Triệt Như - Dấu Chân Trên Cát - Bài 10
Mùa xuân trở lại… Kapilavatthu
Nếu mùa xuân là mùa của sự sống bắt đầu trỗi dậy, lá bắt đầu ra mầm non mướt, hoa đủ màu đang khoe sắc thắm trên cành. Nếu mùa xuân là mùa của hạnh phúc, rộn rã tiếng nói tiếng cười, khách tha phương trở về nhà, sum họp gia đình, tưởng nhớ tới ông bà tổ tiên... Thì mùa xuân đó đang tới trên khắp đất nước thanh bình của Kapilavatthu này.
Cả năm nay rồi, tin tức về Đức Thế Tôn, một con người siêu việt, xuất thân từ thị tộc Sakka ở kinh thành Kapilavatthu, con vua Suddhodana; nay đã vang danh trong xứ Magadha của vua Bimbisāra. Sao lại như vậy?
Chúng ta thử nhìn lại những ngày tháng quan trọng này.
Sau khi nhận ra rõ ràng sự hiện hữu của thiên nhiên và con người trên thế gian, do nhân và duyên mà có mặt, lại do nhân và duyên mà thay đổi và biến mất rồi lại tái sinh, dòng sống của con người và thiên nhiên cứ tuôn chảy mãi như thế không ngừng; người ẩn sĩ cô độc trong khu rừng già bên bờ sông Nerañjarā (có khi viết là Niranjana) giờ đây đã thấy rõ tất cả những diễn tiến trong đời, đã tháo gỡ ra tất cả các sự rối ren phiền muộn từng ấp ủ ray rứt trong tâm. Mắt như sáng hơn, nhìn thấu suốt tất cả trong ngoài, gần xa, nói hay không nói, tất cả tâm con người đều hiển lộ rõ ràng. Thân tâm nhẹ nhàng, thanh thản, bước đi nhẹ hẫng như bước giữa hư không. Ngài tự biết mình đã thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc, ngay cả cái thân này cũng không ràng buộc được Ngài. Từ đây, cái tâm trong sáng làm chủ cái thân. Ngài nghĩ tới nhóm 5 vị cùng tu khổ hạnh khi xưa, lập tức Ngài nhìn thấy họ đang ở tại Sarnath (Lộc Uyển) gần thành phố Varanasi. (Hiện nay Varanasi cách xa Bodh Gaya khoảng 240 km đường bộ.)
Ngài quyết định đi bộ từ từ tới đó. Bước đi khoan thai nhẹ nhàng, buổi sáng khất thực, rồi tiếp tục đi; đêm ngồi thiền bên đường, dưới gốc cây, trong rừng vắng… Mấy lần trăng sáng, rồi trăng khuyết rồi đêm đen… Với Ngài bây giờ không còn đường xa hay khoảng cách nữa, cũng không có thời gian, dòng sống là như vậy, mãi mãi cũng là như vậy, có gì đâu mà vội vàng hấp tấp.
Từ xa, năm vị tu sĩ khổ hạnh đã nhìn thấy Ngài.
Phần này xin lướt qua vì trong kinh điển đã có diễn tả chi tiết rồi, mình không lặp lại nữa.
Sau khi nghe Đức Thế Tôn giảng bài kinh thứ nhất là Tứ Diệu Đế và bài kinh thứ hai là Vô Ngã Tướng, cả năm vị đều đắc quả Arahant. Từ đây, trên đời có ba ngôi báu: Phật - Pháp - Tăng.
Tiếp theo, ngài Yasa nhân một buổi sáng dạo chơi trong rừng, được nghe Đức Phật giảng pháp, Ngài đắc quả Arahant, là vị đệ tử Arahant thứ sáu. Sau đó, thêm nhóm bạn của ngài Yasa cũng xuất gia và đắc quả Arahant, bấy giờ tăng đoàn đã tới sáu mươi vị.
Vua Bimbisāra xứ Magadha, là một vị vua trẻ, nhỏ hơn Đức Phật năm tuổi. Nghe tin thái tử Siddhattha khi xưa nay đã thành bậc giác ngộ, Ngài lập tức phái một đoàn kỵ mã tìm tới Đức Phật chuyển lời thỉnh mời Đức Phật và tăng đoàn về kinh đô Rājagaha. Đức Phật nhớ lại, khi xưa Ngài đã từng hứa với vua Bimbisāra sẽ trở lại kinh đô Rājagaha (Vương xá) ngay sau khi Ngài giác ngộ. Vì thế, Ngài cùng tăng đoàn đi bộ lần về Rājagaha.
