một bình bát để trì khất thực. Vật thực và bộ y chỉ vừa đủ sống. Ngài tận dụng thời giờnăng lực trong việc tìm kiếm khám phá chân lý.

 

TÌM CHÂN LÝ

            Từ lúc Thái tử bỏ nhà, tự cắt tóc xuất gia tầm đạo đã nhiều lần thất bại suýt mất mạng

            Lúc đầu Ngài tìm cầu học đạo với 2 vị thầy Yoga nổi tiếng thời đó là đạo sĩ Alãrã Kãlama và Uddaka Rãmaputta.

            Học với đạo sĩ Alãrã Kãlama, không bao lâu ngài đắc quả "Vô Sở Hữu Xứ" nghĩa là "Chỗ không có gì". Đây là trạng thái tâm thức thiền gia cảm nhận "không có gì" chung quanh mình trong lúc toạ thiền cũng như sau khi xả thiền. Trong tiến trình này, tuy tâm không dao động, không rối loạn trước các đối tượng (vì đối tượng không là gì), nhưng vẫn còn tự ngã và ý thức cho nên ngã và pháp đều có mặt. Kết quả đã không đáp ứng được mục đích thoát khỏi sanh già bệnh chết, nên Ngài  từ giả vị Thầy ra đi tìm pháp khác, mặc dù vị Thầy này đã yêu cầu Ngài ở lại để cùng hướng dẫn đồ chúng.

            Ngài ra đi tìm học đạo với vị thầy thứ hai là đạo sĩ Uddaka Rãmaputta chỉ trong 3 tuần ngắn, Ngài cũng được vị thầy này ấn chứng cho đã đạt được quả vị cao nhất của hệ thống thiền Yoga là "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ". Đây là trạng thái "không tri giác, mà cũng không không tri giác" nói cách khác là "hoàn toàn không nhận thức điều gì đối với môi trường xung quanh". Trong lúc đó niệm biết rõ ràng không xuất hiện cho nên thiền giả có lúc chìm đắm trong ảo tưởng. Ngài nhận thấy loại định này cũng không đưa đến thoát khỏi ly tham, cũng không đạt được đoạn diệt, an tịnh, thượng trí và giác ngộ. Vì thế dù được vị thầy thứ hai này ấn chứngngỏ ý truyền tất cả đồ chúng để Ngài cai quản và hướng dẫn họ tu tập, nhưng ngài đã nhã nhặn từ chối.  

            Một lần nữa, Ngài từ giã vị thầy thứ hai để ra đi.

            Lang thang qua xứ Ma-Kiệt-Đà, Ngài gặp đạo sĩ Kiều Trần Như và bốn anh em. Cùng với họ, Ngài bắt đầu tu khổ hạnh. Thời đó các vị tu sĩ quan niệm là phải đì thân thật khốc liệt để cảm giác đau đớn nổi lên trên thân thì mới đạt được đạo quả. Các tu sĩ thời đó cho rằng đây là con đường duy nhất không còn con đường nào khác để đạt được Niết Bàn. Trong vòng 6 năm đạo sĩ Cồ Đàm nổi tiếng khắp nơi về việc tu hành khổ hạnh. Có lúc Ngài tu theo hạnh con chó, con bò, có lúc Ngài ngủ trên cỏ gai nhọn, ngủ một giò, không tắm, không cạo râu, không ăn no uống nhiều, chỉ ăn một hạt gạo mỗi ngày. Có khi vào giữa đêm khuya lạnh lẽo Ngài lại trầm mình xuống dòng sông, nước lạnh thấu xương hay nằm chịu đựng cho tuyết rơi phủ cả thân mình. Ngài tự khép mình vào nếp sống cực kỳ kham khổ, cho đến một ngày kia thân hình tráng kiện của Bồ Tát chỉ còn da bọc bộ xương, Ngài xứng danh là đệ nhất khổ hạnh, được mọi người tôn xưng là Thánh nhân.

 

CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO

            Tu khắc nghiệt như thế mà cũng không tìm ra được manh mối gì.  Tiếc thay, càng đì thân khốc liệt bao nhiêu thì Ngài càng xa rời mục tiêu đi tìm Niết Bàn bấy nhiêu. Thực ra, lúc đó Ngài cũng không biết trạng thái Niết Bàn là như thế nào, Ngài chỉ nghĩ đó là trạng thái không phiền não nếu đã tận diệt mọi hình thức ái dục.

             Sau 6 năm dài đày đọa thân thể, tuy thân của Ngài càng lúc càng tiều tuỵ, hai mắt như hai hố thẳm, da nhăn nheo, tóc lông đụng tới đâu thì rụng tới đó, Ngài gầy ốm đến nỗi da bọc xương, đi đứng không vững, nhưng tâm ngài vẫn không bị xao động, cho đến một ngày kia Ngài té xỉu ở bìa rừng, may nhờ cô bé chăn cừu cứu sống bằng chén bột sữa.

             Khi tỉnh dậy, Ngài tỉnh ngộ, nhận ra sự sai lầm của pháp tu khổ hạnh. Ngài nhận ra thân này là quý, vì thân kiệt quệ, mệt mõi thì tinh thần cũng kiệt quệ mệt mõi không thể phát sáng, Ngài liền dứt khoát bỏ lối tu khổ hạnh cực đoan này, cũng như trước kia Ngài đã từ bỏ lối sống cực kỳ lợi dưỡng sung sướng nơi hoàng cung, vì Ngài cho rằng đời sống lợi dưỡng làm chậm trễ tiến bộ đạo đức.

            Bây giờ Ngài chọn con đường độc lập, tức con đường trung đạo, không lợi dưỡng cũng không khổ hạnh, Ngài nhận ra mình phải biết quý cái thân này để mượn nó mà tu.

            Ngài nhớ lại buổi lễ Hạ Điền năm xưa, khi còn thơ ấu, trong lúc phụ hoàng và mọi người chăm chú cử hành lễ hội với các trò vui, Ngài đã ngồi thế nào dưới bóng mát mẻ của cây trâm, tham thiền nhập định và đắc được Sơ Thiền. Càng tư duy, ngài càng thấy rõ đây mới thật là con đường tu tập dẫn đến Giác Ngộ.

