Bài viết ngắn này chỉ trình bày một chữ PHÁP.
Nhớ từ khoảng hai năm trước, trong loạt bài “Suối Nguồn Hạnh Phúc”, mình đã có viết về đề tài này trong một bài tựa đề “Cánh Rừng Pháp”. Trong vài năm gần đây, bôn ba khắp các đạo tràng, mình đã chia sẻ về những ý nghĩa của Pháp và sự liên hệ giữa các ý nghĩa đó. Mới hôm qua đây, trong buổi sinh hoạt với đạo tràng Nam Cali tại Tổ đình, mình cũng đã trình bày lại ngắn gọn về đề tài này. Trong lời kết, mình đã nhận định đây cũng là một cánh cửa bước về nhà, cánh cửa của Trí Tuệ. Tuy nhiên, sáng sớm hôm nay, nhận thấy hôm qua nói chưa đủ, cho nên sáng nay mình quyết định dẹp qua một bên công việc thường lệ là nghe lại những audio đã giảng, mình ngồi lại viết về đề tài Pháp thêm một lần nữa.
Xin trình bày lại từ đầu cho đầy đủ hơn.
Pháp được dịch từ Dhamma (tiếng Pāli), Dharma (tiếng Sanskrit). Chữ Pháp có nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo ý của câu nói; cho nên ngày nay, Tây phương có khuynh hướng dùng từ gốc, tiếng Pāli hay Sanskrit, chứ không dịch âm hay dịch nghĩa nữa. Cũng tương tự vậy, Tây phương thường dùng các từ: Samatha, Samādhi, Anupassanā, Vipassanā, Karma, Nibbāna, v.v.
Theo nhận định tương đối của mình, Pháp có thể xếp gọn lại trong 3 lãnh vực hay 3 ý nghĩa:
Sau đây, chúng ta sẽ khảo sát chi tiết hơn.
I - Pháp là những chân lý thường hằng:
Những sự thật này có những đặc điểm sau:
- Tuyệt đối khách quan: Những sự thật này không do một người nào hay một đấng tạo hóa, hay một vị thần linh nào sáng chế ra, hay áp đặt lên con người và thế gian.
Nội dung của những chân lý thường hằng được tạm xếp gọn lại như sau:
1- Tục đế bát nhã: Có thể kể ra
2- Chân đế bát nhã: Có thể kể ra
Bây giờ, chúng ta thử khảo sát thêm về những nội dung này.
Tại sao có phân biệt tục đế và tục đế bát nhã? Tục đế là gì và tục đế bát nhã là gì?
Tục đế: Đế là chân lý, là sự thật; Tục là người đời, người thường. Tục đế là những sự thực của thế gian, của người đời, của trí thế gian, thường hay dính mắc, chủ quan, khi tiếp xúc cuộc đời qua 6 căn.
Tục đế bát nhã gồm những chân lý sau đây:
Ba chân lý này thường được xếp chung là Tam Pháp Ấn.
Tứ Pháp Ấn thì có thêm một sự thật:
Phần này chỉ xin nói khái quát về 4 sự thật đó, với mục tiêu trình bày tại sao 4 sự thật đó là tục đế bát nhã.
Vô thường: Tất cả những người, vật, cảnh… chung quanh ta đều có hiện hữu. Qua 6 giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; ngày ngày, chúng ta đều tiếp xúc với hiện tượng thế gian, nhận ra chúng có thật, ảnh hưởng tới chúng ta, khiến chúng ta có vui, có buồn. Quan sát kỹ hơn một chút, chúng ta thấy tất cả đều thay đổi luôn, hình dáng, màu sắc, âm thanh v.v. không có gì là bền chắc, không có gì đứng yên từ vật chất, cho đến tinh thần, ý chí, tình cảm. Kết luận tất cả đều hiện hữu nhưng vô thường. Đặc tánh vô thường là một định luật hoàn toàn khách quan, phổ quát, bình đẳng, thường hằng bất biến.
Cuộc đời là biển khổ (cái thấy có trí tuệ). Nên Khổ là Tục đế bát nhã.
Năm khối kết hợp mà thành con người. Nhưng cả 5 khối đều do nhân duyên mà hiện hữu nên thay đổi tùy thuộc nhân duyên, chúng không có thực chất bền vững cố định, chúng cũng vô thường, không có ngã cố định thường hằng, gọi là vô ngã. Con người vô ngã, hiện tượng thế gian cũng vô ngã, tức là nhân vô ngã, pháp vô ngã.
Duyên khởi, Duyên sinh , Y duyên tánh:
Nguyên tắc thành lập thế gian, vận hành thế gian là:
Đây là những chân lý sâu sắc, phức tạp vô cùng. Đức Phật đã thông suốt những chân lý này, được người đời tôn xưng là Vô thượng chánh đẳng giác.
Những chân lý này giải thích sự thành lập con người và vũ trụ, do nhân do duyên, sự vận hành của đời sống con người và vũ trụ, do nhân do duyên, và sự chấm dứt đời sống con người và vũ trụ, cũng do nhân do duyên. Không có bàn tay can thiệp của tạo hóa, hay thần linh nào.
