HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Chướng Ngại Trong Việc Tu Thiền Là Gì?

22 Tháng Tám 20184:57 CH(Xem: 3581)

Chướng Ngại

Trong Việc Tu Thiền Là Gì?

---------------------

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

 

TU THIỀN PHẬT GIÁO LÀ GÌ?

           Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên Thân và Tâm về những giáo lý nhà Phật mà hành giả đã học từ kinh điển hay qua sự hướng dẫn của những bậc chân nhân.

           Thiền hay sống Thiền là sống trọn vẹn ngay bây giờ và ở đây với cái Biết như thật về hiện tượng thế gian, không phê phán khen chê, không quay về quá khứ cũng không hướng đến tương lai hoặc dính mắc với tham dục ở hiện tại.

           Giáo pháp của Đức Phật để lại không ngoài mục đích giúp con người Thoát Khổ, Giác Ngộ, Giải Thoát. Và con đường đi đến Thoát khổ, Giác ngộ, Giải thoát đó phải thông qua thiền Định.

           Theo ngôn ngữ Phật giáo, chữ Thiền thường được kết hợp chặt chẽ với chữ Định (Samàdhi). Trạng thái ban đầu của Samãdhi trong kinh điển định nghĩa là Nhất tâm (Citta Ekagaya). Nhất tâm là trạng thái của Thiền chứng ở mức độ tịnh chỉ (Samatha), Ở giai đoạn này định Nhất tâm chưa hoàn thiện vì còn chịu ảnh hưởng khuấy động của Tầm và Tứ. Khi Tâm hoàn toàn được ổn định ở mức độ kiên cố, không còn tán loạn, nghĩa là Tầm và Tứ hoàn toàn yên lặng, thì lúc bấy giờ mới được gọi là Samãdhi tức Định vững chắc.

           Sự thành đạo của Đức Phật được biểu thị qua tiến trình tu chứng bốn bậc Thiền Định. Đó là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền, còn gọi là Sơ Định, Nhị Định, Tam Định hay Tứ Định.

           Kể lại kinh nghiệm chứng ngộ Sơ Thiền, trong Kinh Sa Môn Quả, Đức Phật cho biết: "Tỷ kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ".

          Mức độ thứ hai là Nhị Thiền, Đức Phật dạy tiếp: "Vị Tỳ Kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm và tứ, nội tĩnh nhất tâm." Nội tĩnh Nhất tâm có nghĩa là Tâm yên lặng không còn bị Tầm và Tứ khuấy động nên Nhị Thiền này kết quả thù thắng hơn Sơ Thiền.

           Mức độ thứ ba, Đức Phật nói: "Vị Tỳ Kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú tam thiền." Trong kinh gọi tầng định này là Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

           Mức độ cao nhất trong thiền Phật giáo lúc đó là Tứ thiền còn gọi là Định bất động tức ngôn hành, ý hành và thân hành không động. Đức Phật chia sẻ như sau: "Vị Tỳ Khưu ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú tứ thiền, không khổ, không lạc, "xả niệm thanh tịnh" tức kinh nghiệm trạng thái Tâm hoàn toàn thanh tịnh, do xả sanh .

           Muốn kinh nghiệm các tầng Thiền kể trên, bước đầu hành giả phải "Như lý tác ý" nhằm tẩy trừ các bất thiện pháp: "tham dục, sân hận, hôn trầm - thuỳ miên, trạo cử - hối quá và hoài nghi" là nguyên nhân cản trở sự tự chủ nội tâm nơi hành giả gọi là "năm triền cái".

           Như vậy bước đầu tu Thiền là sự tu tập để đoạn trừ "năm triền cái" và thay thế bằng "năm thiền chi" tức là năm tâm sở đối nghịch với năm triền cái, đó là: "Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất Tâm."

                           

"NĂM TRIỀN CÁI" LÀ GÌ ?

            Triền tức là trói buộc, trì kéo nặng nề hay là ngăn che. Năm triền cái là năm thứ trói buộc tâm con người trong phiền não, tạo nhiều nghiệp, phải chịu sanh tử luân hồi. Chức năng của triền cái là ngăn che trí tuệ khiến con người bị vô minh che mờ không Giác ngộ được. Đối với người tu Thiền thì năm triền cái chính là các ác pháp, tà pháp là: "Tham dục; Sân hận; Hôn trầm-Thuỵ miên; Trạo cử-Hối quá; và Nghi ngờ", làm cho hành giả tu Thiền không thể đạt được Tâm yên lặng, định tĩnh, là nền tảng phát huy trí huệ đưa đến Giác ngộ, Giải thoát.

           Đức Phật dạy muốn loại trừ năm triền cái: "Tỷ kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc" để ghê sợ mà viễn ly nó, thì con đường tu Thiền mới được suông sẻ. Trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của mỗi triền cái như thế nào rồi mới áp dụng phương pháp Phật dạy để xa lìa nó.

           1) Tham dục: Là sự ham muốn được là tướng nam hay nữ đẹp đẽ, được nghe âm thanh ngọt ngào, mùi hương hấp dẫn, vị ngon của thức ăn nước uống và những cảm giác êm dịu đê mê của thân khi xúc chạm.

           Nói chung đó là những mong cầu dục lạc qua năm giác quan như sắc dục, thanh dục, hương dục, tỷ dục, vị dục, xúc dục và những ước muốn không bao giờ biết đủ về mưu cầu tiền bạc, người đẹp, danh thơm tiếng tốt cũng như uy quyền tột đỉnh của ý dục. Ngoài ra tham dục còn được kể đến như lòng khao khát ham muốn hưởng thụ khoái lạc trong những hoạt động tình dục, ăn ngon ngủ kỷ, thích này thích nọ, không muốn chịu đựng những cảm giác đau đớn, phiền muộn mà muốn luôn được sảng khoái dễ chịu trong mọi hoàn cảnh. Đó là những đòi hỏi của bản năng con người.

           Người đời thường nói ham muốn càng nhiều thì phiền não càng gia tăng. Điều này thật đúng, nhưng rất tiếc, tuy biết thế nhưnh đa số con người vẫn luôn ngụp lặn trong tranh giành được mất hơn thua do tham dục đòi hỏi, rồi than đau, than khổ!

           Người tu hành là người tỉnh ngộ muốn thoát ra khỏi cuộc sống dằn vặt bởi những ham muốn đó. Tu hành pháp môn nào cũng phải biết tri túc thiểu dục,  nhất là tu Thiền lại càng phải đoạn trừ tham dục thì Tâm mới an ổn, vì không còn khởi niệm ham muốn cái này, ham muốn cái kia, khiến Tâm lúc nào cũng lăng xăng dao động không đạt được mục đích an tịnh.

