BỨC TRANH THỨ BA

Mùa xuân năm đó… tại BODH GAYA
Kể từ ngày theo cha dự lễ Hạ Điền, dường như chương trình học của thái tử Siddhattha càng lúc càng nhiều hơn. Vua đã mời thêm nhiều vị thầy nổi tiếng ở khắp các xứ xa xôi đến tận kinh thành trui rèn cho thái tử và chung cho các vị hoàng tử kia. Nào là học và thảo luận mấy bộ kinh Veda phức tạp, rồi trình bày lại cho thầy kiểm tra mỗi ngày, nào là luyện tập cưỡi ngựa bắn cung, đánh võ đi quyền, nào là cưỡi voi tập trận, cũng không quên học đạo đức làm người, càng chú trọng tới tài lãnh đạo, làm sao thu phục nhân tâm, thế nào cho nước giàu dân mạnh, bang giao ra sao để tránh xung đột đưa tới nước mất nhà tan, v.v.
Suốt mấy năm ròng rã, thái tử vùi đầu trong kế hoạch giáo huấn nghiêm khắc của vua cha. Môn học nào thái tử cũng tinh cần, hiểu biết đúng và tập luyện nghiêm chỉnh; các vị thầy đều bằng lòng, trình lên vua, vua thêm mãn nguyện và an tâm.
Thấm thoát, thái tử đã lên 16 tuổi, cao ngang suýt soát vua cha rồi, nhờ tập luyện võ nghệ mỗi ngày, chàng lớn lên như cây sa la vững chãi kia. Dáng đi khoan thai mà vững chắc, mắt nhìn từ ái mà không cười. Cha mẹ biết con mình đã trưởng thành. Vua Suddhodana triệu tập những người thợ giỏi trong xứ về kinh thành xây cung điện thích hợp cho ba mùa: một tòa cung điện cho mùa mưa, một tòa cung điện khác cho mùa đông lạnh giá, và một tòa cung điện nữa cho mùa hạ nóng bức. Trong thời gian này, nhà vua mở một lễ hội vui, tạm cho là “thi đua về võ nghệ và trí tuệ” giữa các vị hoàng tử Sakka, những vị công tử giai cấp Bà la môn đều được tham dự. Cuộc thi đua này mở ra, công chúng đều có thể tới xem, Vua đặc biệt cho phép quan quân và tất cả người trong kinh thành đều được tới xem. Vua lại gởi thư chính thức mời vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamita xứ Koliya và cả công chúa Yaśodharā, con gái của họ lúc đó cũng 16 tuổi.
Vua Suppabuddha là anh của bà Mahā Māyā và bà Pajāpatī Gotamī.
Còn hoàng hậu Pamita là em của vua Suddhodana.
Thuở xưa, vì muốn giữ gìn huyết thống trong sạch nên người trong cùng giai cấp và huyết thống thường kết thân với nhau. Bấy giờ, vua Suddhodana khởi ý muốn giới thiệu con trai yêu quí của mình với gia quyến vương tộc xứ Koliya.
Kết quả cuối cùng, mấy ngày Lễ Hội thi đua này là thái tử Siddhattha chiến thắng tất cả các cuộc tranh tài, ngay cả hoàng tử Devadatta cũng phải chịu thua, nhưng khởi tâm uất hận.
Thế là hôn lễ cử hành huy hoàng, giữa hai xứ càng thắt chặt tình thân. Thái tử Siddhattha và công chúa Yaśodharā từ đây là chủ nhân của ba tòa cung điện, yến tiệc, múa hát, vui chơi. Vua cha mãn ý, yên tâm, con trai yêu quí của mình đã bị gia đình ràng buộc rồi.
Trải qua nhiều lần xuân đến rồi xuân đi, yến tiệc, vui chơi, múa hát mãi cũng phải nhàm chán, một buổi sáng kia, thái tử bảo Channa, người thanh niên điều khiển xe song mã của mình, đưa mình đi dạo chơi bên ngoài kinh thành. Một mình. Lần đầu trong đời, được du ngoạn một mình. Không có quân lính bảo vệ, không có người hầu. Không có thông báo cho dân chúng.