            Ngài ngẫm lại thời gian khổ hạnh trong mấy năm qua, dù không đạt được mục tiêu tối hậu, nhưng nhờ pháp này mà Ngài đã tự chiến thắng được chính mình, chiến thắng được lòng tham dục: tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Ngài cũng đắc được nhĩ thông nghe được chư thiên nói chuyện về Ngài.

            Ngài nhận ra rằng với tấm thân mòn mõi khiến tâm không thể hoàn toàn sáng suốt. Bây giờ cái Ngài cần là một sức khoẻ thích nghi rất cần thiết để đạt tiến bộ tinh thần, nên nhất định không nhịn đói nữa mà nhận bánh Kheer của cô Sujatà cúng dường. Sau khi ăn uống tắm rửa sạch sẽ, ngài đến gặp lại các bạn đồng tu là năm anh em Kiều Trần Như để kể cho các vị ấy biết ý định ngưng pháp tu khổ hạnh vì pháp này không giúp ích cho mục tiêu giải thoát của Ngài. Năm vị tu sĩ này thấy Ngài đột nhiên thay đổi phương pháp tu thì lấy làm thất vọng nói rằng: "Đạo sĩ Cồ Đàm đã trở lại ưa thích xa hoa, đã ngừng cố gắng và đã quay về với đời sống lợi dưỡng" rồi họ rời bỏ ngài, đi về phía Vườn Lộc Giả (Vườn Nai / Sarnath). 

 

THÀNH ĐẠO

            Năm người bạn đồng tu đã rời bỏ Ngài ra đi. Còn lại một mình, một cảnh cô độc, Ngài đi dọc theo bờ sông Ni-Liên-Thiền hướng về khu rừng cây rậm rạp khác cách xa làng mạc, ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng. Tại nơi đây vắng vẻ, không bóng người qua lại, Ngài chọn một gốc cây Pipphala to lớn, sau này người ta gọi cây đó là cây Bồ Đề. Ngài trải cỏ Kusha làm toạ cụ, quyết chí tham thiền và thề nếu không chứng đạo dù thịt nát xương tan Ngài cũng sẽ không rời khỏi cội cây này. Nhớ lại pháp thở khi còn nhỏ, bây giờ thử lại Ngài đạt được kinh nghiệm khi xưa, nếu không nói tâm mỗi lúc mỗi yên lặng hơn nhiều, vì thế Ngài nhất quyết chọn pháp này để tu cho đến khi giải thoát. Ngài bắt đầu chú tâm vào hơi thở, rồi buông thả hơi thở, quay vào trong tâm, lặng lẽ thiền định để tìm ra những chân lý cao sâu thâm diệu hầu giải quyết bài toán phức tạp sinh già bệnh chết.

                                           

            Sau 49 ngày đêm, đạo sĩ Cồ Đàm đã lần lượt nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam ThiềnTứ Thiền. Khi tâm Ngài hoàn toàn định tỉnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, bình tĩnh... hướng về tuệ giác liên quan đến sự nhớ lại những kiếp quá khứ của chính mình. Tất cả những gì xảy ra từ nhiều kiếp quá khứ hiện ra trong nhận thức của ngài như một cuốn phim trước mặt. Sanh ra, chết đi, tái sanh.... Hết đời này qua đời khác...Làm con người này, làm con người kia... như thế nào Ngài đều rõ biết. Đây là tuệ giác đầu tiên ngài chứng ngộ vào lúc canh Một của đêm thành đạo, gọi là Túc Mạng Minh.

                                                       

 

            Phá tan được lớp vô minh, tự mình nhìn ra được vô số kiếp của mình. Bây giờ ngài mới hướng tâm về tri giác (hiểu biết) hiện tượng Sanh, Diệt của chúng sanh. Với huệ nhãn tinh khiếtsiêu phàm, Ngài thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ngài biết người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh...v.v... Tất cả đều trải qua diệt và sanh, sanh và diệt, tuỳ hành vi tạo tác hạnh nghiệp tốt xấu thiện ác của mỗi người mà thọ sanh luân hồi trong 6 cõi: trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỹ hay địa ngục... Như vậy với Thiên Nhãn Minh, ngài mục kích sự phân tán và sự cấu hợp trở lại của chúng sanh. Ngài chứng ngộ Thiên Nhãn Minh trong canh giữa của đêm thành đạo.

            Tiếp theo, ngài hướng tâm thanh tịnh về tuệ tri hiểu biết sự chấm dứt các pháp trầm luân. Ngài biết như thật "đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ". Ngài biết như thật "đây là những ô nhiễm (lậu hoặc), đây là nguyên nhân của các lậu hoặc, đây là sự diệt trừ những lậu hoặc, đây là con đường diệt trừ các lậu hoặc". Lần lượt ngài nhận thức tiếp : "Đây là phiền não, đây là nguyên nhân của phiền nào, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường đưa đến chấm dứt phiền não".. v.v... và. v.v... Nhận thức như thế, tâm Ngài thoát khỏi dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), thoát khỏi hữu lậu (ô nhiễm của sự luyến ái đời sống) và thoát khỏi vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh). Ngài chứng Lậu Tận Minh khi trời hừng sáng. Bấy giờ Ngài biết mình đã được giải thoát, Ngài nhận thức rằng: "Tái sanh đã chấm dứt, đời sống Phạm Hạnh đã viên mãn, việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa"  (Kinh Trung Bộ 1, Đại Kinh Saccaka, số 37, trg 541-543)

            Màn vô minh đã hoàn toàn giải toả và trí tuệ phát sanh. Đêm tối đã tan và ánh sáng tràn ngập đến. Đạo sĩ Cồ Đàm lúc đó 35 tuổi. Suốt 6 năm dài đăng đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài, cũng không được sự hướng dẫn từ một năng lực siêu phàm nào, cô độc một mình, tự nỗ lực chiến đấu chính mình và tự mình thắp đuốc mò mẫm đi trong đêm tối. Kết quả đã tận diệt mọi ô nhiễm (lậu hoặc) chấm dứt mọi tiến trình tham áichứng ngộ thực tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật lịch sử.