           2) Sân hận: Nghĩa là Tâm tức giận đối với những hoàn cảnh không vừa ý hay do người khác làm trái ý mình. Người sân hận là người mang tâm trạng muốn chống đối, trừng phạt, gây gổ hay tàn phá. Sân hận là trạng thái tiêu cực tiềm ẩn trong mỗi con người, nó sẽ bộc phát khi gặp điều kiện thích hợp tác động. Cảnh báo sự độc hại của sân hận, Đức Phật cho biết tham, sân, si là tam độc, nó có khả năng phá hoại tâm hồn và thể xác con người không chỉ đời này mà còn nhiều đời sau. Trong kinh còn cho rằng sân hận tàn khốc và nguy hiểm hơn lửa dữ, nó như là giặc cướp, như là rắn độc, một niệm sân hận dễ dàng đốt cháy cả rừng công đức, cho nên phải tìm đủ mọi cách để ngăn chận loại trừ nó.

           Sân hận có nhiều trạng thái, mức độ biểu hiện khác nhau ví dụ như: Chán ghét, buồn phiền, bực tức, giận hờn, nổi nóng, oán hận, căm thù. Sân hận biểu lộ qua hành vi nét mặt, lời nói và trong ý nghĩ. Biểu lộ bằng thái độ như nhăn mặt, nhíu mày, trợn mắt, nghiến răng. Biểu lộ bằng lời nói như la hét, quát tháo, chửi bới. Biểu lộ qua cử chỉ hành động như quăng ném đồ đạc, đánh đập, hành hạ, đâm chém, giết người....  Có khi nỗi sân hận oán thù không biểu hiện ra ngoài mà giữ kín trong lòng theo kiểu "sống để dạ chết mang theo" đồng nghĩa "đây là mối thù truyền kiếp" từ đời này qua đời khác. Sân hận khiến người ta tạo nghiệp xấu qua lời nói, ý nghĩ và hành động. Nó là nguyên nhân bất thiện đưa tới quả luân hồi sinh tử.

           Đối với người tu Thiền, sân hận là sự chán ghét vào chính đối tượng thiền quán trong lúc toạ Thiền. Nó khiến hành giả dễ dàng bỏ rơi đề mục đang tu tập, chuyển tâm qua những mục tiêu khác.

           3) Hôn trầm-Thuỵ Miên: Là sự mệt mỏi của Thân và sự dã dượi của Tâm. Là trạng thái nặng nề uể oải của cơ thể và sự mơ màng của tâm thức. Trạng thái đầu tiên khi hành giả toạ Thiền là đánh mất Chánh niệm, phóng tâm lang thang ra khỏi chủ đề, sau đó rơi vào trạng thái vô ký nửa mê nửa tỉnh. Đây là trạng thái Tâm không ngủ mà cũng không thức gọi là hôn trầm.

            Tu Thiền là rèn luyện Tâm. Khi Thân uể oải, Tâm ngầy ngật thì ta không có nghị lực để làm bất cứ chuyện gì. Không có nghị lực sẽ đưa đến hôn trầm. Hôn trầm làm cho niệm Biết mất đi sự rõ ràng, tiến tới sự rời rạc, yếu ớt và biến mất. Từ đó đưa đến thuỵ miên là ngủ gục trong lúc toạ thiền mà ta không hay biết.

           4) Trạo cử - hối quá: Trạo cử có hai mặt, trạo cử nơi Thân và trạo cử nơi Tâm. Thân thì không lúc nào ngồi yên một chỗ, cứ lắc lư thay đổi thế ngồi, mắt liếc nhìn qua lại. Hoặc do sự tinh tấn hành trì quá sức chịu đựng khiến cho cơ thể bị rả rời hay đau nhức, dễ đưa đến tình trạng chán nãn lười biếng trong việc tu tập.     Trạo cử của Tâm là trạng thái Tâm bị các niệm lăng xăng xẹt vô, xẹt ra, chi phối trong lúc hành Thiền. Tâm này trong kinh gọi là "tâm lang thang" hết suy nghĩ chuyện này sang suy nghĩ chuyện khác như chú khỉ chuyền cành không bao giờ chịu ngồi yên, hoặc là không hài lòng với đề mục tu tập nên phóng tâm ra ngoài tìm những đề mục khác hứa hẹn tốt hơn. Tìm những đề mục khác có nghĩa là hành giả đang bị sự nghi ngờ chi phối.

           Hối quá là trạng thái đặc biệt khác của trạo cử thuộc về Tâm. Tâm không yên là bởi lương tâm cắn rứt hối hận những lầm lỗi đã qua. Đó là nghiệp quả của các hành động bất thiện trong quá khứ khiến cho Tâm không được an ổn trong lúc hành Thiền.

           5) Nghi ngờ: Trạng thái Tâm luôn do dự, không nhất quyết nhận ra điều nào thực sự đúng và điều nào thực sự nào sai, nghĩa là trong Tâm còn nhiều thắc mắc về khả năng tu tập của chính mình, hoặc nghi ngờ pháp học pháp hành không biết có đúng không? Có khi nghi ngờ khả năng chứng đắc của Thầy mình, hay chưa chắc chắn tin vào Tam Bảo.

           Nghi ngờ cũng có thể xem như là một trạng thái khác của trạo cử, khi trong đầu có quá nhiều kiến thức, nhiều khái niệm do đó Tâm rơi vào trạng thái lưỡng lự, không quyết định. Vì thế, những câu hỏi, những thắc mắc trong lúc toạ Thiền cần phải được giải quyết một cách rõ ràng thấu đáo trước khi thực hành.

           Khi quyết định chọn tu Thiền, hành giả phải có niềm tin vững chắc, hiểu rõ phương pháp kỹ thuật hành Thiền, hiểu rõ đề mục tu tập và hiểu rõ mục đích tu tập này đi về đâu.

 

"NĂM THIỀN CHI" CÓ KHẢ NĂNG LOẠI TRỪ

"NĂM TRIỀN CÁI"

           Đã sanh làm kiếp con người, có ai không ao ước mong muốn hoàn thành điều gì đó trong cuộc đời của mình. Cái mong muốn đơn giản mà ai cũng có, đó là xây dựng một đời sống tốt, một gia đình an vui hạnh phúc. Có mong muốn người ta mới cố gắng học hỏi, mới có nghị lực để làm việc, hầu đạt được mục đích. Nhưng thói thường, sự mong muốn đơn giản này dần dần sẽ nảy sanh nhiều mong muốn khác. Mong muốn thì không có hại, nhưng cái gì cũng muốn để phục vụ cho giác quan, cho bản ngã của mình, thì từ trạng thái mong muốn đã nhảy sang trạng thái tham lam khao khát sở hữu cái này, sở hữu cái kia. Khi con người vượt qua lằn ranh mong muốn bước sang vùng đất tham lam không biết dừng, thì con người đã sa vào hố sâu của tham dục. Càng lặn ngụp trong tham dục thì càng bị cơn xoáy bộc lưu cuốn sâu vào vùng vô minh đau khổ.

           Những ai đã bị tham dục lấn áp rồi, không thể một sớm một chiều mà buông bỏ được. Những thứ đó giống như những chất ghiền nghiện huân tập trong ký ức khó buông bỏ, nó biến thành lậu hoặc tập khí. Khi toạ Thiền chúng lần lượt bung lên khuấy động làm cho Tâm hành giả không thể nào được an tịnh. Vì không đạt được sự an tịnh trong lúc tu tập khiến cho hành giả bất mãn sinh chán ghét pháp tu, nghi ngờ pháp tu.