Cả kinh thành tưng bừng rộn rã chuẩn bị, treo đèn kết hoa rực rỡ đón chào. Vua Bimbisāra chọn khu rừng trúc, một nơi tĩnh lặng, có bóng mát, có ao hồ nước trong, không xa phố chợ cho người dân dễ lui tới nghe pháp. Vua lập tức cho người xây cất hàng ngàn tăng xá và phòng giảng giữa cây lá xanh tươi của rừng trúc, gọi là Trúc Lâm (Veḷuvana) nơi có nhiều sóc chạy nhảy vui đùa. Bấy giờ Tăng đoàn đều là những vị căn cơ sắc bén, nghe pháp lần đầu đã đắc quả Arahant, là quả vị cao nhất của người tu. Ngay sau đó, tất cả đều xuất gia, trở thành tỳ kheo, đều là những thánh đệ tử, tâm hoàn toàn sạch hết lậu hoặc, không sai phạm lỗi lầm. Nhìn thấy cả đoàn các vị thánh tỳ kheo trang nghiêm mà thanh thản, đi từng bước khoan thai, y vàng phất phới, theo sau Đức Thế Tôn, phong thái xuất trần, lại được nghe những lời pháp như nước mát giữa sa mạc khổ đau, rất nhiều, không biết bao nhiêu mà kể, thanh niên đủ mọi thành phần đã phát tâm dũng mãnh, rời bỏ gia đình, trở thành tỳ kheo.
Giáo đoàn bây giờ bỗng nhiên lớn mạnh không ngờ, chính vua Bimbisāra cũng trở thành vị đệ tử tại gia thuần thành của Đức Phật.
Cũng tại kinh thành Rājagaha thịnh vượng của xứ Magadha hùng mạnh này, Đức Thế Tôn có hai vị đại đệ tử cao quí, đó là Ngài Sāriputta và Ngài Moggallāna, quê hương gần thành Rājagaha. Khi hai vị đến xin làm đệ tử của đức Phật thì tất cả mấy trăm thanh niên đệ tử của hai vị cũng trở thành tỳ kheo trong tăng đoàn này.
Đức Thế tôn và giáo đoàn đã an cư mùa mưa tại tịnh xá Trúc Lâm, do vua Bimbisāra cúng dường, là ngôi tịnh xá đầu tiên thích hợp cho cả giáo đoàn hàng ngàn người tinh cần tu tập.
Tin tức về vị Đạo sư sáng chói này bay về tới kinh thành Kapilavatthu.
Cả đất trời như chấn động rung chuyển. Kinh đô của thị tộc Sakka như bừng sáng lên sau cái màn đêm dài nặng trĩu của 7 năm xa cách. Thời gian đầu, thỉnh thoảng vua Suddhodana còn nhận được tin tức về người con trai yêu quí của mình đang tu tập với ngài Āḷāra Kālama, rồi với ngài Uddaka Rāmaputta. Sau đó biết tin thái tử đã bỏ đi, lang thang trong rừng ở Uruvelā, vua đã phái nhóm Ngài Kondañña năm vị đến rừng Uruvelā hướng dẫn thái tử tu khổ hạnh và chăm sóc Ngài. Nhưng đến khi thái tử đi vào rừng sâu một mình, tu khổ hạnh khốc liệt, thì hoàng gia không còn biết tin tức gì nữa. Sau đó, năm vị đạo sĩ lại hiểu lầm Ngài bỏ tu khổ hạnh, trở lại sống lợi dưỡng, họ khinh thường và bỏ rừng Uruvelā, đi mãi tới Sarnath xa xôi, thì không ai biết tin tức nào về vị ẩn sĩ Gotama nữa.
Trong quãng thời gian này, dường như cả đất nước Kapilavatthu càng lúc càng trầm lặng, cho tới hoa không buồn nở, gió cũng ngừng, mây cũng không bay, vua không tha thiết họp triều thần, bà Gotamī trở nên ít nói, ít cười. Còn nàng Yaśodharā thì sao? Từ lâu, nàng đã thay đổi nếp sống, khi biết tin thái tử sống trong rừng, nàng đã cất hết những chiếc áo lụa Kasi, đủ màu tươi thắm, xếp lại những chiếc khăn quàng Kashmir sang trọng, nàng mặc áo vải thô màu trắng, quấn khăn choàng cũng màu trắng, là y phục đơn sơ của người tu tại nhà như truyền thống chung của thời đó. Những cô thị nữ hầu cận cũng chung nỗi buồn với cô chủ nhân, quấn vào mình những mảnh vải màu trắng mộc mạc bình dân.