Ra khỏi kinh thành, hít thở không khí trong lành mát rượi, đời sống tươi đẹp biết bao. Ruộng lúa xanh tươi bát ngát, mấy anh thanh niên, mấy cô thiếu nữ khỏe mạnh đang lui cui tưới nước thêm vào ruộng. Chợt thấy bên đường, trước một mái nhà tranh cũ kỹ, một người ốm yếu, tóc bạc trắng, lom khom tay cầm cây gậy nhỏ, đi từng bước khó khăn chậm chạp ra sân trước nhà, ráng ngước mắt lên nhìn chiếc xe song mã sang trọng, dát bạc lấp lánh sáng trưng trong nắng, tiếng lục lạc reo vui theo từng bước đi nhịp nhàng của hai con bạch mã. Thái tử cảm thấy một chút gì đó trong tâm, Ngài ra dấu cho Channa dừng lại và quay xe trở về. Buổi du ngoạn không còn thú vị nữa.
Ít lâu sau, Ngài bảo Channa sáng nay ta muốn du ngoạn nơi phố chợ đông người chắc sẽ vui hơn. Người qua lại đông quá, bận rộn mua bán, cười đùa, áo đủ màu, khăn quàng tha thướt. Chợt thái tử trông thấy một người đang đi, gầy gò, run lẫy bẫy, rồi bỗng ngả xuống đất, nằm yên; mọi người gần đó rối rít bước tới giúp đỡ. Chiếc xe song mã vẫn tiến tới, thái tử còn quay đầu lại nhìn, rồi đám đông che khuất hẳn. Ngài nói với Channa, ta muốn trở về. Sao cuộc vui nào cũng không trọn vẹn? Bây giờ ta mới có 29 tuổi, ta có thể nâng một cái đỉnh đồng to lớn bằng hai cánh tay cứng chắc của ta trong tiếng hoan hô cổ võ của cha mẹ và dân chúng; nhưng rồi sao nữa? Rồi tới lúc nào đó, ta sẽ gầy còm, tóc bạc, chống gậy run run, rồi có khi sẽ ngả lăn ra đất.
Trở về cung điện, Ngài thẫn thờ, không tha thiết tới những nhan sắc diễm lệ, tiếng hát, tiếng đàn… Thái tử đã nhắc nhở Yaśodharā khi hai người ngắm trăng đêm đó: “Nàng có biết không, một ngày nào, chúng ta sẽ già đi, tóc bạc, ốm yếu, chống gậy bước đi run run, có khi ngả xuống đất…”. Công chúa Yaśodharā xúc động, nàng nắm bàn tay chàng, ngập ngừng: “Thái tử, chàng có biết không, chúng ta sắp có con…” Thái tử mắt sáng lên vui mừng, nhưng rồi chàng lại thẫn thờ: “Thiệt là chướng ngại…”
Một buổi sáng, nàng Yaśodharā bảo Channa hãy đưa thái tử đi dạo một vòng dọc theo bờ sông Rohini, thiên nhiên tĩnh lặng vắng người, cho Ngài khuây khỏa. Thế rồi, trước khi tới gần bờ sông, trên đường vắng, từ xa Ngài trông thấy một nhóm người đang than khóc, đi theo một cái cáng gỗ, một vật gì quấn chặt trong tấm vải đỏ được khiêng đi. Ngài quay qua nhìn Channa. Channa thản nhiên nói, một người đã chết, họ mang đi thiêu và tro tàn sẽ quăng xuống sông này. Thái tử nghe nhói trong tim, Ngài ra dấu quay ngựa trở về. Quang cảnh hai bên đường như nhòe đi, như có một giọt mưa rơi xuống.
Đêm đó, ngồi bên nhau dưới ánh trăng, thái tử nói cho Yaśodharā biết, chúng ta rồi một ngày nào cũng sẽ già, sẽ bệnh và sẽ chết như tất cả mọi người. Làm sao?
Yaśodharà chỉ nói nhỏ như nói với riêng mình: “Còn con chúng ta”. Chàng cũng thì thầm một mình: “Đó là chướng ngại.”