           Để chứng ngộ Sơ Thiền, Đức Phật dạy chúng ta cần "ly dục, ly bất thiện pháp", hay nói cách khác là phải đoạn trừ toàn bộ "năm triền cái" . Muốn đoạn trừ "năm triền cái" là những pháp bất thiện, thì bên cạnh việc tu Tâm, hành giả cần tu Tướng. Tu Tướng có nghĩa là hành giả cần: Có niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo, nắm vững pháp học (giáo lý) và pháp hành (kỹ thuật thực hành) để chế ngự lòng nghi ngờ. Giữ gìn giới luật không không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không sử dụng những chất say làm lu mờ tâm trí để chế ngự lòng tham cũng như trạo cử-hối quá khi ngồi Thiền. Ngoài ra hành giả cần sống tri túc thiểu dục trên mọi mặt để chế ngự lòng tham lam khao khát. Nuôi dưỡng lòng từ bi, rộng lượng với mọi người và mọi vật để chế ngự lòng sân hận.

           Nhờ sự tu tập hằng ngày chừa bỏ những ác pháp, thực hành những pháp lành, hành giả có thể ngăn chận "năm triền cái" lúc toạ Thiền. Khi có kinh nghiệm Định thì "năm thiền chi" xuất hiện lấn áp và làm cho "năm triền cái" không thể trồi lên được.

 

"Chi thiền Tầm và Tứ" có công năng đối trị

"hai triền cái Hôn Trầm - Thuỵ Miên và Nghi Ngờ"

           Tầm tiếng Phạn là Vitakka có nghĩa là "tư duy", là "hướng tới" hay "tập trung" Tâm vào một đối tượng duy nhất.

           Đơn giản và dễ hiểu, Hoà Thượng Thích Thông Triệt giải thích Tầm là "sự nói thầm" (tư duy, suy nghĩ) trong Tâm. Tứ là "đối thoại thầm lặng" trong Tâm. Cả hai là tiếng nói thì thầm bên trong Tâm. Nếu Tầm Tứ không dừng lại thì nó sẽ phát ra âm thanh tức nói ra lời tạo khẩu nghiệp.

           Trong kinh ghi chức năng của Tầm là hướng tâm hay tập trung tâm đến đối tượng, mang lại sự sâu lắng cho Định. Tứ thì gắn chặt và neo Tâm vào đối tượng nghĩa là duy trì sự định tâm nơi đối tượng đã thành tựu từ Tầm. Trong sự liên hợp này Tầm-Tứ là hai yếu tố thiết yếu cho sự thành tựu và ổn định của Sơ Thiền.

           Khi Tâm của hành giả đang tư duy, hay đang hướng đến, hoặc tập trung vào một đối tượng tức là "thiền chi Tầm" đang có mặt, thì hành giả không thể rơi vào trạng thái hôn trầm. Cũng như trong Tâm đang có sự hiện diện của "thiền chi Tứ" đang làm công việc gắn chặt sự hướng tâm của Tầm vào đối tượng, thì chứng tỏ rằng hành giả đang tinh tấn tu tập, không có sự nghi ngờ về pháp học hay pháp hành ở đây.

           Như vậy chúng ta có thể nói khi  "hai thiền chi Tầm và Tứ" có mặt trong trạng thái Định thì "hai triền cái hôn trầm và nghi ngờ" không thể trồi lên được.

           Có điều quan trọng, hành giả cần ghi nhớ Tầm và Tứ là hai chi xuất hiện trong Sơ Thiền, nhưng muốn tiến cao hơn thì hành giả cần phải buông cả Tầm và Tứ, cũng như không dính mắc với hỷ lạc, thì mới đạt được Định sâu lắng vững chắc ở tầng Thiền thứ hai.

 

"Thiền chi Hỷ và Lạc" có công năng đối trị

"hai triền cái Sân Hận và Trạo Cử"

           Chi thiền thứ ba có mặt trong Sơ Thiền là Hỷ tiếng Phạn là "Pìti". Hỷ có nghĩa là sự hân hoan, thích thú, vui mừng, hỷ duyệt, hài lòng, phấn khởi của Tâm. Chức năng của Hỷ là làm cho Thân và Tâm được tươi tỉnh, phấn chấn. Như vậy "thiền chi Hỷ" trái ngược với sự buồn bực, thù hằn, sẵn sàng trừng phạt, la hét của "triền cái Sân Hận". Như vậy Hỷ có khả năng đối trị sự Sân hận.

           Chi thiền thứ tư có mặt trong Sơ Thiền là Lạc tiếng Phạn là "Sukha". Chữ Lạc được dùng như danh từ thì có nghĩa là: Sự dễ chịu, niềm hạnh phúc hay sự hài lòng. Nếu dùng như tĩnh từ thì Lạc có nghĩa là: trạng thái an lạc, trạng thái dễ chịu. Lạc biểu thị cảm giác dễ chịu ngược với khó chịu bất mãn là khổ. Trong lúc toạ thiền mà có kinh nghiệm "dễ chịu, hài lòng" thì trạo cử không xuất hiện.

          

"Chi thiền Nhất Tâm" có công năng loại trừ

"triền cái Tham Dục"

           Nhất tâm là thiền chi thứ năm. Ở mức Sơ Thiền, Nhất tâm có thể hiểu là trạng thái Samatha nghĩa là tịnh chỉ mọi hoạt động trong Tâm, nhưng vẫn còn Tầm và Tứ. Khi nào Tầm và Tứ cũng yên lặng luôn thì Nhất tâm được gọi là Samãdhi tức Định vững chắc.

           Nhất tâm ở Sơ Thiền tích tụ một sức mạnh đặc biệt nhờ bốn chi thiền kia hợp nhất, neo Tâm vào một đối tượng vững chắc được gọi là định căn. Chức năng của Nhất tâm là ngăn ngừa những ảnh hưởng bất thiện tác động vào Tâm, đặc biệt là tham dục. Bởi vì nó duy trì một sức mạnh ổn định nên gọi là định lực. Định lực đưa Tâm đến trạng thái tịnh chỉ, tức trạng thái Samatha. Samatha là nền tảng của Samãdhi, mà Samãdhi là nền tảng cho tuệ giải thoát phát huy sau này.

           Trong lúc hành Thiền, hành giả kinh nghiệm trạng thái Nhất tâm có nghĩa là Tâm hoàn toàn yên lặng, không còn dính mắc đến thân thể hay hoạt động của năm giác quan, vì thế tham dục không thể khởi lên.