Còn cậu bé Rāhula? Lớn lên như cây sala, bước đi vững chắc, là trung tâm của cả gia đình, cậu bé hay nói hay cười cho mẹ vui. Cậu cũng mặc toàn trắng, bộ võ phục gọn gàng, vì ông nội đã bắt đầu cho cậu học cỡi ngựa, cỡi voi, múa quyền, v.v. Tới nay, cậu bé đã 7 tuổi rồi mà chưa thấy mặt cha. Mỗi lần nghĩ tới đây, mắt nàng lại long lanh ngấn lệ. Thì đứa con ngây thơ yêu quí của nàng lại đặt bàn tay nhỏ bé của nó lên tay nàng, nhìn thẳng vào mắt nàng mà cười thật tươi, mẹ nhìn con đi, con giống cha lắm. Phải, con giống cha lắm, cảm ơn cái tặng phẩm vô giá này chàng để lại cho ta.
Mấy hôm nay, tin tức tới tấp bay về kinh thành Kapilavatthu, nào là Đức Thế Tôn chính là dòng dõi Sakka, con vua Suddhodana, nào là Ngài đang trú tại nước Magadha, nào là tăng đoàn của Ngài đông tới mấy ngàn người, nào là tịnh xá Trúc Lâm huy hoàng rông lớn v.v. Cả nước như bùng vỡ, niềm vui như chan hòa từ kinh thành ra tới làng quê. Nhà nhà treo đèn, kết hoa, tiếng nói tiếng cười rộn rã. Vua Suddhodana ra lệnh xây một ngôi tịnh xá cho Đức Phật và tăng đoàn của Ngài có nơi an trú tại kinh thành. (Có sử cho rằng tại Kapilavatthu có ngôi tịnh xá Nigrodhārāma do hoàng tử Nigrodha dòng Sakka xây dựng và cúng dường cho Đức Phật).
Đồng thời, vua Suddhodana cho một đoàn kỵ mã phi ngựa tới kinh đô Rājagaha, thỉnh mời đức Phật về Kapilavatthu vì cả triều đình và dân chúng trông chờ ngài. Nhưng rồi nghe bài pháp của đức Thế Tôn giảng, nhìn thấy phong cách của ngài và tăng đoàn oai nghiêm, đoàn sứ giả phát tâm xuất gia, không thưa trình chi hết. Đợi mãi không thấy họ trở về, vua Suddhodana phái đoàn sứ giả thứ hai, nhưng rồi cũng vậy. Sau cùng, Ngài phái đoàn sứ giả thứ ba, trong đó có Channa, người thanh niên điều khiển xe song mã của thái tử khi xưa, lần này Channa nhớ nên đã thỉnh mời Đức Thế Tôn trở về Kapilavatthu. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Hết mùa mưa năm ấy, Đức Phật và cả giáo đoàn lên đường lần về Kapilavatthu. Đoàn tu sĩ đi tới đâu, tin tức đều truyền về tận triều đình chính xác. Tâm mọi người vui mừng phấn khởi, mùa xuân đây rồi, cả trời đất đều tràn đầy sức sống, tươi sáng rực rỡ. Mùa xuân đang về trên kinh thành Kapilavatthu này. Bây giờ mới thiệt là mùa xuân.
Còn Yaśodharā, nàng ra sao? Nàng cũng vui lắm, bảy năm trông chờ đã mòn mỏi. Nhưng mà, nỗi niềm riêng biết nói với ai. Sáng nay, ngắm lại mình trong gương, tóc không còn xanh, môi không còn hồng, nàng chợt thở dài. Mai này gặp lại, chàng có nhận ra ta không? Hay là ta không gặp chàng nữa? Nếu gặp chàng, ta sẽ rơi nước mắt. Không, ta không thể rơi nước mắt trong khi cha mẹ và dân chúng đều vui cười. Nàng thẫn thờ, gặp chàng, hay thôi, không trông thấy nhau nữa.
Đoàn tu sĩ đã về tới Kapilavatthu chiều hôm qua, tin cấp báo về, vua ra chỉ thị cho một đoàn quan quân đón rước về nghỉ ngơi tại tịnh xá mới vừa hoàn thành, tiện nghi đầy đủ. Sáng hôm sau, nhà vua, cả triều thần và dân chúng sẽ tụ hội nghênh đón Đức Thế Tôn và tăng đoàn của ngài thật trọng thể.
