HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG
TOP CATEGORIES

Triệt Như TTVN10: PHÁP THỞ

21 Tháng Năm 202010:15 SA(Xem: 373)

Triệt Như - Tâm Tình Với Nhau - Bài 10  

Pháp THỞ

Phat Ngoi Duoi Goc Bo De 2
Một em thiền sinh hỏi cô về pháp Thở. 

Bây giờ cô trình bày phương thức thực tập Thở của chúng ta đã theo từ nhiều năm nay. Chúng ta cũng căn cứ trên kinh Nikàya, tuy nhiên chúng ta giải thích đơn giản hơn.

Pháp Thở được xếp là Thiền Định.

Chúng ta biết Đức Phật đã trải qua 4 tầng Định liên tiếp, cuối cùng ngài chứng ngộ Tam Minh, sạch hết lậu hoặc, xem như đắc quả A la hán, gọi là Abhisamaya (Chứng ngộ hoàn toàn). Tiếp theo ngài chứng ngộDuyên Khởi, Pháp Duyên Sinh, hiểu biết tất cả nguồn cội của sự hiện hữu con ngườivũ trụ, gọi là Vô thượng Chánh Đẳng Giác (Anuttara Sammà Sambodhi) tức quả vị Phật.

Bốn tầng Thiền, hay bốn tầng Định này lược kể như sau:

Tầng Định thứ 1 : có tầm, có tứ. Hỷ lạc do ly dục, ly pháp bất thiện sinh ra.

Tầng Định thứ 2: không tầm, không tứ, hỷ lạc do định sinh ra.

Tầng Định thứ 3 : ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú.

Tầng Định thứ 4: xả niệm thanh tịnh.

Chúng ta có thể gọi tên 4 tầng Định này là:

1-   Định có tầm có tứ.

2-   Định không tầm không tứ.

3-   Định chánh niệm tỉnh giác.

4-   Định bất động.

Thầy Thiền chủ đã giải thích 4 tầng Định này theo ngôn ngữ ngày nay để chúng ta hiểu biết và dễ thực hành:

1-   Biết có lời (có lời nói thầm về chủ đề đang dụng công)

2-   Biết không lời (hay thầm nhận biết chủ đề)

3-   Tỉnh thức biết không lời (trong 4 oai nghi)

4-   Nhận thức biết không lời (hay nhận thức biết trống rỗng)

Trên đây là cái tiến trình khuôn mẫu thực hành Thiền áp dụng cho tất cả các chủ đề. Theo sát tiến trình của Phật. Dù là pháp Thở (xúc chạm qua mũi), hay Nghe (tai), hay Thấy (mắt), hay Không Nói (ý).

Bây giờ chúng ta chỉ nói về Thở.

1-   Biết có lời:

a-   Thở bình thường:  <Tôi biết tôi hít vào...Tôi biết tôi thở ra...>

Nói thầm chầm chậm theo hơi thở, cái biết rõ ràng từ khi mới bắt đầu hít vô cho đến khi hơi thở ra chấm dứt. Rồi tiếp tục hơi thở sau. Giống như ta đang quan sát hơi thở vô- ra... không diễn nói gì thêm. Cho nên kinh nói là nhất tâm, nghĩa là chỉ có 1 niệm Biết hơi thở. Cũng gọi là Đơn niệm Biết (có lời). Kết quả: những tạp niệm khác không khởi lên được. Tâm dừng, nhưng còn có 1 đối tượng. Nếu ta còn phóng tâm nghĩ tới việc khác, thì ta phải chú ý nhiều hơn vào hơi thở, không được buông lơi. Bước này có thể phải có sự chú tâm (mindfulness). Đến khi tâm tạm yên, ta thực tập bước Thở hai thì.

b-   Thở hai thì: nói thầm:

< Tôi biết tôi hít vào dài...

Tôi biết tôi thở ra dài... sâu... chậm...>

Thầy Thiền chủ hướng dẫn thêm bước này với lý do:

-      Hơi thở vào dài là hít vào sâu hơn, đem dưỡng khí vào phổi nhiều hơn. Do đó tốt cho sức khỏe. Hơi thở ra cũng dài hơn hơi thở vào, hay dài gấp hai hơi thở vào.

-      Điều hoà về tim mạch: điều hoà áp suất máu cao, nhịp tim rối loạn, hở van tim , hơi thở ngắn v.v....

Khi tâm tạm thuần, ít vọng tưởng, ta lên bước Biết không lời.

2-   Biết không lời: hay Thầm nhận biết “Thở hai thì”

Tới đây, chúng ta không nói thầm nữa. Ta vẫn quan sát hơi thở vào...ra chầm chậm từ từ, hơi thở ra dài hơn hơi thở vào (tức là vẫn tiếp tục thở hai thì). Nếu tạp niệm còn thỉnh thoảng khởi lên, có nghĩa là chúng ta chưa vững chắc cái Biết. Vậy ta nên chú ý nhiều hơn vào chủ đề: hơi thở vào- ra. Ta có thể mở mắt thực hành để tránh hôn trầm, hay khép hờ mắt nhìn xuống. Một thời gian khi tâm yên lặng, ta mới bước lên, thực tập chánh niệm tỉnh giác hay Tỉnh thức biết không lời.