          

KẾT

           Trên bước đường tu tập, nhất là tu Thiền thì năm triền cái: Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo hối và Nghi hoặc là những chướng ngại lớn nhất. Khi hành giả bắt đầu ngồi xuống toạ thiền, thì một trong những triền cái, hay toàn bộ năm triền cái nổi lên quậy phá, khiến cho hành giả đánh mất chánh niệm, đánh mất sự tỉnh giác, thả hồn lang thang theo hết hiện tượng này qua hiện tượng khác. Năm triền cái tựa như một chiếc xe hứa hẹn đưa chúng ta đi vào con đường luân hồi sinh tử. Chúng tác động vào Tâm khiến chúng ta đánh mất những giới hạnh cao quý, lăng xả vào dục vọng thế gian, hành xử bất thiện, tạo những nhân xấu trong đời sống nhiều hơn là nhân tốt. Cho nên muốn hành trì giáo pháp để đi đến Giác ngộ Giải thoát thì việc đầu tiên là phải đoạn trừ năm triền cái. Đoạn trừ bằng cách nào? Trước hết là phải "Như lý tác ý" không được "Phi như lý tác ý".

           "Như lý tác ý" nghĩa là khởi ý, tác ý học hỏi và áp dụng thực hành những chân lý mà Đức Phật đã dạy. Chân lý là những điều thiện lành đúng đắn không bao giờ thay đổi bởi thời gian và không gian. Thí dụ như chân lý vạn vật Vô thường, Khổ, Vô ngã; chân lý Tứ Diệu Đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế gồm tám nhánh như Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định...

           Người tu hành không nên "Phi như lý tác ý" nghĩa là không tác ý thích sống trong tham dục, trong giận hờn, ghen tuông, sân hận ... "Phi như lý tác ý " ở đây chính là "năm triền cái".

           Chúng ta thực hành "Như lý tác ý" để hướng Tâm đến đối tượng thiện lành. Tâm được huân tập những thói quen tốt, thì khi toạ thiền chúng ta ít bị triền cái phá rối. Nhưng nếu triền cái có ló dạng thì chúng ta "Như lý tác ý" buông bỏ liền vì đã biết đó là bất thiện pháp.

           Còn "năm thiền chi" chỉ xuất hiện sau khi "năm triền cái" không có mặt. Lúc bấy giờ công năng của "năm thiền chi" như là ánh sáng, còn "năm triền cái" như là bóng tối. Hễ cái này có mặt thì không có cái kia. Nhưng nếu "năm thiền chi" hiện diện yếu ớt, thì triền cái sẽ có dịp trồi lên. Cho nên phải có định lực vững chắc thì mới hoàn toàn diệt được "năm triền cái".

           Tóm lại, trong lúc hành Thiền, năm triền cái là chướng ngại khiến cho việc tập trung Tâm vào đề mục đang hành trì rất khó khăn. Chúng ta cần kiểm điểm xem chúng ta đã vướng phải triền cái nào: Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo hối hay Nghi ngờ? Từ đó chúng ta tìm phương cách hoá giải thích hợp để vượt qua hàng rào ngăn che đó, hầu vượt lên mức Thiền Định cao hơn.

           Thí dụ như tham dục quá mạnh thì chúng ta cần quán hiện tượng bất tịnh, vô thường, khổ, vô ngã của tài, sắc, danh, thực, thuỳ. Áp dụng pháp tu phòng hộ sáu căn, tiết độ sự ăn uống, ngủ nghỉ v.v...

           Nếu như chúng ta dễ dàng nổi sân đối với mọi người thì chúng ta nên chọn đề mục Thiền từ ái. Quán xét những nghiệp mình gây ra, quán xét bản chất vô thường về tài sản mình đang sở hữu.  Thường xuyên Như lý tác ý làm việc lành, nói lời lành, tu hạnh bố thí v.v... để tạo thành thói quen trợ giúp cho việc phát triển tâm Từ và loại bỏ sân hận.

           Nếu như thường xuyên bị hôn trầm, chúng ta cần biết lý do của hôn trầm phần lớn là do ăn uống quá độ, hoặc thiếu ngủ, hay đích thực là cơ thể đang quá mệt mỏi. Vì thế chúng ta không nên ăn quá no trước khi ngồi thiền, nên ngủ đủ giấc để thân tâm khoẻ khoắn khi toạ Thiền. Chọn chỗ ngồi Thiền thoáng mát, không quá tối tăm. Tư thế toạ Thiền cũng rất quan trọng, ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, hai vai ngang với hai trái tai v.v... Khi buồn ngủ thì không nên nhắm mắt.

           Trạo cử, hoài nghi phần lớn do chúng ta chưa có niềm tin vững chắc về pháp tu hoặc kiến thức của chúng ta quá rộng rãi, nên có nhiều thắc mắc. Để trị hai căn bệnh này, chúng ta cần tìm hiểu rõ về cuộc đời và đường lối tu tập cũng như sự chứng ngộ của Đức Phật. Tìm hiểu về giáo pháp của Ngài. Khi đã quyết định trở thành đệ tử của Phật thì phải thông suốt giới luật, đặt trọn niềm tin nơi Tam Bảo. Lý thuyết tức pháp học phải vững chắc thì khi thực hành mới không bị trạo cử hay nghi ngờ.

           Nói chung sự đè nén năm triền cái bằng pháp Như lý tác ý ở bước đầu rất cần thiết để chứng Thiền. Không những giúp cho hành giả chứng Thiền, mà nó còn có khả năng kéo dài Thiền chứng ấy nữa.

           Ở giai đoạn đầu của Nhất tâm, chúng ta có thể nhờ vào định lực đè nén sự nổi dậy của năm triền cái, nhưng vì chúng ta chưa Chánh Tư Duy rốt ráo và chưa tu tập pháp "Như lý tác ý” để làm suy yếu tiềm năng của chúng, thì chúng vẫn còn tiềm tàng ẩn náu trong tiềm thức chúng ta. Chúng là những chất ô nhiễm, là lậu hoặc, tập khí bám chặt trong Tâm và có khuynh hướng "nổi loạn" nhằm chọc thủng sự tịnh chỉ (Samatha), phá tan định lực của chúng ta khi có cơ hội.

           Con đường tu Thiền là con đường đi về ngôi nhà tâm linh của mình. Trên đường đi phải qua nhiều cửa ải. Một trong những cửa ải đó là "năm triền cái". Qua được "năm triền cái" rồi, chúng ta còn phải buông bỏ Tầm và Tứ để an trú trong tầng Thiền thứ hai tức Định không Tầm không Tứ. Đây là cửa ải khó khăn nhất. Khi Tâm chúng ta đã quen thuộc với sự tĩnh lặng không Tầm không Tứ rồi thì "năm triền cái" không có cơ hội xen vào cuộc hành trình của chúng ta. Do đó trước mặt của chúng ta là con đường thênh thang rộng mở, chúng ta sẽ nếm được pháp vị của Thiền và từ đó thẳng tiến tu cho đến khi nào kinh nghiệm được mục tiêu Thoát khổ, Giác ngộ, Giải thoát ngay trong đời này.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

August 17-2018

 

Tài liệu:

- Kinh Sa Môn Quả (Sàmannaphala Sutta) – Kinh Trường Bộ - ĐLHT Thích Minh Châu dịch.

- Tìm Hiểu Kinh Sa Môn Quả: Đoạn Xả Ly Năm Triền Cái của Hoà Thượng Thích Nhuận Thịnh.

