Triệt Như - Dấu Chân Trên Cát - Bài 11
Mùa xuân năm đó…tại Gosinga.
Gosinga, khu rừng Sừng Bò. Đây là một khu rừng có nhiều cây sa la cổ thụ, hoa nở quanh năm, nhưng đặc biệt hoa đơm nở đỏ rộ là vào mùa xuân. Hoa sa la màu đỏ thắm, năm cánh tròn, nhụy vàng, hương thơm. Điều đặc biệt là hoa mọc ra từ thân cây, từng chùm với nhiều nụ búp trên một nhánh dài rủ xuống. Khu rừng Gosinga là một địa danh nằm trong lãnh thổ của dân Vajji.
Năm đó, thiệt là tình cờ, các vị thánh đệ tử trong giáo đoàn của Đức Thế Tôn gặp nhau trong khu rừng Sừng Bò này. Nói là tình cờ vì mỗi vị đều có những trách nhiệm riêng. Theo nguyên tắc của Đức Thế Tôn, Ngài luôn khuyến khích các đệ tử sau khi đạt quả vị Arahant, tâm hoàn toàn trong sạch, không còn lậu hoặc, thông hiểu giáo pháp, không thể bị ô nhiễm bụi trần, thì mỗi vị nên chia nhau đi khắp nơi truyền bá giáo pháp. Mỗi vị đi một hướng, không đi hai người. Quanh năm dãi nắng dầm mưa, đầu trần chân đất như vậy, có khi nào được gặp nhau, cũng như có khi nào được yết kiến Đức Thế Tôn.
Vậy mà mùa xuân năm nay, Đức Thế Tôn đang trú tại khu rừng Sừng Bò và sáu vị đệ tử lớn của Ngài cũng đang ở tại đây, thiệt là hi hữu!
Vị trẻ nhất là Ngài Ānanda, tương truyền Ngài sinh ra trong cùng thời gian Đức Thế Tôn thành đạo; mãi hai mươi năm sau, Ngài mới trở thành vị thị giả ưu tú của Đức Thế Tôn. Ngài là con của một ông hoàng em của vua Suddhodana, dung sắc đoan trang, thanh tú. Ngài có trí tuệ, thông minh, lại trí nhớ phi thường, nghe pháp một lần là thông hiểu và ghi nhớ. Ngài tận tâm phụng sự Đức Thế Tôn, cũng nhiều lần giảng pháp cho Ni đoàn, tuy Ngài chưa đạt quả vị Arahant, Ngài được đức Thế tôn khen ngợi là Đa văn đệ nhất.
Một vị trẻ tuổi kế là Ngài Revata, khi xưa là em út của ngài Sāriputta. Ngài Sāriputta có ba người em trai là Cunda, Upasena và Revata và ba người chị là: Cālā, Upacālā và Sīsūpacālā. Ngài Sāriputta sau khi xuất gia vào Tăng đoàn của Đức Phật, một tuần lễ sau Ngài đắc quả Arahant; Ngài tiến dẫn ba người chị và hai người em trai lớn cùng xuất gia, tất cả đều đắc quả Arahant sau đó. Riêng người em út lúc đó mới bảy tuổi thì để lại nhà. Cha mẹ lo cưới vợ sớm cho cậu bé Revata. Tuy nhiên, trong hôn lễ, nhìn cô dâu trẻ ngây thơ bảy tuổi, rồi nhìn thấy bà ngoại cô dâu gần 100 tuổi nhăn nheo già còm, chú rể hoảng sợ, trên đường rước dâu về, cậu bé bỏ trốn, chạy đi tới một nhóm tỳ kheo đang tu trong rừng, xin xuất gia. Vì có sự chấp thuận trước của Ngài Sāriputta, Revata được xuất gia, nhận một chủ đề, đi vào rừng một mình, sau đó Revata đạt quả Arahant.
Một vị Arahant nữa là Ngài Anuruddha, là con trai của ông hoàng Amitodana, em vua Suddhodana. Amitodana có con trai lớn là Mahā Nāma (sau này lên làm vua kế nghiệp vua Suddhodana) và con gái là công chúa Rohini và Anuruddha. Ngài Anuruddha nổi tiếng là bậc Thiên nhãn đệ nhất.
Một vị đệ tử lớn khác là Ngài Mahā Kassapa, hạnh đầu đà đệ nhất. Ngài thích sống một mình, nơi núi cao rừng thẳm, mặc y từ những mảnh vải thô rách, thường đi khất thực những nhà nghèo khổ, cho đến đỗi có lần Ngài muốn tới yết kiến Đức Thế Tôn khi Ngài có một buổi thuyết pháp, nhưng không ai nhận ra Ngài, Ngài bị ngăn lại từ cổng vào, có lẽ vì dáng dấp nghèo khổ. Đức Thế Tôn ở xa trông thấy Ngài, bảo Ngài Ānanda bước ra cửa mời Ngài vào, và Đức Thế Tôn đã chia nửa tòa ngồi cho Ngài Mahā Kassapa. Dù Ngài Mahā Kassapa không dám ngồi, nhưng điều này đã nói với đại chúng rằng Đức Thế Tôn khen ngợi đức hạnh và trí tuệ siêu vượt của vị đại đệ tử này.