            Đức Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật lịch sử. Vì sau mấy ngàn năm, tư liệu sử sách vẫn còn để lại:

            Cha: Đức Vua Tịnh Phạn nước Ca-Tỳ-La-Vệ (Bắc Ấn Độ)

            Mẹ: Hoàng hậu Mahãmaya (băng hà sau khi sanh Thái tử 7 ngày)

            Mẹ kế: Vương phi Mahã Pajãpati Gotami (là dì ruột nuôi Thái tử cho đến khi khôn lớn)

            Ngày sanh: Rằm tháng 4 Âm lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, nước Nepal

            Thành hôn với công chúa Da-Du-Đa-La: Năm 16 tuổi

            Đến 29 tuổi có con đầu lòng là: La-Hầu-La

            Bỏ hoàng cung xuất gia: Ngày 8 tháng 2, vào năm 29 tuổi

            Thành đạo: Ngày 8 tháng 12. Năm 35 tuổi tại Buddha Gaya, Ấn Độ

            Hoằng pháp: 45 năm

            Nhập Niết Bàn : Rằm tháng 2, thọ 80 tuổi tại Kusinãrã, Ấn Độ.

            Hiện nay, vẫn còn các thánh tích (Tứ Động Tâm) ghi lại những nơi Đức Phật đã đi qua do các nhà khảo học người Anh tìm thấy. Như Lâm Tỳ Ni là nơi Đức Phật đản sanh. Bồ Đề Đạo Tràng (Buddha Gaya khoảng 10 cây số cách nhà ga xe lửa Gaya) là nơi Đức Phật thành đạo. Vườn Lộc Giả, bây giờ là Sarnath, Ấn Độ, là nơi Đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên, giảng bài kinh Tứ Diệu ĐếVô Ngã Tướng độ cho 5 anh em Kiều Trần Như đắc quả A-La-Hán. Nơi Đức Phật diệt độ là Kusinãrã (bây giờ gọi là Kasi, khoảng 40 cây số cách nhà ga Gorakhpur, Ấn Độ).

                                         

 

KẾT LUẬN

            Đức Phật Thích Ca được tôn vinh là Giáo chủ của tín đồ Phật giáocõi Ta Bà này. Cuộc đời của Ngài cũng có một huyền thoại rất hy hữu. Ngài đã để lại một kho tàng giáo lý giá trịĐạo Phật có khoảng trên 800 triệu tín đồ trên thế giới (hơn 7 tỷ người) và đạo Phật cũng có hệ thống nghi lễ hẵn hoi.

            Như vậy, một mặt đạo Phật cũng có thể được xem như là một tôn giáo, mà hễ tôn giáo thì người Giáo chủ ấy có nhiều huyền thoại về cuộc đời cho nên chúng ta mới có Đức Phật Huyền Thoại. Nhưng ngược lại trong kinh điển Phật giáo để lại người ta thấy rằng Ngài không hề nhận mình là Giáo Chủ mà chỉ là người Thầy trao truyền những phương pháp tu tập, những kinh nghiệm mà Ngài đã trải qua cho những người muốn tu tập để thoát khổ giải thoát, cho nên người ta tôn xưng Ngài là vị Phật lịch sử duy nhất trên cõi đời này. Những danh hiệu cao quý khác khác cũng cho tín đồ của Ngài cung kính tôn xưng mà thôi.

            Nhân ngày lễ Phật Đản chúng ta nghĩ tưởng về người khai sáng ra đạo Phật qua 2 hình ảnh theo 2 truyền thống: Lịch Sử và Huyền Thoại. Truyền thống nào cũng mang lợi lạc cho chúng sanh

            Chúng ta biết rằng Đức Phật khi còn tại thế đã không nhận mình là thần linh, là thượng đế, nên Ngài không ban phát phép lành hay cứu rổi cho bất cứ ai. Ngài chỉ để lại một học thuyết mà qua sự tự tu, tự chứng của Ngài, cho những ai tin và theo học. Học thuyết đó giá trị chủ yếu ở các khái niệm thiện tâm, nhân áibình đẳng. Đó là về mặt cộng đồng, xã hội. Về mặt tâm lý Ngài để lại một kinh nghiệm tu tập để con người thoát khỏi sự kiềm toả của sự đau khổ để được sống trong trạng thái an lạc hạnh phúc gọi là Niết Bàn.

 

                                     

            Đối với giáo lý nhà Phật thì Niết Bàn chính là trạng thái tĩnh lặng, trong sáng, không dính mắc với mọi thứ trên đời này, nhưng vẫn luôn sáng suốttrí huệ bát nhã đã được khai mở phát huy. Người nào kinh nghiệm được trạng thái Niết Bàn là người đó thoát khổ, giải thoát. Như vậy Niết Bàn không phải ở đâu xa mà nó ở ngay trong tâm của người liễu đạo bây giờ và ở đây!

Viết về cuộc đời của Đức Phật không chỉ vài trang giấy là đủ cho nên bài viết này tạm thời được khép lại nơi đây. Với tấm lòng kính quý của người học Phật, chúng tôi chỉ mong trang trải chút hiểu biết sơ cơ của mình để cùng với mọi người ôn lại tiểu sử ngắn gọn của Đức Bổn Sư Thích Ca về hai mặt Lịch SửTôn Giáo nhân mùa Phật Đản, Phật lịch 2559.

            Kính chúc tất cả chư liệt vị thân tâm thường an lạc trong ánh hào quang của chư Phật.