- Tài liệu học tập thuộc giáo trình giảng dạy các cấp lớp Bát Nhã của HT. Thích Thông Triệt (ThiềnTánh Không)

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 424)
Một khi đã ra đi, thì không bao giờ trở lui lại. Chúng ta đã chọn con đường Thiền, là con đường tâm linh, thì phải dấn bước đi tới hoài, Đó là ý nghĩa của “Quyết định ba la mật” cũng là quan niệm <Tánh Nguyên tắc> của người tu sĩ, theo lời giảng của Thầy chúng ta
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 404)
Như vậy chúng mình đều đang có thần thông: người viết, người đọc, hai bên hiểu nhau. Dù xa cách ngàn trùng. Không thấy mặt mà thấy tâm nhau. Đó là thần thông của Thiền.
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 377)
Cuộc đời của thiền sư, như đóa hoa quỳnh, trong trắng nở tròn đầy trong đêm tối, hương tỏa phảng phất. Nhưng trên đời có mấy ai hay, biết thưởng thức hương sắc đóa hoa quỳnh.
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 394)
Tu tại gia và tu chợ là khó vô cùng. Tu chùa là dễ nhất. Vì sao? Rất khó giữ được: “ Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” .
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 711)
Kinh có chữ tràn đầy kia, ghi lại lời Phật.. Vậy Phật có nói pháp. Pháp ở đâu? Trong kinh à? Hay ở ngoài vườn? Hay ở trong tâm? Tâm của ta hay tâm của Phật? Hay Phật của tâm ta?
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 553)
Chúng ta tự nhận là con Phật, vậy nhớ cẩn thận lời nói của mình. Vì lời nói là biểu hiện của Tâm. Tâm ma thì <lời nói như phân>.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 517)
Vì thiệt ra, giáo thọ hay không, tất cả chúng ta đều cùng đi trên một con đường. Cùng nhìn về một hướng. Là hướng tự rèn luyện tâm của chính mình, có trị tuệ và có từ bi. Trí huệ là cửa ngõ đi vào trọng trách “sứ giả Như Lai”. Không còn cách nào khác.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 718)
Khóa An Cư Tại Tổ Đình
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 327)
Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là đại Bồ-tát làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo, dù phải xuống địa ngục. Đại Bồ-tát thì đúng ra chúng ta phải lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 284)
Như vậy, Phật, như thiện tri thức, Ma, như ác tri thức. Cả hai đều giúp ta nhận ra con đường tu tập tiến tới an vui hạnh phúc thực sự, trong hiện đời và những đời sau nữa.
17 Tháng Sáu 2020(Xem: 297)
Ni Sư Triệt Như giảng về nguồn gốc lịch sử của bài Kinh Vô ngã tướng, phân tích nội dung năm thành phần: sắc, thọ, tưởng, hành, thức của Ngũ Uẩn, và liên hệ việc ứng dụng thực hành tu tập cho thiền sinh.
14 Tháng Sáu 2020(Xem: 391)
Chúng ta là người phàm phu đang gánh chịu nhiều phiền não khổ đau. Nay đi tìm chân lý giải thoát, cần phải hiểu rõ lậu hoặc là cái gì? Và làm thế nào để đoạn trừ các lậu hoặc đó?
12 Tháng Sáu 2020(Xem: 424)
VIDEO: Thầy Thích Không Chiếu giảng THÂN CẬN XỨ tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali - 27 tháng 4, 2019
11 Tháng Sáu 2020(Xem: 673)
Mà cái tâm đó ở đâu? Nó là cái mình đã có sẵn. Quay lại là thấy. Nó ở ngay trước mắt mình. Mắt mình, không phải nhờ mắt người khác. Tâm mình, không cần qua tâm người khác.
11 Tháng Sáu 2020(Xem: 481)
Khi tâm mình tương đối lành thiện rồi, không dính mắc chuyện người khác, có được an lạc, thì nó sẽ tự dừng. Đó là Định. Có cần phải tìm kiếm bon chen vội vã không?
09 Tháng Sáu 2020(Xem: 394)
Tóm lại , Tứ Diệu đế, được xếp là Tục đế Bát nhã, nhưng hướng nhắm là dẫn đến Chân đế Bát nhã.
03 Tháng Sáu 2020(Xem: 447)
Mình có khi chưa nhìn rõ tâm mình, cứ tưởng là mình như vầy là hoàn hão rồi. Mình nhìn vào gương. Cái gương rất khách quan. Người khác sẽ thấy mình như cái gương thấy mình vậy.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 576)
Như thế là vượt lên trên cả hai khái niệm: ngã và vô ngã rồi. Khi mình không còn khái niệm ngã và vô ngã, mình mới thực sự kinh nghiệm vô ngã. Nhưng không nói là vô ngã nữa.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 392)
Sao mình không xao xuyến khi thưởng thức bụi hoa hồng vàng, rực rỡ, tươi sáng kia. Sao đứng bên mấy đóa hoa không tên này, lòng mình lại bồi hồi. Có phải là... dường như vừa biết trên đời vẫn có thể có người tri kỷ?
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 569)
Có phải mình quá vội vàng hay không? Hay là mình thiếu đèn pha, hay mình đi con đường khúc khuỷu không có đèn đường. Hay xe mình không có cái thắng tốt? Khi chúng ta đã điều khiển chiếc xe đời của mình an toàn đem đến hạnh phúc cho mình và cho người khác thì lo gì, chúng ta cũng sẽ lái chiếc xe tâm linh đến đúng mục tiêu thôi.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 758)
những điểm tương đồng giữa Không và Chân như: những điều khác biệt giữa Không và Chân như:
01 Tháng Sáu 2020(Xem: 910)
Khóa An Cư Tại Cairns, Úc Châu đầu năm 2020.
28 Tháng Năm 2020(Xem: 472)
“Phát Bồ Đề Tâm” là đặt ra mục tiêu tối hậu ngay từ lúc khởi đầu đó là hướng tâm đến lộ trình tu tập giác ngộ và giải thoát.
27 Tháng Năm 2020(Xem: 550)