Vị đại đệ tử ưu tú nữa là Ngài Mahā Moggallāna, được tôn là Thần thông đệ nhất. Cuối cùng là Ngài Sāriputta, Trí tuệ đệ nhất, trong kinh điển thường tán thán Ngài là vị Tướng Quân Chánh Pháp. Cả hai vị khi xưa là đôi bạn thân, trong hai gia đình Bà la môn danh giá giàu sang ở gần thành Vương Xá của xứ Maghada. Cả hai thanh niên đều thông suốt tất cả mấy bộ kinh Veda, thông minh, trí tuệ, biện luận sắc bén không ai hơn được. Tuy vậy, cả hai đều biết mình cần phải tìm một bậc Thầy, vì biết mình chưa thấy tới chân lý cuối cùng. Một buổi sáng đó, chợt trông thấy ngài Asaji đang đi trì bình trên đường, phong thái trang nghiêm, thanh thản, thần sắc trong sáng, đợi Ngài thọ trai xong, ngài Sāriputta bước tới thưa hỏi. Ngài Asaji tóm gọn giáo pháp trong một câu:
Bấy giờ, Ngài Sāriputta bỗng nhiên nhận ra chân lý cuối cùng. Hôm sau, cả hai dẫn theo mấy trăm đệ tử của mình đến xin xuất gia với Đức Phật. Tương truyền Ngài Mahā Moggallāna đắc quả Arahant ngay đó, còn Ngài Sāriputta thì một tuần sau cũng đắc quả Arahant. Từ đó hai vị trở thành hai trụ cột vững chắc hỗ trợ Đức Thế Tôn lãnh đạo tăng đoàn.
Đêm nay, đêm rằm, trăng thật sáng, ánh trăng tỏa xuống khu rừng như tăng thêm vẻ huyễn ảo. Bây giờ là mùa xuân, mùa hoa sa la nở, hương thơm ngát như hương trời. Không gian vắng lặng, tĩnh mịch. Những việc ban ngày đã xong. Đêm nay, ta sẽ làm gì? Mấy khi ta được hội ngộ cùng nhau như đêm nay. Mấy khi ta được gặp những cánh chim đầu đàn như tôn giả Sāriputta, tôn giả Mahā Kassapa, vậy ta hãy cùng nhau tới nghe pháp nơi tôn giả Sāriputta. Nghĩ vậy, tôn giả Mahā Moggallāna đi tới chỗ ngài Mahā Kassapa: “Tôn giả Mahā Kassapa, chúng ta hãy tới nghe pháp nơi tôn giả Sāriputta”.
- Thưa vâng, tôn giả.
Tôn giả Ānanda trông thấy mấy vị đại sư huynh của mình rủ nhau tới Ngài Sāriputta nghe pháp, nhớ tới vị sư huynh trẻ Revata, tôn giả Ānanda đi tới chỗ ngài Revata đang ngồi trầm mặc ngắm trăng gần đó, nói khẽ:
- Thưa vâng, tôn giả.
Tôn giả Sāriputta trông thấy Ngài Ānanda vừa tới sau cùng, Ngài vui vẻ:
- Tôn giả Ānanda, vị thị giả ưu tú hầu cận Đức Thế Tôn, phước báu không ai bằng.
Khu rừng Gosinga khả ái thay! Đêm rằm sáng trăng, cây sa la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này tôn giả Ānanda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
Ngài Ānanda mỉm cười, thoáng hiện ra: A! Thiệt là sắc bén! Ta tới đây nghe pháp, không ngờ ta bị hỏi pháp. Ta nhỏ tuổi nhất, ta chưa là Arahant, ta lại phải trả lời trước nhất. Không sao, ta cũng có thể trình bày trước các vị đại sư huynh này.
- Thưa tôn giả Sāriputta, Tỷ-kheo thường xuyên nghe bậc Đạo sư giảng pháp, chí tâm lắng nghe, thông hiểu, ghi nhớ từng chữ, từng câu, rồi suy gẫm thêm, tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc, nội dung nào là quan trọng, là cốt lõi, đem ra áp dụng trong đời sống của mình, và có thể thuyết giảng lại cho người khác. Trong hội chúng đông người cũng có thể trình bày chính xác, rõ ràng, lưu loát và thích hợp với từng căn cơ. Tỷ kheo ấy có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga này.
Tôn giả Sāriputta quay qua Ngài Revata:
- Thưa tôn giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống ẩn dật vắng lặng, nội tâm tu tập không gián đoạn thiền định, thành tựu thiền quán, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Thưa tôn giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:
Khu rừng Gosinga khả ái thay! Đêm rằm sáng trăng, cây sa la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này tôn giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
- Thưa tôn giả Sāriputta, Tỷ-kheo với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, quán sát ngàn thế giới. Ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này tôn giả Sāriputta, Tỷ-kheo với Thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, quán sát ngàn thế giới. Này tôn giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga này.