           

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
01/6/2015 DL, Rằm tháng Tư năm Ất Mùi
Phật Đản thứ 2639, Phật lịch 2559

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Reader's Comment
Friday, May 25, 20184:27 AM
Guest
Mot bai viet dung nhu Thich Nu Hang Nhu noi ve tieu su Phat giao va Duc phat Thich Ca khong chi vai trang giay la du nhung theo toi nghi bai viet khong nhung gon gang,mach lac ma con lo rit va tong quat lam cho nguoc doc hieu duoc phan nao ve con duong tu tap kho hanh,gian truan va dac dao cua Duc phat.Rat xuat sac,kinh phuc.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, October 29, 2020(View: 39)
Bài kinh “Thừa Tự Pháp” phát họa cho thấy hình ảnh của người xuất gia chân chánh phải là người “thừa tự Pháp” chứ “không thừa tự tài vật”.
Tuesday, October 27, 2020(View: 164)
Trên đây cô mới nhìn lại quãng đường chúng ta đã đi trong năm nay. Tất cả các đạo tràng đều hoạt động tốt. Theo nề nếp xưa nay. Cô biết các đạo tràng đều tiếp tục sinh hoạt đều đặn, “online”, hay qua điện thoại thăm hỏi lẫn nhau. tới lúc này có lẽ các em cũng quen với cuộc sống mới phải thích ứng với hoàn cảnh hiện tại.
Tuesday, October 27, 2020(View: 74)
Chú ý mà không lời, Nhìn, ngó, biết khắp nơi. Trong đó không người biết, Chỉ có biết không lời, Tánh biết lộ khắp nơi.
Monday, October 26, 2020(View: 78)
Định có tầm không tứ chúng ta phải dùng niệm nói thầm hai từ Không Nói để chúng ta cắt đứt được sự đối thoại thầm lặng trong não chúng ta.
Sunday, October 25, 2020(View: 51)
Ý, lời nhập thể không, Tứ, tầm không khởi động. Tâm ngôn không còn bóng, Nhị Thiền, ta thành công! Vọng tưởng hết khởi dậy, “Nhà Xưa” ta liền thấy! Tánh Giác hiện tròn đầy. Trời xanh không áng mây!
Wednesday, October 21, 2020(View: 734)
Tất cả những giọt mồ hôi âm thầm đó như một nguồn năng lượng thúc giục mình phải bước tới, đem khả năng của mình ra góp vào dòng sống chung của cuộc đời.
Sunday, October 18, 2020(View: 190)
Ở đâu có vô thường, Ở đó có tâm nhiễu nhương xuất hiện, Vì tự ngã có mặt, Dính mắc việc thị phi, Chấp trước việc thường hằng, Sắc, tâm luôn dính mắc.
Sunday, October 18, 2020(View: 165)
Dùng sắc thấy Như Lai, Dùng âm thanh cầu Như Lai, Là thấy Phật trên bàn thờ, Chớ chẳng phải thấy Như Lai.
Monday, October 12, 2020(View: 475)
Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Chiến Đấu Với Vọng Tưởng ngày 10 tháng 10, 2020 qua ứng dụng Zoom.
Saturday, October 10, 2020(View: 230)
Ở đâu có vô thường, Ở đó tâm nhiễu nhương...
Wednesday, October 7, 2020(View: 801)
Thử xem mình có nghe được tiếng con rồng gầm trong khúc gỗ khô, hay chỉ là tiếng con dế kêu rỉ rả?
Sunday, October 4, 2020(View: 491)
1. Thường Chiếu: 00:00 - 2. Viên Chiếu: 10:27 - 3. Huệ Chiếu: 15:31 - 4. Thiến Thất Chân Nguyên: 19:09 5. Chân Không: 20:16 6. Lễ giỗ cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa: 1:02:54 - 7. Trúc Lâm: 1:16:04 - 8. Đại hồng chung mới của Thường Chiếu: 1:33:17 -
Saturday, October 3, 2020(View: 312)
Luân hồi, sinh tử thà ôm chịu, Chân không Diệu hữu đành lìa xa. Nhưng nay tỉnh ngộ; không lười mỏi, Noi dấu Phật chân quyết Về Nhà.
Saturday, October 3, 2020(View: 321)
Ta đã hết rồi chuyện thế gian, Tâm ta thanh thản như mây ngàn, Đâu còn chi nữa mà đem nói, Ý bặt, lời không, óc rổng rang.
Thursday, October 1, 2020(View: 316)
Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Tu Không Thấy Người Tu tại Đạo Tràng Houston ngày 27 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom.
Tuesday, September 29, 2020(View: 1011)
Nghi thức tụng niệm có ích khi mình nhận ra trạng thái tâm của mình lúc đó đang “ly dục, ly pháp bất thiện”. Tâm đang trong sạch. Nhưng chưa thực sự trống không, vì tâm có một chỗ để duyên theo, là kinh sách, là kệ tụng v.v... cho nên phương thức này là bước đầu hỗ trợ mình, có thêm tuệ trí, hiểu biết kinh điển thêm.- Tâm thực sự trống không khi mình đi vào cái Biết không lời vững chắc, nghĩa là ngay cả không còn chủ đề dụng công.
Monday, September 28, 2020(View: 397)
Đời tu thật sống động, Đó đây ta thong dong. Thường sống trong CHÂN TÁNH, Phật gọi cái "VÔ SANH."
Monday, September 28, 2020(View: 281)
An lạc trong tầm tay. Trong ngoài thường an tịnh, Viễn xứ hết linh đinh; An tĩnh ngồi nhà xưa.
Monday, September 28, 2020(View: 404)
Tứ Nhiếp Pháp là pháp môn thực hành của người tu tập đi vào đời nhằm nhiếp hóa, cảm phục lòng người với mục đích cao thượng là giúp mọi người quay về sống trong Phật Pháp dẹp bỏ tham sân si.
Monday, September 28, 2020(View: 519)
Phân biệt CHỈ ( SAMATHA) và ĐỊNH ( SAMADHI) - Áp dung trong thực hành Tứ Niệm Xứ
Wednesday, September 23, 2020(View: 329)
Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài : THIỀN TRONG THỜI MỚI tại Đạo Tràng Sacramento ngày 19 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom.
Wednesday, September 23, 2020(View: 1185)
Nếu nói có Định mà Giới và Tuệ chưa có thì là tà định. Tuệ ở đây là phát huy sáng tạo, là có biện tài, giảng pháp chính xác, lưu loát. Chứ không phải không cần giáo lý, xem thường tuệ, cho là lý thuyết. Một khi con đường đi lệch lạc, thì dẫn tới ý nghĩ và lời nói ra cũng lệch lạc, chỉ vì mình chưa có trí tuệ thực sự. Tóm lại, từ bước đầu tu học, phải có trí tuệ, và bước cuối cũng là phát huy trí tuệ mà thôi.
Monday, September 21, 2020(View: 475)
Trên dòng đời, muôn vạn nẻo chánh tà, Pháp "nhiệm mầu," Tỉnh Thức Biết, ta tùy thân. Lửa Vô Minh dù cho có đến gần, Cũng không đốt được bản thân tánh linh giác.
Thursday, September 17, 2020(View: 408)
Giữ năm giới để tâm mê thuần tịnh, - Để vào đời không vướng mắc linh tinh: - Dâm, sát, đạo, tửu đình, vọng ngữ, - Để tâm người cư sĩ quang minh,
Thursday, September 17, 2020(View: 432)
Chuyến hành hương viếng thăm Phật tích năm 2006 có 2 mục đích: 1. Thầy Thiền Chủ tạo điều kiện thuận lợi để hướng dẫn thiền sinh tại các Đạo tràng Đức, Pháp, Canada, Úc, Mỹ thực tập các chủ đề đã học từ lớp Căn bản đến các lớp Trung cấp Bát Nhã và hướng dẫn thiền sinh chiêm bái các thánh tích để củng cố thêm ý chí hướng đến tâm linh. 2. Giúp thiền sinh nhận rõ giá trị Phật pháp đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh, qua sự tự lực thực hành theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca.
Thursday, September 17, 2020(View: 1618)
Hôm nay cô đặt câu hỏi, chúng ta tùy ý trả lời. Xem như một “trò chơi mới” thôi... Sau khi hiểu ý nghĩa của mười câu xướng đó rồi, mình có thấy được bài học nào cho mình không? - Tại sao chư Tổ đặt ra phương thức hằng ngày mình phải lễ lạy Phật và Tổ? - Mình phải lễ lạy ra sao mới có giá trị? - Tâm mình phải như thế nào? Cô ước mong chúng ta hưởng ứng “trò chơi” này. Ghi lại vài dòng, vài ý nho nhỏ, cũng là có hồi đáp,...
Wednesday, September 16, 2020(View: 982)
Cửa thiên đàng hay cửa địa ngục là do ai? Do mình chọn thôi. Mình làm chủ cuộc đời của mình. Phải luôn luôn nhớ điều đó. Dòng tuôn chảy của cuộc đời từ ngàn xưa vẫn vậy. Mình thấy cuộc đời ra sao? Mình thu nhặt cái gì trong cuộc đời? Là do mình thấy, là do mình thích, là do mình muốn, là do mình chọn.
Wednesday, September 16, 2020(View: 549)
A. THẬN: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế đứng: 00:00 2. Thế nằm: 01:48 B. SUYỄN: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế nằm: 04:02 C. THƯ GIÃN TOÀN THÂN: 06:21 Hướng dẫn lý thuyết: Thầy Thích Thông Triệt. Hướng dẫn thực tập: Thầy Thích Không Như.
Friday, September 11, 2020(View: 509)
Thiền hành trong vô ngôn.- Pháp tu theo Phật dạy: - Niệm Biết giữ không hai, - Ngày ngày ta gắng tập, - Tánh giác sẽ hiển bày. - Dứt khổ, đoạn trần ai.
Wednesday, September 9, 2020(View: 997)
Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài : THIỀN TRONG THỜI MỚI tại Đạo Tràng SanJose ngày 6 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom ( Thu hình từ Saccramento)
Wednesday, September 9, 2020(View: 626)
Khí Công Căn Bản (Phần 5/6): THẤP KHỚP: Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế gót chân: 00:00 2. Thế mép chân ngoài: 2:05 3. Thế mép chân trong: 3:54 4. Thế hai mép chân trong: 5:37 5. Thế nằm ôm nhượng và ngóc đầu lên: 7:42 6. Thế nằm bỏ chân qua một bên: 9:25 7. Thế nằm co chân vô: 11:23 8. Thế lòn chân qua: 13:10 9. Thế nằm co chân và nghiêng thân người: 15:06
Tuesday, September 8, 2020(View: 1434)
Trình bày cốt lõi con đườngg tu của mình 1 cách
Monday, September 7, 2020(View: 830)
“...Chợt thấy Ngôi Nhà Xưa, Chính tại bờ bên này”. Mình không tìm kiếm ở đâu xa xôi nữa. Tâm dừng lại, là đang ở trong nhà. Không cần nhờ ai chỉ đường nữa. Vậy thì thôi, xin rủ áo, buông tay. Giã từ. Ta lại đi chèo thuyền trên dòng sông đời, mặc tình rong chơi.
Monday, September 7, 2020(View: 538)
Chỗ tinh yếu là giữ tâm ngôn cho thuần tịnh, - Chỗ buông lời không một niệm dính hai bên. - Đường Về Nhà là lối đến Không Tên, - Phải ghi nhớ, nếu quên thì lạc lối. -
Wednesday, September 2, 2020(View: 1511)
Thiệt ra cô viết mấy dòng nầy cũng như là cô đang nhắc nhở chính cô thôi. Cô cũng đã nhìn thấy dòng thời gian trôi qua, như gió thổi mây phải bay. Mây có bao giờ cưỡng chống lại... Vậy đó. Cô đã dự tính cho cô: sống đơn giản, tu đơn giản, và đi cũng đơn giản, nếu cô được cái phần thưởng cuối cùng này.
Wednesday, September 2, 2020(View: 282)