Giáo lý, hay lý thuyết thiền, hay kỹ thuật thực tập là ngọn đèn soi sáng con đường mình đang đi. Các em phải tự bước đi. Mỗi người phải có trách nhiệm cuộc đời của mình. phải tự mình là ngọn đèn cho chính mình.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 689)
Cái Ngã là đầu mối của ý, của lời và của hành động. Từ đó là Nghiệp.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 462)
Ni Sư Triệt Như thuyết giảng cô đọng về giáo lý, phương pháp thực tập thiền và đối chiếu với kiến thức khoa học thời đại, qua sơ đồ đúc kết lại 'Con đường tu tập' của thiền sinh từ lớp căn bản đến 4 cấp lớp bát nhã
26 Tháng Năm 2020(Xem: 463)
Giai đoạn 1: Biết không lời + sự xúc chạm đi Giai đoạn 2: Biết không lời + trạng thái tâm trống rỗng. Giai đoạn 3: Tỉnh thức biết không lời + thấy hay nghe. Giai đoạn 4: Nhận thức biết không lời trống rỗng = nhận thức biết không lời như vậy.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 695)
Vậy, qui luật xung đột là đúng hay qui luật hài hòa là đúng? Xung đột là khổ đau. Hài hòa là an vui, là niết bàn. Một cái thấy theo người thế gian, đúng theo thực tế của cuộc đời. Một cái thấy của bậc tỉnh thức, đứng trên bản thể của cuộc đời.
21 Tháng Năm 2020(Xem: 895)
Con đường tu đã được đức Phật trình bày thật rõ ràng, dứt khoát, lý luận thật vững chắc, không ai bắt bẻ được. Thời xưa cho đến nay, Tứ Diệu Đế vẫn được xem như là con đường tu quan trọng khuôn mẫu để ra khỏi cảnh đời đau khổ trần gian.
21 Tháng Năm 2020(Xem: 519)
Ba tháng rưỡi qua rồi, mình đứng trên bờ, nhìn dòng sông đời trôi chảy, êm dịu, hài hòa, theo nhân duyên của nó. Dòng sông đời mình cũng vậy, trôi chảy thật êm đềm theo nhân duyên trùng trùng của nó. Đố ai khuấy động được dòng sông đời muôn thuở của nghiệp quả ?
21 Tháng Năm 2020(Xem: 1021)
Một em thiền sinh hỏi cô về pháp Thở. Bây giờ cô trình bày phương thức thực tập Thở của chúng ta đã theo từ nhiều năm nay. Chúng ta cũng căn cứ trên kinh Nikàya, tuy nhiên chúng ta giải thích đơn giản hơn.
18 Tháng Năm 2020(Xem: 671)
Ni Sư tổng kết và phân tích cách thực hành áp dụng Biết Không Lời của Tánh giác trong mỗi đề mục: Thân, Thọ, Tâm, Pháp trong Kinh Niệm Xứ, một bài Kinh quan trọng trong việc thực hành thiền theo hệ phái Theravada. - Khóa Bát nhã IV - Toronto 6 tháng 7, 2016
17 Tháng Năm 2020(Xem: 562)
Luân hồi là xoay tròn, tiếp nối lên xuống của mỗi chúng sanh trong sáu cõi. Khi tái sanh ở cõi này, khi đầu thai ở cõi khác, tiếp nối tử sinh, sinh tử không ngừng.
15 Tháng Năm 2020(Xem: 1035)
Thầy Thích Không Chiếu giảng BƯỚC ĐẦU VÀO THIỀN: Hướng dẩn cách thực hành THIỀN đơn giản tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali 21 tháng 4, 2018
14 Tháng Năm 2020(Xem: 687)
Trong mảnh vườn nhỏ này, cây cỏ, hoa, lá chen chúc nhau, hài hòa, kiếm sống, kiếm nắng, kiếm sương. Nhưng rồi thì tất cả cũng sẽ tàn, sẽ khô, sẽ rụng. Còn lại cái gì ? Mấy cây tiêu, cây tùng thì vẫn là cây tiêu, cây tùng. Nhưng dù còn đó, một trăm năm rồi cũng héo khô ngã quị. Mình cũng vậy.
14 Tháng Năm 2020(Xem: 676)
Mình thấy những hình ảnh già, bệnh và chết nhiều quá, nên mình không quan tâm tới, mình chưa chấn động trong tâm. Mình chưa tỉnh thức. Cho nên, bây giờ mới có thêm một vị Thiên sứ nữa, để cảnh tỉnh con người.
07 Tháng Năm 2020(Xem: 824)
Để xác định giá trị của thiền đối với đời sống con người do Phật và Tổ đã dạy, Ni Sư Triệt Như dựa vào kiến thức khoa học về cơ thể và não bộ để giải thích việc thực hành thiền và cách sống tác động như thế nào đối với thân, tâm, trí tuệ tâm linh, qua đó giúp thiền sinh hiểu được khi nào thực hành đúng và khi nào sai.
07 Tháng Năm 2020(Xem: 809)
Vậy sao đời không thấy cái sức sống, cái nhan sắc thực của thiên nhiên? Mà lại đi ca ngợi, gìn giữ tranh, ảnh là những cái “bản sao chết” của thiên nhiên? Cô thấy ngộ thiệt. Hay là mình lẩm cẩm vì tuổi già rồi không chừng!
07 Tháng Năm 2020(Xem: 893)
“...Con đồng ý với sư cô. Con nghĩ sẽ có nhiều thiền sinh kéo nhau về Tổ Đình nhổ cỏ để được sáng đạo chứ chẳng cần học giáo lý mà Đức Phật đã giảng dạy từ hơn hai ngàn năm nay đâu.... .... và con phải chọn về Tổ Đình nhổ cỏ hay học Thiền online ? ”
30 Tháng Tư 2020(Xem: 910)
Cô gởi các em câu chuyện trên cõi tiên. Có ai muốn làm tiên nữa không?
30 Tháng Tư 2020(Xem: 841)
VIDEO: Ni Sư Triệt Như: Nhắn nhủ thiền sinh qua Kết luận bài Bát Nhã Tâm Kinh Khóa Bát Nhã IV – Toronto - Canada 2016
24 Tháng Tư 2020(Xem: 987)
Con coronavirus nó chỉ ăn cái thân của mình thôi, và chỉ ăn mất thân trong một đời. Vậy mà người ta hoảng hốt. Còn cái bệnh dịch kia nó ăn cái tâm, nó ăn luôn nhiều đời mà ít ai lo . Bệnh dịch ghê gớm đó là bệnh gì vâỵ ? Chắc các em đã có câu trả lời rồi phải không ?
24 Tháng Tư 2020(Xem: 545)
Nhớ về Thiền Viện tu học nhé ! Bông hoa cây lá đón chào ta.
24 Tháng Tư 2020(Xem: 761)
Đúc kết những thuật ngữ quan trọng và cốt lõi giáo lý của Đức Phật về thiền để bổ túc cho việc thực hành từ căn bản đến bát nhã. ( Khóa Bát Nhã đặc biệt - Toronto Canada 2016)
22 Tháng Tư 2020(Xem: 668)
Khi sinh ra, hài nhi phải khóc thét lên để tự có hơi thở và trước khi chết đi con người cũng vật vã tột cùng để trả hơi thở vay mượn này về với hư không vốn dĩ của nó.
21 Tháng Tư 2020(Xem: 687)
Em cười ha ha: - Vậy cô thông báo thiền sinh ai muốn sáng đạo thì lên nhổ cỏ Tổ Đình, cô khỏi phải giảng pháp online nữa ! Lý thuyết hoài làm chi ? Phải thực hành chứ ! Vậy ai muốn sáng đạo thì lên nhổ cỏ Tổ Đình !