Một buổi sáng, nắng ấm, trời trong, thái tử một mình ra tàu ngựa. Con ngựa kiền trắc của riêng chàng, là một con chiến mã cao lớn, oai nghi, như một tặng phẩm của vua cha dành cho thái tử. Chàng vỗ nhẹ vào lưng con tuấn mã, rồi chàng dắt nó ra sân, phóng lên lưng nó, con tuấn mã hiểu ý chủ, hí lên một hơi dài. Quay đầu nhìn lại, nàng Yaśodharā bên trong cửa sổ nhìn ra, chàng dơ tay chào rồi thúc ngựa như bay ra ngoài cổng hoàng thành. Chàng cứ để cho con tuấn mã, bạn thân của chàng, muốn đi đâu tùy ý. Rẽ qua một con đường làng, một dãy nhà tranh khang trang, tiếp theo là vườn cây trái bóng mát, nắng đã lên cao, thái tử cho ngựa chậm lại rồi dừng dưới bóng mát. Chàng muốn nghỉ chân.
Xa xa, có một bóng áo vàng bạc màu đang đi chầm chậm tiến tới. Gần hơn một chút. A! Thì ra một người tu, nhà trước mặt dâng thức ăn, vị tu sĩ nghiêng mình cám ơn, rồi từ từ bước tới ngồi dưới một bóng mát, lặng lẽ ăn. Thái tử lặng lẽ chờ đợi vị tu sĩ ăn xong, đứng lên, Ngài mới bước tới chào cung kính, rồi thưa hỏi. Được biết vị tu sĩ đã rời khỏi gia đình, sống đời lang thang, đi tìm thầy tu tập để mong thoát ra khỏi nỗi khổ của già, bệnh và chết. Nhìn thẳng vào mắt chàng trai trẻ, vị tu sĩ trẻ mỉm cười rồi nghiêng mình từ giã, quay đi khoan thai, từng bước chân xa dần. Thái tử chấn động trong tâm, chàng phóng lên lưng con tuấn mã, thúc ngựa về nhà, nhưng trong tâm chàng quyết định sẽ rời nhà ra đi.
Đêm nay, trăng vẫn sáng mà tâm chàng không sáng. Hồi chiều, sau khi vua cha xong việc trở vào cung, thái tử đã thân hành đến gặp phụ vương để xin thưa chuyện. Sau mấy đêm không ngủ, chàng đã bạo gan quyết định phải thưa chuyện với cha, mong cha chấp nhận việc từ khước vương vị thái tử. Chàng đã thưa chuyện với mẹ hôm qua trước rồi, bà chỉ lặng thinh, nước mắt chảy dài. Chàng thở dài, đứng lên chào mẹ rồi ra về. Lòng nặng trĩu. Còn chiều nay, chàng lấy hết can đãm, trình với phụ vương. Chờ đợi cơn giận của cha. Nhưng không, ông chỉ nhìn chàng, lắc đầu, nước mắt dường như long lanh. Chàng chỉ biết cúi đầu rồi lặng lẽ ra về, bước đi nặng trĩu.
Đêm nay, phải, trăng vẫn sáng mà tâm chàng thì rối bời. Chàng kể cho Yaśodharā nghe về mẹ và cha, còn nàng thì sao? Chàng thấy Yaśodharā ngước lên nhìn trăng và dường như có tiếng thở dài. Ba người thân yêu nhất trên đời đã không ngăn cản chàng, nhưng chàng biết nếu chàng ra đi, cái để lại chỉ là nước mắt.
Một thị nữ rối rít đi vào cung thái tử, thông báo tin vui: Công chúa đã sinh một hoàng nam rồi. Thái tử mỉm cười; trong mấy tháng nay không thấy Ngài cười bao giờ. Ta được làm cha. Và rồi ngài lại cười vui lần nữa, bài toán bế tắc bỗng nhiên được giải, ngôi vị thái tử đã có người thay ta.