3-   Tỉnh thức biết không lời: Đây là bước chuyển tiếp từ cái Biết không lời lên nhận thức không lời.

Trong bước 2, ta tác động tánh xúc chạm. Bây giờ ta thực tập các giác quan khác để buông hơi thở. Mục tiêu là tiến dần qua tánh nhận thức.  Trong bước này, ta vẫn còn dùng giác quan, mắt, tai, lưỡi, thân để dụng công. Như vậy là ta thực hành trong sinh hoạt hằng ngày, khi đi, đứng, nằm, ngồi chơi hay ngồi thiền. Cái Biết không lời hay chánh niệm. Trong kinh, Đức Phật dạy “đặt chánh niệm trước mặt..”.Ta thường xuyên gợi lên trạng thái Biết không lời khi mở mắt nhìn ra cây cảnh hoa lá, khi nghe tiếng chim hót trong vườn, khi đi bộ, khi uống nước, khi ăn cơm v.v... Tới đây, ta gặp Tứ Niệm Xứ. Trong kinh Niệm Xứ, dùng từ “tuệ tri” hay “tuệ tri như thật”.

Tới đây, xem như ta kinh nghiệm nhận thức rõ ràng trong không lời, thông qua các giác quan. Ta không diễn nói gi hết khi <đối duyên xúc cảnh>, trong nhà Thiền gọi là <đối cảnh vô tâm>. Thầy Thiền chủ có câu kệ này:

“Ta trong đời mà bụi đời ta chẳng dính.

Ta trong đờiĐịnh Huệ chẳng rời ta>.

4-   Nhận thức không lời: Tới đây ta tọa thiền, xem như không sử dụng giác quan nữa. Tâm không còn đối tượng, không còn chủ đề Thở. Hơi thở sẽ từ từ nhẹ đi, trở thành thở tự động. Trong Thiền gọi là Tịnh tức, là hơi thở yên lặng từng chập. Tới đây mới là Tam Hành Bất Động:

-      Ngôn hành bất động: tầm và tứ yên lặng là kết quả của tầng thiền thứ 2.

-      Ý hành bất động: thọ và tưởng yên lặng, là kết quả của tầng thiền thứ 3

-      Thân hành bất động, là thân và cả hơi thở đều yên lặng.

Vì thế gọi là Định Bất Động.

Trên đây, cô chỉ tóm lược các bước thực tập pháp Thở. Bước nào cũng là những tiến trình, đòi hỏi sự thực tập kiên nhẫn, quyết tâm. Vì là tiến trình trui rèn, huấn kuyện tâm của mình. Không thể cưỡng ép tâm, không thể bắt buộc tâm phải thế này, thế kia trong một thời gian ngắn.

Để tránh tâm thoái chuyển, cứ khởi tạp niệm hoài, hay còn tham, còn sân, phiền não v.v...cô nhắc lại trong bài Đại Kinh Xóm Ngựa, Đức Phật dạy rõ ràng trước khi tiến vào 4 tầng Thiền Định, <các vị tỳ kheo> (tức là đối với chúng tacư sĩ, lại càng khó hơn) phải tu tập những giai đoạn cần thiết sau đây:

- Hạnh tàm quí: phải biết những ý, lời và hành động của mình là sai để hổ thẹn, sửa đổi. Hạnh này không phải dễ, vì cái ngã luôn luôn nói mình đúng.

- Thân hành, khẩu hành, ý hành, sanh mạng đều phải thanh tịnh.

- Tiết độ trong ăn uống.

- Chú tâm cảnh giác : suốt ngày phải chú tâm loại trừ những pháp ác khởi lên trong tâm mình.

- Chánh niệm tỉnh giác: giữ cái biết rõ ( dù là còn có lời) trong sinh hoạt mỗi ngày. Làm cái gì biết rõ đang làm cái đó.

- Đoạn trừ 5 triền cái: chướng ngại cho việc tu tập: tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi phải được chấm dứt trong tâm.

Kết quả của giai đoạn tu tập này là: Hỷ lạc. Niềm hỷ lạc này thấm đẫm khắp toàn thân, Phật nhấn mạnh khi so sánh với niềm hỷ lạc của 5 ví dụ :

+ người vừa qua một cơn bệnh nặng

+ người đã trả xong món nợ

+ người đã thoát cảnh nô lệ

+ người ra khỏi cảnh tù ngục.

+ người đã qua khỏi bãi sa mạc.

Niềm hỷ lạc này là trạng thái hỷ lạc của tầng thiền thứ 1.Tâm đã trong sạch, nên trong tầng Thiền 1 đặc điểm là: hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp sanh ra.

Nếu tâm mình còn đôi khi suy tính, băn khoăn, thắc mắc, buồn phiền, ham danh ham lợi, thì chưa phải là đạt được cái gì. Vì còn đủ 5 triền cái.

 

Tổ Đình, 14-5-2020

TN

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
1,048,085