Trong phạm vi của bài viết này, chúng ta không khai triển chủ đề này, ở đây mình chỉ muốn nói vì sao Y duyên tánh, hay Lý Duyên khởi, Pháp duyên sinh được xếp là Tục đế bát nhã.
Khi thấy con người và thế gian có thật, có hiện hữu, nhân và duyên cũng có thật là cái thấy tương tự Tục đế, qua 6 giác quan.
Cái thấy nhân và duyên là nguồn gốc thành lập cũng như điều hành và chấm dứt sự hiện hữu của con người và vũ trụ là cái thấy của trí tuệ bát nhã. Vì thế Lý Duyên khởi, Pháp Duyên sinh, hay Y duyên tánh được xếp là Tục đế bát nhã.
Tóm lại, cái thấy qua 6 căn thường là thấy bề ngoài của hiện tượng thế gian, thuật ngữ có thể nói là cái Tướng, tuy cũng phải có trí tuệ mới nhận ra được. Lãnh vực này tạm xếp là Hiện tượng học (Phenomenology).
Chân đế bát nhã: Là những sự thật sâu kín, tiềm ẩn bên trong hiện tượng, xem như là bản thể của hiện tượng, tạm xếp là Bản thể học (Ontology). Thông thường có thể kể ra những chân lý cuối cùng này thuộc Bản thể của sự hiện hữu, hay của cuộc đời:
- Tánh Không / Suññatā / Śūnyatā / Emptiness
Những sự thật này có chung những đặc điểm sau đây:
Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng ta không phân tích nhiều nữa. Chúng ta còn phải trình bày ý nghĩa thứ 2 và ý nghĩa thứ 3 của từ PHÁP. Phần sau này chỉ xin ngắn gọn thôi, vì bài sẽ quá dài.
II - Ý nghĩa thứ 2 của từ Pháp: Pháp là những phương pháp tu tập do Đức Phật dạy.
Có rất nhiều, không thể kể ra hết tất cả, vì Đức Phật đã bày ra vô số cách thức tu tập , thích hợp vô số căn tánh khác nhau của chúng sanh. Ở đây mình chỉ xin sơ lược nhắc lại một số phương thức phổ thông:
Đặc điểm của những phương pháp tu tập do đức Phật dạy có thể kể ra là:
III - Ý nghĩa thứ 3 của PHÁP là: Những hiện tượng thế gian.
Đức Phật đã trình bày 18 giới, xem như là bao gồm tất cả hiện tượng thế gian. Đó là:
Tất cả gọi là Thập bát giới, 18 yếu tố (elements) họp thành hiện tượng thế gian, có thể tạm nói là có 2 thành phần, danh và sắc:
Đặc điểm của 18 giới này là:
Tuy nhiên bằng trí tuệ bát nhã thì hiểu biết sâu sắc, trên mặt bản thể, tất cả đều tánh là Không, là Huyễn, bản thể cuối cùng là chân như, và bình đẳng.
KẾT LUẬN
Tại sao cả 3 ý nghĩa đều được thu gọn lại trong 1 từ là PHÁP/ DHAMMA?
Vì cả 3 ý nghĩa liên hệ nhau mật thiết. Chúng ta nhắc lại:
Chúng ta sống trong đời, tiếp xúc với hiện tượng thế gian bằng 6 giác quan, phải có phương pháp tu tập đúng như là phương tiện đúng, thích hợp (ý nghĩa thứ 2) mới có thể nhận biết được các sự thật chi phối hiện tượng thế gian. Vì những chân lý không có hình sắc (ý nghĩa thứ 1), nhưng chúng hiển hiện ra hình sắc, đó là hiện tượng thế gian (ý nghĩa thứ 3). Chúng hiển hiện ra mà im lặng, không có lời nói, không có tên gọi. Chúng ta phải nhờ đức Phật bày ra những phương thức tu tập (ý nghĩa thứ 2) mới có thể thông qua giác quan và trí tuệ mà nhận ra bản thể của hiện tượng.
Do đó nếu không có đức Phật chỉ dạy phương thức tu học (ý nghĩa thứ 2 của Pháp) thì mãi mãi hiện tượng chỉ là hiện tượng, chúng ta không thể nhận ra những bản thể (ý nghĩa thứ 1 của Pháp) ẩn tàng bên trong hiện tượng (ý nghĩa thứ 3 của Pháp).
Hôm nay là ngày 9 tháng 12, ngày mai mình sẽ bay qua thiền viện Chân Như, cuối tháng 12 sẽ là lễ Tưởng niệm Thầy.
Kính thưa Thầy,
Đầu bài, con đã đề là « Bài Trình Thầy cuối năm », dự định chỉ viết ngắn gọn trong vài trang thôi. Không ngờ lại kéo dài lê thê, mỗi chủ đề đều quan trọng, đều là một ngõ bước vào nhà, thật khó mà viết lơ mơ. Có thể con sẽ phải viết lại đầy đủ hơn mới dám trình lên Thầy. Và bài trình của con, sau 30 năm học với Thầy, chỉ có một chữ PHÁP thôi.
Tổ Đình, ngày 09 - 12 - 2024
TN
BÀI TRÌNH THẦY CUỐI NĂM
Click icon tam giác để nghe - Click icon ba dấu chấm để download