Đêm nay, Ngài quyết định ra đi. Ngài trở dậy khi trăng đã lên cao, lặng lẽ băng qua cái hành lang dài đến phòng công chúa. Hai người thị nữ thấy thái tử vội cúi mình chào, Ngài ra dấu yên lặng. Rồi nhẹ bước vào, nàng đang ngủ yên, chàng bước tới cúi xuống nhìn mặt con trai của mình, nắm bàn tay nhỏ xíu của con, rồi ngước lên nhìn Yaśodharā một lần nữa, Ngài bước lui lại rồi ra cửa. Có lẽ Yaśodharā hay biết tiếng chân nhè nhẹ tới gần mình, rồi tiếng động bên con trai mình, nhưng nàng không mở mắt vì nàng biết đó là ai. Nàng sung sướng đã tặng chàng một tác phẩm vô giá. Mãi một lúc sau, nghe tiếng vó ngựa xa xa, dường như từ cổng thành và rồi mất hút trong đêm, nàng chợt rúng động. Thôi, ta đã mất chàng! Khi đó thái tử và nàng mới 29 tuổi.
Từ khi rời hoàng cung, Ngài đã sống đời tu sĩ. Qua bao khó nhọc, quyết tâm, Ngài đã thử nghiệm tất cả những cách tu thời đó mà kết quả không phát huy thượng trí và kinh nghiệm Niết Bàn. Phần này xin lướt qua.
Trải qua sáu năm tu theo các cách sai lầm, bây giờ Ngài 35 tuổi. Đã bỏ ra một thời gian quá dài; sáu năm trời đăng đẳng, dầm mưa dãi nắng, trong bãi tha ma, trên núi đồi, trong rừng hoang… mà chưa đạt mục tiêu là chấm dứt khổ, càng hành hạ thân tâm, càng thấy khổ thêm. Ngài nhận ra Trung Đạo. Phần này cũng xin lướt qua.
Bây giờ, thức tỉnh, chạy theo tìm cầu ráo riết bên ngoài có ích gì đâu. Ngài bế tắc, buông tất cả ý muốn tìm cầu. Sống bình thường trở lại, đi khất thực mỗi sáng, sức khỏe lần lần phục hồi. Tâm thảnh thơi. Bấy giờ, mới chợt nhớ lại hồi mình còn thơ ấu, cái ngày theo cha đi dự lễ Hạ Điền. Cái kinh nghiệm ngày xưa bỗng chốc xuất hiện rõ ràng. Ngài ngồi lại, tâm tĩnh lặng, thanh thản từ từ đi vào tĩnh lặng sâu hơn, rồi thênh thang, không còn thời gian không gian nữa… Sáng trưng, nhẹ hẫng, không còn gì… niềm vui tuôn tràn, mát lạnh… Cho tới khi mở mắt ra, trời đã về đêm. Ánh trăng sáng vằng vặc, nở nụ cười với trăng, trăng ơi, trăng đẹp quá.
“Ngài tự hỏi: Đây có phải là con đường đưa tới giác ngộ không?
Rồi ngài tự trả lời: Đây là con đường đưa tới giác ngộ.
Ngài lại tự hỏi: Ta có sợ niềm hỷ lạc này?
Và tự trả lời: Ta không sợ niềm hỷ lạc này”.
Rồi suốt đêm ấy, Ngài chìm vào tĩnh lặng, biết rõ ràng thân không còn, tâm không có, cả trời đất cũng tan biến như mây trời. Cho tới khi mở mắt ra, nắng đã lên rồi, trời đất như bừng sáng, lung linh sức sống mới. Thiên nhiên tươi đẹp biết bao. Nhìn xuống thảm cỏ xanh trước mặt, ổ bánh kheer ai đem tới đây tặng cho ta?
Ngài tự nghĩ, ở đây có người qua lại, ta nên qua khu rừng bên kia sông Niranjana, bây giờ không phải là mùa mưa, nước sông không cao lắm. Ta có thể bơi qua dễ dàng. Ngài đi dọc theo bờ sông, tay ôm bình bát, vai mang túi vải. Một em bé đang cắt cỏ, cỏ dại Kusha mọc từng bụi dọc bờ sông, biết Ngài muốn qua bờ kia, em mang một bó cỏ thật lớn đã được bện lại, bước tới dâng ngài bó cỏ, Ngài mỉm cười, đôi mắt trẻ thơ sáng lên mừng vui rộn rã. Ngài ôm bó cỏ non, bước thẳng xuống nước, đặt túi vải và bình bát trên cái bè cỏ tí xíu, một tay Ngài giữ cho bè nổi bềnh bồng trên nước, một tay khoát nước bước tới. Dòng sông mát lạnh, mặt nước lăn tăn chỉ ngang tầm vai.