16 Tháng Tư 2020(Xem: 1401)
Vì thế hôm nay, cô mới quyết định ngồi lại bàn viết này, trãi tâm tư mình ra, gởi theo gió mây, tới những em nào có duyên đọc mấy lời này. Xem như là để đền trả lại những niềm vui, những năng lượng thiện lành, mà cô đã nhận được từ khi dấn bước vào con đường tu học.
16 Tháng Tư 2020(Xem: 575)
Giờ đây chỉ một chuỗi ARN nhỏ, không nhân, không tế bào, không thể nào tự sống một mình mà sống nhờ ký chủ là con người; chúng đã dạy cho con người một bài học.
15 Tháng Tư 2020(Xem: 723)
Ngay giữa những xáo động bất ổn tận gốc rễ của cuộc sống, Ni Sư đã bình thản gửi đến tất cả thiền sinh những hình, cây lá hoa cảnh thiên nhiên tươi tốt của Tổ Đình, với những lời thăm hỏi yêu thương đến đệ tử của mình. Con xin có bài pháp trình Thầy.
15 Tháng Tư 2020(Xem: 517)
Tổng Kết Các Khóa Tu Học Trong Năm 2019 Kế Hoạch Sinh Hoạt Năm 2020:
10 Tháng Tư 2020(Xem: 982)
Thân mến gởi tới các bạn những tấm hình chụp không có chuyện môn. Chỉ là để ....
09 Tháng Tư 2020(Xem: 1396)
Ni sư Triệt Như giảng Bí quyết thực hành thiền làm sao không có vọng tưởng khởi lên
09 Tháng Tư 2020(Xem: 997)
HT Thích Thông Triệt: Các tiến trình tâm trong đạo Phật (Khóa KTNL Precuneus tại Tổ Đình 2015)
03 Tháng Tư 2020(Xem: 1037)
Buổi phỏng vấn của ký giả Trọng Thành đài RFI với Thiền Sư Thích Thông Triệt đềi tài: Lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não Thứ tư 18 Tháng Bẩy 2012
01 Tháng Tư 2020(Xem: 716)
TƯỞNG NIỆM của Hòa thượng THÍCH PHƯỚC TỊNH trong buổi lể trà tỳ Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT
26 Tháng Ba 2020(Xem: 970)
Ni sư Triệt Như giảng LÀM SAO SỐNG AN TRÚ TRONG CHÁNH NIỆM (phần 1) do HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ thỉnh giảng và tổ chức tại Trung Tâm Sangha NamCali ngày 24 tháng 4, 2016
25 Tháng Ba 2020(Xem: 622)
Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài: SANH GIÀ BỊNH CHẾT tại Thiên Đường Tanh Không Nam Cali ngày 30/3/2019
19 Tháng Ba 2020(Xem: 1154)
Ni sư Triệt Như giảng : QUY LUẬT VÔ THƯỜNG tại Thiền Dường Tánh Không Nam Cali ngày 26 tháng 1, 2019
19 Tháng Ba 2020(Xem: 907)
thầy Thích Không Chiếu giảng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 5 tháng 1, 2019 Đời Mong Manh dựa vào đâu Vững Chắc
13 Tháng Ba 2020(Xem: 808)
Ni sư Triệt Như giảng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 6 tháng 1, 2016: "Làm sao Sống một Đời Sống xứng đáng"
09 Tháng Ba 2020(Xem: 1137)
I- Địa điểm An Cư: Tổ Đình thiền viện Tánh Không Nam Cali - II- Thời gian: trọn tháng 2 & 3 & 4 – 2020
09 Tháng Ba 2020(Xem: 672)
Đây là khóa An Cư của Tăng Ni nên nội dung chính là thảo luận về Giới luật của người mới xuất gia, sa di và sa di ni.
04 Tháng Ba 2020(Xem: 783)
Ni sư Triệt Như giảng giải Trung Bộ Kinh: bài ĐẠI KINH XÓM NGỰA Đức Phật dạy từng bước tu tập quan trọng và phổ biến cho tất cả.
04 Tháng Ba 2020(Xem: 948)
Hòa thượng Thích Thông Triệt, Thiền chủ pháp môn Thiền Tánh Không, đã mất ngày 27-12-2019 tại Mỹ, thọ 90 tuổi. Thầy để lại một dòng thiền đặc sắc trong thời hiện đại.
19 Tháng Hai 2020(Xem: 812)
Những gì chúng tôi trình bày hôm nay, chỉ nói lên một phần hiểu biết nhỏ nhoi của người học trò được biết những gì, Thầy cho phép được biết mà thôi!
31 Tháng Giêng 2020(Xem: 888)
Hiện tượng thế gian hiện hữu như trò ảo thuật tiếng Phạn gọi là Màyà, tiếng Anh là Illusion nghĩa là ảo ảnh. Bằng giác quan nhìn thấy hiện tượng thế gian như đang hiện hữu, nhưng tích tắc sau là thay đổi. Đó là đặc tính của Huyễn.
27 Tháng Giêng 2020(Xem: 726)
Mùa Xuân tuy đã đến nhưng cửa ngõ hạnh phúc trong lòng nhiều người bị khoá chặt. Có cách nào để mở cửa hạnh phúc cho tất cả mọi người hay không?
14 Tháng Giêng 2020(Xem: 1230)
Hình ảnh Tang Lễ Thầy Thiền Chủ - Ngày 1 tháng 1: Lễ Nhập quan và Thọ tang - Ngày 3 tháng 1: Lễ tưởng niệm Tại Thiền Viện Chân Như - Ngày 4 tháng 1: Lễ Di quan và Trà Tỳ
12 Tháng Giêng 2020(Xem: 1710)
Bài TƯỞNG NIỆM THẦY Ni Sư Thích Nữ Triệt Như đọc ngày 3 tháng 1,2020 tại Thiền Viện Chân Như vói 3 bức thư cuối cùng thầy gửi trước khi ra đi
31 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 1464)
Thầy vẫn là tấm gương sáng, là ngọn đại đăng soi đường dẫn lối cho chúng con trên bước đường tu tập.
27 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 3529)
Thiếu Thời - Thực hành không đúng cách - Ngộ đạo lần đầu - Kết quả pháp tu đúng - Thiền và khoa học - Chụp hình não bộ - Phục vụ nhân sinh qua Thiền
28 Tháng Mười Một 2019(Xem: 1175)
Lý tưởng và mục đích của hệ Theravada và Phát Triển đều như nhau nghĩa là tu tập rốt ráo để đạt được giác ngộ giải thoát, chỉ khác nhau về chủ trương và lập trường.
14 Tháng Mười Một 2019(Xem: 1124)
Thời gian không chờ đợi ai. Chúng ta còn chần chờ gì mà không bắt đầu thay đổi phương thức sống để quãng đời còn lại của chúng ta được an nhàn hạnh phúc?
29 Tháng Mười 2019(Xem: 1037)
Bài Kinh này mở ra một lộ trình giải thoát với phương thức rõ ràng, giúp người tu bắt đầu từ trạng thái Tâm Phàm Phu nhiều tham dục, nhiều phiền não khổ đau, dần chuyển sang trạng thái Niết Bàn an vui hạnh phúc.
15 Tháng Mười 2019(Xem: 1345)