Tôn giả Sāriputta quay qua nói với tôn giả Mahā Kassapa:
Tôn giả Sāriputta lại quay qua tôn giả Mahā Moggallāna:
Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nói với Tôn giả Sāriputta:
Bấy giờ cả sáu vị đại đệ tử đều đã trình bày rõ hạnh sống và kinh nghiệm thực sự của mình.
Đêm ấy là đêm rằm, trăng tròn, không chút mây che, ánh sáng trăng soi chiếu rõ hình bóng sáu bậc thánh nhân, đang ngồi kiết già thành hình bán nguyệt trước mặt ngài Sāriputta làm trung tâm. Sáu tấm y vàng, trong ánh trăng đêm hiện ra sắc vàng thẫm như màu lá vàng khô, các Ngài ngồi yên lặng trên bãi cỏ, lưng thẳng, ánh mắt sáng ngời, rạng rỡ còn hơn ánh trăng. Bao nhiêu tháng ngày giong ruổi, ngàn dặm đường xa, mỗi người một phương trời, vậy mà đêm nay, mùa xuân này, lại được hội ngộ, cùng nhau trao đổi pháp, hạnh phúc biết bao, an lạc biết bao. Những ngày mưa nắng, gió lạnh, những khi lên núi, vào rừng, phố chợ đông người hay làng nghèo vắng vẻ, biết bao nhiêu là kinh nghiệm để san sẻ cho nhau, bao nhiêu là nỗi niềm muốn bày tỏ. Nhưng giờ đây, tất cả như tan loãng trong không gian ngát đượm hương hoa sa la rồi. Không ai còn có điều gì muốn nói nữa.
Chợt nghe như có tiếng hót thanh tao, một con chim nhỏ nào đó giật mình thức giấc. Ngài Sāriputta mỉm cười:
Tất cả nhẹ nhàng đứng lên, từ từ bước theo Ngài Sāriputta hướng về nơi Đức Phật. Đức Phật đang ở không xa lắm, chỉ một khoảng đường mòn trong vườn rừng. Trên một bãi cỏ không rộng lắm, rất đông các vị tỳ kheo đang ngồi kiết già yên lặng, trước mặt là Đức Thế tôn.
Vừa bước qua ngả rẽ con đường mòn, một cảnh tượng hi hữu xuất hiện. Sáu vị đại đệ tử dừng bước, ngắm nhìn một bức tranh, hoàn toàn bất động, mà sống động vô cùng khiến ai ngắm nhìn cũng phải ngẩn ngơ. Từng hàng tỳ kheo đắp y vàng ngay ngắn đang ngồi kiết già, mặt quay về hướng đức Thế Tôn. Đêm đã về khuya, ánh trăng rằm đã lên cao, tròn vo sáng ngời, tỏa chiếu thẳng xuống tăng đoàn như dành riêng chiếu sáng cho bức tranh đêm nay nơi rừng Gosinga này. Đức Thế tôn cũng ngồi kiết già, trên một bục cao, mọi người ở xa cũng có thể trông thấy khi Ngài giảng pháp. Thần sắc sáng rỡ, oai nghiêm mà từ hòa.
Sáu vị thánh đệ tử lặng người, chiêm ngưỡng bức tranh tuyệt đẹp này, như có như không, thực tại mà như huyễn mộng. Hoa sa la thơm ngát, lá rừng đứng yên. Đêm nay, rừng Gosinga thiệt là sáng chói vô cùng.
Nghe tiếng lá khô xào xạc xa xa rồi yên lặng, Đức Thế tôn mở mắt nhìn ra, mỉm cười. Ngài Sāriputta nhẹ bước tới đảnh lễ Đức Thế tôn rồi nhẹ nhàng ngồi kiết già bên phải Đức Thế tôn. Tiếp theo, Ngài Mahā Moggallāna cũng bước tới đảnh lễ Đức Thế tôn rồi ngồi xuống bên trái Đức Thế tôn. Mấy vị Mahā Kassapa, Anuruddha, Revata và Ānanda cũng lần lượt chia nhau ngồi kiết già tiếp theo.
Đức Phật đưa mắt nhìn ngài Sāriputta. Ngài Sāriputta khe khẽ trình bày tất cả câu chuyện bàn luận về pháp lúc nãy. Mỗi vị đã nói như thế, như thế… Bấy giờ Đức Thế tôn mỉm cười:
"Vui thay, Phật ra đời,
Vui thay, Pháp được giảng,
Vui thay, Tăng hòa hợp,
Hòa hợp tu, vui thay!"
(Kinh Pháp Cú)
Thiền viện, ngày 02 - 09 - 2025
TN