Khi ý thức không còn dậy sóng, Nội tâm ta liền vắng bóng tâm ngôn, Ngay lúc ấy tâm hồn ta an lạc, Chẳng đeo sầu, chẳng chua chát, khổ đau.
Tuesday, September 1, 2020(View: 1175)
Tới đây, cô tạm ngừng. Xem như “con đường mòn tâm linh” đã vẽ rồi, chúng ta cứ yên tâm bước tới. Đi tới đâu là tùy mỗi người thôi. Mỗi người là tác giả của dòng sống của riêng mình. Mỗi kiếp sống là tác phẩm của chính mình sáng tạo ra. Đau khổ hay hạnh phúc là tự mình vẽ ra cho mình. Cảnh đời bên ngoài cũng là tác phẩm của chính mình sáng tạo
Tuesday, September 1, 2020(View: 808)
Ni Sư Triệt Như trình bài đế tài tổng hợp thuộc về Lý Thuyết liên quan đến THỰC HÀNH THIỀN - (tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 31 tháng 5, 2016)
Saturday, August 29, 2020(View: 585)
Khí Công Căn Bản (Phần 4/6): TIM MẠCH: Thở bình thường 1. Thế đánh hai tay lên xuống: 00:00 2. Thế đánh hai bàn tay tréo qua tréo lại trước mặt: 2:19 3. Thế đánh xéo tay lên xuống kết hợp với khuỵu đầu gối: 3:12 4. Thế đánh cổ tay: 4:44 5. Thế đánh tay và xoay thân mình: 5:53 6. Thế đứng nghiêng thân người và cúi xuống: 7:02 Thở theo nguyên tắc 1-4-2
Saturday, August 29, 2020(View: 573)
Vô Tướng chính là đây, Vô Nguyện không thể thấy..., Nhưng Không Tánh đủ đầy. Chân như đã nội tại, Trong nhận thức không lời, Gió dừng sóng êm vỗ Bát Nhã ta đến nơi.
Thursday, August 27, 2020(View: 1330)
Tới đây cô tạm chấm dứt phần đúc kết các bài học nhỏ trong mấy tháng qua. Về phần mình, các em cũng nên nhìn lại chặng đường mình đã đi trong mấy tháng qua như thế nào? Tâm của mình chuyển hóa ra sao, có bình an trong khi cuộc đời xáo trộn? Trí tuệ có hiểu sâu sắc hơn về những biến chuyển của cuộc đời?
Wednesday, August 26, 2020(View: 756)
AUDIO: Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT đọc lời giới thiệu Diệu Như & Minh Đạo diễn ngâm - Đạo tràng Houston TX thực hiện
Wednesday, August 26, 2020(View: 703)
Thở theo nguyên tắc 1-4-2 1. Thế sư tử ngồi nghinh thiên: 00:00 2. Thế nằm: 1:54 3. Thế nằm co hai chân lại: 4:08 4. Thế nằm ngóc đầu lên, hai gót chân sát sàn nhà: 6:15
Friday, August 21, 2020(View: 663)
Niết-bàn là một đạo quả, một chứng ngộ, một trạng thái tinh thần với trí tuệ rốt ráo mà con người đạt được.
Wednesday, August 19, 2020(View: 1101)
Thầy Thích Không Chiếu: BƯỚC ĐẦU VÀO THIỀN Hướng dẩn cách thực hành Thiền đơn giản
Wednesday, August 19, 2020(View: 1247)
Riêng vị thiền sư Nhật bản này có hơn 10 đệ tử sáng đạo. Thật là một việc phi thường. Chúng ta tìm hiểu xem nguyên nhân nào dẫn tới kết quả đó? Có thể từ kinh nghiệm này, mình ứng dụng cho mình để mình cũng đạt được kết quả sáng đạo.
Wednesday, August 19, 2020(View: 772)
Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT hướng dẩn Khí Công Căn Bản phần 2/6: THỞ NỘI LỰC
Wednesday, August 19, 2020(View: 653)
Tuyển Tập Thơ THÔNG TRIỆT: Kiến Tánh AUDIO: Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT đọc lời giới thiệu AUDIO: Diệu Như (Quảng Diệu) diễn ngâm
Wednesday, August 12, 2020(View: 1104)
Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT hướng dẩn Khí Công Căn Bản (phần 1/6): GIỚI THIỆU Sơ lược về TÁC DỤNG của THỞ KHÍ CÔNG và NGUYÊN TẮC 1- 4- 2
Wednesday, August 12, 2020(View: 1159)
THIỀN NHẬP THẾ phần 2 Dành cho người có kinh nghiệm Định
Wednesday, August 12, 2020(View: 1592)
Mình có thể xem ngài Đại Mai như tiêu biểu cho lối sống và trí tuệ của thiền sư hay không? Cốt lõi của Thiền là sao? Kho báu trí tuệ của mình ở đâu? Sống Thiền là thế nào? Chúng ta có thể ứng dụng như thế nào cho chính mình?
Wednesday, August 12, 2020(View: 1296)
Nhưng nếu mình đứng lại, thì là mình tới nhà rồi. Tâm đứng yên, là đang ở trong nhà. Còn tìm gì ở đâu nữa? Cho nên một thiền sư xưa đã nói: “Một niệm vô sanh, đạt niết bàn”. Con đường Thiền đó- tạm nói vậy- chứ nếu còn con đường phải đi, thì là chưa tới.
Thursday, August 6, 2020(View: 1450)
THIỀN NHẬP THẾ phần 1: Dành cho người mới học Thiền hay Thiền mà không có kết quả
Wednesday, August 5, 2020(View: 1986)
Hôm nay cô cho một chủ đề khác: “Con Đường”. Các em có thể đi trên con đường, hay ngồi nhìn con đường, hay đứng nhìn con đường. Con đường nào cũng được... Thực tập khoảng 15 phút cũng đủ. Mong rằng các em nhìn ngắm con đường, thấy cảnh ra sao, tâm ra sao?
Wednesday, August 5, 2020(View: 1200)
Mình học được bài học nào, qua truyện ngài Angulimala? Mỗi em tự suy gẫm. Mình đã đứng lại chưa? Nếu mình còn đi, tức là mình chưa đứng lại. Nhưng nếu mình chưa đi, mà mình đứng lại, thì sao?
Wednesday, August 5, 2020(View: 1010)
Đức Phật giáo hóa đệ tử với tâm bình đẳng, khách quan, nhưng mỗi người tùy theo căn tánh, khả năng riêng mà tu tập và tiến bộ khác nhau. Vậy chúng ta hãy suy gẫm xem mình là hạng đệ tử nào, mình có những ưu điểm nào, hay còn khuyết điểm đã khiến cho mình chưa đến nơi mà mình muốn đến?