Bước lên bờ, đặt bó cỏ xuống cho ráo nước, Ngài đi quanh một vòng quan sát, khu rừng toàn là cây pipphala, cổ thụ, cao ngất, không có bụi rậm, không có thú dữ, chỉ có mấy con nai, con thỏ, con sóc chạy lăng quăng. Ở đây thiệt thích hợp cho ta. Ngài đặt bó cỏ kusha xuống làm tòa ngồi, trong bóng mát tàng cây pipphala. Ngồi xuống vững vàng, lưng thẳng, Ngài nghĩ thầm: "Ta sẽ ngồi đây tịnh tâm cho tới khi ta đạt được giác ngộ." Rồi Ngài hoàn toàn buông thả thân và tâm, thanh thản, hồn nhiên.
Đêm đó trăng lên, âm thầm soi chiếu hình bóng Ngài bất động, rồi trăng đi về hướng tây tan loãng, rồi mặt trời lên, dịu dàng tỏa sáng, pho tượng vẫn là pho tượng im lìm. Ngày qua ngày, trăng từ từ khuyết rồi biến mất trong màn đêm, rồi trăng lại từ từ lên, lại tròn hơn. Dòng tâm của Ngài tuôn chảy trong hơn, trong hơn, hỷ lạc từ từ nhẹ nhàng, chỉ là an lạc, rồi thanh thản, trầm lặng, không còn thân, không còn tâm. Tại sao ta có mặt ở đây? Vì đời trước ta đã có mặt, đã sống như thế. Tại sao đời trước ta như thế? Vì đời trước nữa ta đã như thế v.v.
Xin lướt qua lần chứng ngộ Ba Minh.
Sau đó, vẫn còn ở tại rừng cây cổ thụ này, Ngài thêm một lần chứng ngộ sâu sắc hơn, là nhận ra Y Duyên Tánh / Idappaccayatā.
Vẫn ngồi yên dưới tàng cây cổ thụ, ngài mở mắt nhìn ngắm thiên nhiên bên ngoài. Tâm hoàn toàn tĩnh lặng, thanh thản, bất động, trời xanh, mây trắng, cây lá như bất động đứng yên. Trong và ngoài như bất động, bức tranh không tên, cũng không có trong không có ngoài. Nó chỉ là cái Như Thế / Tathatā. Tia nhìn lại tiến sâu hơn, chạm vào từng gốc cây, từng cành lá, từng viên sỏi, con thỏ, con sóc… Ngài nhận ra mỗi thứ đều khác nhau vì chúng hiện hữu do nhiều nhân và duyên khác nhau, gọi là Y Duyên tánh. Do vậy, mỗi thứ sẽ thay đổi, biến hoại rồi chấm dứt cũng theo nhân và duyên của chúng. Từ đó, Ngài thấy rõ ràng bản thể cuối cùng của thiên nhiên và con người là sự Trống Không / Suññatā, là sự Huyễn có / Māyātā, tất cả đều Bình đẳng/ Samatā. Tâm hoàn toàn tĩnh lặng, bất động mà chói sáng đó, tạm gọi là Chân Tâm hay Niết Bàn / Nibbāna.
Mở mắt ra, cả khu rừng như sáng rực lên. A! Bây giờ là mùa xuân, cỏ cây tắm đẫm sương đêm mướt rượt, mấy tia nắng sớm mặt trời chiếu nghiêng nghiêng trên cành lá lấp lánh như dát kim cương. Thiên nhiên rạt rào sức sống, thiên nhiên tươi đẹp biết bao. Mỗi người cũng là một tác phẩm hoàn hảo của thiên nhiên, cái già, bệnh hay chết cũng là qui luật tự nhiên, không thể nào khác được. A! Ta đã giải thoát! Ta không còn sợ già, bệnh và chết nữa.
Thiền viện, ngày 22 - 08 - 2025
TN