Nội dung bài kinh "Viết Trên Đá, Trên Đất, Trên Nước", Đức Phật đã đề cập đến phản ứng khác nhau của ba hạng người khi nóng giận.
08 Tháng Mười 2019(Xem: 1871)
... Cái biết này luôn hiện hữu khi mình không suy nghĩ, suy tính, phân vân, đắn đo. Cái biết này là tự biết và không có cái tôi biết. Chính cái biết này mới là nơi nương tựa trong đời sống mong manh dễ vở này. Tuệ Chiếu
04 Tháng Mười 2019(Xem: 1144)
Thông thường, người ta giải nghĩa Nhân là người, Cách là tư cách, là phẩm chất, là giá trị, là tư cách làm người... Như vậy Nhân cách là một thứ giá trị, phẩm chất đạo đức của mỗi con người được xây dựng và hình thành trong suốt thời gian con người đó tồn tại trong xã hội.
23 Tháng Chín 2019(Xem: 1222)
Ba nghiệp thanh tịnh là nền tảng quan trọng cho mọi người. Nó giúp cho đời sống hiện tại của chúng ta được an vui hạnh phúc, và là cái Nhân tốt cho những đời sau. Nó còn là nền tảng cho con đường tu tập thiền Định, phát huy trí huệ tâm linh cho những ai ôm ấp lý tưởng tu hành "thoát khổ, giác ngộ, giải thoát."
12 Tháng Bảy 2019(Xem: 2057)
Bài viết của 2 thiền sinh mới lớp Thiền Căn Bản 2019 gửi bạn nhân ngày đầu tiên về tổ đình nhập thất
02 Tháng Bảy 2019(Xem: 1581)
Đủ cơ duyên được đến thăm thánh tích Nalanda, chúng tôi với tâm trạng của kẻ hậu sinh, không tránh khỏi ngậm ngùi thương tiếc một thánh tích Phật học đã một thời huy hoàng.
25 Tháng Sáu 2019(Xem: 1681)
Tường trình chuyến du hóa tại Adelaide, Canberra và Cairns, Úc châu từ ngày 1 đến 22 tháng 6.
03 Tháng Sáu 2019(Xem: 3009)
Tại nơi đây, Thiền sinh có cơ hội chuyển tâm lăng xăng dao động thường ngày bằng tâm yên lặng, không lời. Cuối ngày, mỗi thiền sinh đều cảm nhận được sự nhẹ nhàng, thanh thoát, bình yên không gợn sóng của tâm.
24 Tháng Năm 2019(Xem: 2126)
Bài "Đại Kinh Xóm Ngựa" này, tuy Thế Tôn dạy cho hàng Tỷ-kheo, nhưng đối với chúng ta là hàng Phật tử tại gia cũng có thể thực hành tu tập được. Chúng ta không cầu mong đạt tới mục tiêu cuối cùng. Nhưng nếu kinh nghiệm được trạng thái "Không Tầm Không Tứ", thì kết quả cũng giúp cho chúng ta có đủ năng lượng để đối phó với đời sống nhiều nhiễu nhương phiền não.
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3007)
Chúng ta đã lỡ bị sanh vì chúng ta không có khả năng lựa chọn nơi sanh thú trong quá khứ, tuy nhiên chúng ta có khả năng tự quyết định nơi tái sanh trong tương lai dựa vào lời dạy của Đức Phật.
11 Tháng Giêng 2019(Xem: 2594)
Trước thềm năm mới người sống ở ngoài đời hay người đang đi trên đường đạo. Ai cũng có nhu cầu quay về năm cũ để xem năm qua cuộc sống của mình như thế nào hầu sửa chữa hay bổ xung cho đời sống năm mới được tốt đẹp hơn.
24 Tháng Mười Hai 2018(Xem: 2607)
Có rất nhiều cách thay đổi cuộc sống cũ nhàm chán để có cuộc sống mới phấn khởi tích cực hơn. Nhưng quan trọng và cần thiết là trước tiên chúng ta cần phải tìm hiểu những điều căn bản nào tạo nên sự cân bằng để con người có một thể chất tốt, một sức khoẻ tốt, rồi từ đó chúng ta mới bắt đầu thực hiện cuộc thay đổi.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 3043)
Tính đến nay, Đức Phật đã nhập diệt 2,562 năm, nhưng Giáo Lý cao siêu mà Ngài đã dày công hoằng dương trong 45 năm dài vẫn còn lưu lại cho nhân thế. Ngài đã để lại cho thế gian một đại kho tàng văn hoá Phật giáo đồ sộ qua ba tạng: Kinh, Luật và Luận.
19 Tháng Chín 2018(Xem: 3146)
Bài kinh "Bhaddekaratta" hay "One fortunate attachment" hoặc "Một Dính Mắc May Mắn" mà Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch là "Kinh Nhất Dạ Hiền Giả", tuy ngắn gọn và đơn giản nhưng xét kỷ thì thật sâu sắc. Đức Phật đã nhắm đúng vào tâm trạng của chúng sinh luôn khổ để mà giảng bài kinh này.
18 Tháng Chín 2018(Xem: 4345)
Sau khi đi dạo qua ba cửa thành, Đức Phật nhận ra con người phải bị già, bệnh, chết mới nói rằng ta đã lỡ bị sanh có nghĩa là mình không có muốn sinh ra mà mình vẫn bị sanh ra; khi bị sanh ra rồi thì mình phải chịu cái cảnh già, bệnh, chết. Đức Phật nói ta lỡ bị sanh bây giờ ta đi tìm cái vô sanh. Vậy cái vô sanh là cái gì?
17 Tháng Chín 2018(Xem: 4241)
Thiền trong đời hay đạo là làm sao chuyển được cái tâm (thay đổi bên trong) từ tâm dính mắc, lăng xăng thành tâm chỉ biết đến thầm nhận biết. Từ bước đầu tiên là không có lời nói thầm trong đầu cho đến khi thọ biết mà không dính.
13 Tháng Chín 2018(Xem: 2808)
Pháp Như Thật là phương thức thực tập nhằm chuyển đổi Tâm lao xao, loạn động sang tĩnh lặng, khách quan. Lậu hoặc/tập khí, kiết sử, tuỳ miên vẫn còn nhưng bị cô lập không khởi lên thành tạp niệm.
09 Tháng Chín 2018(Xem: 4144)
Nhờ thiền Quán mà ta sẽ thay đổi được cách nhìn, thấy một cách sáng tỏ và nhận ra chân tánh của hiện tượng thế gian; nhờ vậy sẽ sống thật, diệt trừ được tham sân si nên không còn tạo nghiệp mới nữa.
30 Tháng Tám 2018(Xem: 3297)
Vu-lan (Skt: Ullambana; Hungry Ghosts Festival) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn, cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa, là cách phát âm Phạn-Hán từ danh từ Ullambana.
03 Tháng Tám 2018(Xem: 3078)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộ và giải thoát. Cho nên, những ai lập chí xuất gia đều có chung một sở nguyện là mong được thoát khổ, giác ngộ và giải thoát.
1,072,616