Saturday, August 1, 2020(View: 723)
Hạnh lắng nghe là phương pháp tu quan trọng có khả năng trị liệu và chuyển hóa. Chuyển hóa nhận thức của người và chuyển hóa chính tâm thức của chính chúng ta.
Thursday, July 30, 2020(View: 920)
Mỗi tuần 1 bài thơ Thầy (trích trong THÔNG TRIỆT các Tác Phẩm / Tuyển tập Thơ) Diệu Như diễn ngâm - Đạo tràng Houston TX thực Hiện
Thursday, July 30, 2020(View: 1928)
Hôm nay, cô cho chủ đề số 3. Chủ đề này sẽ trừu tượng hơn một chút. Chủ đề: “quan sát Tâm” của mình... Các em thực tập rồi ghi lại, khoảng 5 lần, nhận thấy tâm mình ra sao?
Thursday, July 30, 2020(View: 1123)
Kết luận, trong nhà Thiền, điều kiện thực hành là quan trọng, thực hành trong khi tọa thiền, và thực hành trong đời sống. Thực hành : Quán, Chỉ, Định, và Huệ. Chúng ta không quên Giới, vì Giới là quan trọng, là nền tảng vững chắc của phẩm hạnh thanh cao của con người. Giới là bước tu tập đầu tiên để chuyển Nghiệp của mình.
Thursday, July 30, 2020(View: 1172)
Đập vỡ cây đàn làm chi hỡi Bá Nha? Cứ khảy đàn đi, vẫn còn vầng trăng sáng năm xưa đang thấy, vẫn còn dòng nước trong veo bến Hán Dương đang nghe, kìa là hoa lá cũng rộn ràng một vũ điệu vô tư theo tiếng nhạc.
Thursday, July 30, 2020(View: 952)
Tất cả cũng chỉ là cõi tâm của một người. Xem như cô tặng cho các em những mảnh vụn trò chơi “puzzle”, ai biết thì ghép lại làm thành một bức tranh tâm của một đời phù du.
Thursday, July 23, 2020(View: 1507)
Ni sư Triệt Như trình bày, đút kết lại những bước cần thiết trên con đường tâm linh của chúng ta, Bài giảng dành cho những Thiền Sinh mới làm quen với Thiền nhưng cũng hướng tới mức độ cao hơn cho những vị đã tu tập lâu năm
Wednesday, July 22, 2020(View: 1445)
Từ có nhận thức rõ ràng về tâm biết tĩnh lặng trong sáng này, mình cứ kiên nhẫn thực hành hoài trong đời sống hằng ngày là mình sẽ đạt được tất cả: sức khỏe tốt, hài hòa trong tất cả hoàn cảnh sống, chính mình an lạc và đem an lạc tới cho tất cả mọi người khi mình tiếp cận.
Wednesday, July 22, 2020(View: 1159)
Mấy năm sau này cô chỉ hướng dẫn khóa Bát nhã đặc biệt với cách hướng dẫn uyển chuyển khác nhau trong từng đạo tràng. Đạo tràng nào thấy cần bổ túc phần nào thì bổ túc. Mà phần thiếu nhất là Kinh Nikàya, cần học thêm để tăng niềm tin và để mình không xa rời những lời dạy của Đức Phật. Muôn đời, những lời dạy của Đức Phật là khuôn mẫu vô giá cho người đời sau.
Wednesday, July 22, 2020(View: 1136)
"Xin đừng hỏi nữa, hãy ngồi lắng nghe Tiếng tùng bách khi không gió lộng." - Hãy im lặng lắng nghe! Nghe gì? Không có gió thổi, vậy cây tùng cây bách có âm thanh hay không?
Friday, July 17, 2020(View: 2059)
Trên đây, cô tạm đúc kết lại tiến trình cái thấy của mình, bắt đầu qua một chủ đề tầm thường, nhỏ nhoi, thực tiễn, là “một chiếc lá”. Mà chiếc lá có nói gì với mình không, hở các em? Tới đây, mình đã hiểu “Kinh Vô Tự”, mới là chân kinh.
Thursday, July 16, 2020(View: 892)
“Pháp Tu Sám Hối” trong đạo Phật không phải là nghi thức rửa tội để được sạch tội, mà sám hối mang đủ hai yếu tố “nhận lỗi và sửa lỗi”. Nhờ có sửa lỗi nên tội trước được giải trừ, tội sau mới không sinh khởi.
Wednesday, July 15, 2020(View: 1515)
Nhưng là người tu thực sự thì tự mình phải biết rõ chính mình... Không cần nói ra, không thể nói ra. Nhưng mình vẫn lảnh cái hậu quả của cái tâm thức sâu kín của mình, trong đời này và đời sau nữa. Có khi nó là tùy miên, mình không biết được. Nhưng những giấc mơ, nó sẽ báo cho mình biết. Cám ơn những giấc mơ.
Wednesday, July 15, 2020(View: 1079)
Hình ảnh Đức Phật và các vị thánh đệ tử của ngài là tấm gương sáng muôn đời cho chúng ta.
Wednesday, July 15, 2020(View: 1068)
Kết luận, tâm được tu tập là con đường dẫn tới hạnh phúc, nói theo ngôn ngữ thông thường. Tâm không được tu tập dẫn tới khổ đau. Mà tâm không biết tu tập, không gì nguy hiểm bằng chọn lầm người bạn đường. Khổ cho cả 3 đời: cha mẹ, mình và con.
Wednesday, July 15, 2020(View: 909)
Khi mình có cái “rõ biết tâm mình” trong mọi lúc, thì mới xem như “thần thông” của Thiền. Còn nếu chỉ nói về ích lợi của kỹ thuật, thì đó là “thần thông” của thế gian thôi.
Thursday, July 9, 2020(View: 1951)
Như vậy, mình thử ngẫm nghĩ xem mình thích hợp với phương thức nào, mình muốn vào bậc nào theo ngài Tường Quan Chiếu Khoan, hay mình thích tu theo ngài Ô Sào?
Thursday, July 9, 2020(View: 2611)
Hôm nay cô muốn chúng ta thử áp dụng “Như Lý Tư Duy”. Tất cả mọi người đều được khuyến khích tham gia, xem như một “trò chơi mới” hay như “đố vui để học” trong thời điểm đặc biệt hiện giờ “rảnh rang mà chưa thanh thản”. Chủ đề cô đề nghị là < Một chiếc lá>
Thursday, July 9, 2020(View: 1039)
Vậy hôm nay cô nhắc lại cho các em một bữu bối thần diệu, có thể soi chiếu thấy tới đời vị lai, mà Đức Phật với lòng từ mẫn, đã ban cho mình.
Thursday, July 9, 2020(View: 1204)
Kết luận, trong một đời tu cần phải có nhiều lần ngộ. Mỗi lần ngộ là ta được giải tõa khỏi một bế tắc nào đó, trí tuệ phát huy thêm rộng và sâu sắc hơn.
Thursday, July 9, 2020(View: 1033)
Nói gọn lại là: Phải nhớ cái bản thể của cuộc đời là ...Là gì? - Là Trống Không. - Là Như Huyễn mà thôi. Thì lập tức cái tâm của mình dừng lại ngay.
Wednesday, July 8, 2020(View: 878)
Kết quả cuối cùng của “Giới-Định-Huệ” và “Bát Chánh Đạo” có điểm giống nhau là thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Như vậy hai pháp này có sự tương đồng với nhau.
Thursday, July 2, 2020(View: 1303)
Nếu có người muốn thấy, làm sao thấy được, Khi có chủ thể thì có đối tượng, tức sẽ không thấy gì hết, chưa thể nhập. Chỗ nầy là bặt lời tức Atakkàvacara, ngoài lý luận. Chỗ này, kinh Hoa Nghiêm nói là:”Sự sự vô ngại pháp giới”.
Thursday, July 2, 2020(View: 1186)
Tập hạnh nhẫn nhục, dù có oan ức, cũng không biện minh. Đó là hạnh của Ba la mật: Nhẫn nhục ba la mật. Nếu là vàng ròng thì không sợ lửa. Có thử lửa, người đời mới biết đó là vàng ròng .
Thursday, July 2, 2020(View: 1202)
Thầy xua mình ra trận, Thầy đã cho mình nhiều bữu bối rồi. Cô thích nhất bữu bối Như Huyễn…. Bên ngoài thấy như chiêm bao, thì bên trong êm re... Trí Huệ Bát Nhã chính là “Vô ảnh kiếm,” hay “Vô hình kiếm,” hay “Vô tướng kiếm”, mỗi người chúng ta đều có, xin nhớ lấy ra mà dùng.
Thursday, July 2, 2020(View: 1197)
Ai có thử mở kho tàng được, lượm được cái gì, nhớ cho cô biết với nha. Còn ai từ trước, thở ra thở vô rồi mở cửa kho tàng, bây giờ thử câu thần chú này, cũng sẽ mở được kho tàng dễ dàng. Rồi tới bước cuối cùng, không cần dùng câu thần chú nữa, vì sao ?
Thursday, July 2, 2020(View: 1328)
Tóm lại, dù là tu sĩ hay cư sĩ, con đường đi cũng chỉ là một. Là hướng tới sự an lạc thực sự, lâu dài, cho mình và cho người.... Tạo ra nếp sống hài hòa an lạc bản thân với người khác quanh mình....cùng chung nhịp điệu chuyển hóa tuyệt diệu của trời đất bao la này.
Thursday, June 25, 2020(View: 1331)
Một khi đã ra đi, thì không bao giờ trở lui lại. Chúng ta đã chọn con đường Thiền, là con đường tâm linh, thì phải dấn bước đi tới hoài, Đó là ý nghĩa của “Quyết định ba la mật” cũng là quan niệm của người tu sĩ, theo lời giảng của Thầy chúng ta
Thursday, June 25, 2020(View: 1235)
Như vậy chúng mình đều đang có thần thông: người viết, người đọc, hai bên hiểu nhau. Dù xa cách ngàn trùng. Không thấy mặt mà thấy tâm nhau. Đó là thần thông của Thiền.
Thursday, June 25, 2020(View: 1255)
Cuộc đời của thiền sư, như đóa hoa quỳnh, trong trắng nở tròn đầy trong đêm tối, hương tỏa phảng phất. Nhưng trên đời có mấy ai hay, biết thưởng thức hương sắc đóa hoa quỳnh.
Thursday, June 25, 2020(View: 1386)
Tu tại gia và tu chợ là khó vô cùng. Tu chùa là dễ nhất. Vì sao? Rất khó giữ được: “ Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” .
Thursday, June 18, 2020(View: 1675)
Kinh có chữ tràn đầy kia, ghi lại lời Phật.. Vậy Phật có nói pháp. Pháp ở đâu? Trong kinh à? Hay ở ngoài vườn? Hay ở trong tâm? Tâm của ta hay tâm của Phật? Hay Phật của tâm ta?
Thursday, June 18, 2020(View: 1418)
Chúng ta tự nhận là con Phật, vậy nhớ cẩn thận lời nói của mình. Vì lời nói là biểu hiện của Tâm. Tâm ma thì .
Thursday, June 18, 2020(View: 1308)
Vì thiệt ra, giáo thọ hay không, tất cả chúng ta đều cùng đi trên một con đường. Cùng nhìn về một hướng. Là hướng tự rèn luyện tâm của chính mình, có trị tuệ và có từ bi. Trí huệ là cửa ngõ đi vào trọng trách “sứ giả Như Lai”. Không còn cách nào khác.
Thursday, June 18, 2020(View: 3865)
Khóa An Cư Tại Tổ Đình
Thursday, June 18, 2020(View: 1016)
Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là đại Bồ-tát làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo, dù phải xuống địa ngục. Đại Bồ-tát thì đúng ra chúng ta phải lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi.
Thursday, June 18, 2020(View: 1057)
Như vậy, Phật, như thiện tri thức, Ma, như ác tri thức. Cả hai đều giúp ta nhận ra con đường tu tập tiến tới an vui hạnh phúc thực sự, trong hiện đời và những đời sau nữa.
Wednesday, June 17, 2020(View: 1255)
Ni Sư Triệt Như giảng về nguồn gốc lịch sử của bài Kinh Vô ngã tướng, phân tích nội dung năm thành phần: sắc, thọ, tưởng, hành, thức của Ngũ Uẩn, và liên hệ việc ứng dụng thực hành tu tập cho thiền sinh.
1,169,465