Đêm ấy, bà Gotamī đến gặp nàng Yaśodharā, báo tin cho nàng biết sáng mai thái tử Siddhattha sẽ vào hoàng cung cùng với tăng đoàn của Ngài. Thiệt ra, mấy cô thị nữ cũng đã trình lên cho nàng biết rồi. Bà nhìn nàng mỉm cười dịu dàng, con nhớ trang điểm một chút. Chợt thấy giọt nước mắt lăn dài trên má nàng, bà nắm nhẹ tay nàng, thôi con nghỉ ngơi sớm. Bà từ từ quay đi, thương cảm.
Sáng sớm hôm đó, mặt trời chưa thức dậy, mà cả trong triều như đã thức dậy rồi. Vua Suddhodana, bà Gotamī vui mừng đã không ngủ được, trong cung điện đèn đuốc sáng trưng. Nơi nào cũng sạch sẽ gọn gàng, đây là cổng thành, dân chúng sẽ đứng dài theo hai bên con đường, tiếp theo là quân lính xếp hàng ngay ngắn hai bên đường, ngay trước những bậc thềm cao dẫn lên cung điện là quan chức, nhân viên, là cung nữ. Còn vua sẽ đứng ở bậc thềm trên cao nhất, bên cạnh sẽ là bà Gotamī và cô Yaśodharā, còn hoàng tử Rāhula sẽ được đứng bên trái vua.
Mặt trời bắt đầu ló dạng ở xa xa, những tia nắng nghiêng nghiêng chạy dài tới trung tâm lễ đài, tất cả mọi người đều nô nức, muốn tận mắt ngắm nhìn ông thái tử yêu quý của họ ngày nào, bây giờ lại trở thành đấng Thế Tôn mà cả nước Magadha đều ngưỡng mộ. Ánh nắng chiếu lên những tràng hoa đủ màu, hoa càng tươi thắm. Giữa khoảng sân rộng, nhiều mái lều trắng được dựng lên, bên dưới là từng hàng dài bàn và ghế, làm nơi thọ trai cho cả ngàn vị tỳ kheo. Nhóm người phụ trách việc cúng dường trai tăng này đã chuẩn bị từ đêm rồi, bây giờ đâu đấy đã xong.
Tất cả mọi người đều vui mừng hớn hở, trang sức, khăn quàng đủ màu phất phới tung bay với gió mát. A! Mùa xuân này còn đẹp hơn mấy mùa xuân trước.
Bỗng nhiên, tiếng trống từ cuối sân vang lên, ban đầu nhẹ nhẹ rồi lần lần lớn hơn, mau hơn, dồn dập như vui mừng nhảy nhót, rồi tiếng kèn, tiếng tù và trổi lên hòa nhịp. Tất cả đều quay nhìn ra ngoài cổng thành. A! Kìa! Bóng nhiều tà áo vàng đang di chuyển chầm chậm vào cổng thành. Tất cả dán mắt vào đoàn người áo vàng từ từ rõ dần. Trong khi đó, trên bậc thềm cao nhất, vua Suddhodana đã nhanh chân bước ra, bà hoàng Gotamī bước ra theo, đứng bên cạnh vua, các vị quan trong triều đình đều an vị nơi chỗ đứng của mình.
Đức Thế Tôn đi trước, uy nghi mà khoan thai, theo sau là hai vị đại đệ tử Sāriputta và Moggallāna và những vị đã đắc quả Arahant, sau nữa là tất cả những vị tỳ kheo mới gia nhập tăng đoàn. Thiệt là một rừng áo vàng, trang nghiêm mà chuyển động, lặng lẽ nhưng đầy sức sống. Mọi người dường như nín thở, không ai nói cười nữa, chiêm ngưỡng một cảnh tượng tuyệt vời, chưa từng thấy. Như đóa hoa ưu đàm ngàn năm mới nở. Những ai đang chiêm ngưỡng Đức Thế Tôn và tăng đoàn buổi sáng hôm ấy, tâm chắc phải hỷ lạc tràn đầy.
Phải, nàng Yaśodharā lúc đó đứng trên lầu cao, nhìn đăm đăm vào người dẫn đầu, nàng biết đó là ai, dáng đi khoan thai mà vững chắc, mắt nhìn thẳng, trong sáng mà không cười, tim nàng đập rộn rã vui mừng, sao nước mắt lại cứ rơi? Con trai yêu quý của nàng, cậu bé Rāhula nay đã 8 tuổi, đang đứng bên cạnh mẹ, nắm bàn tay mẹ, cha con đâu? Người đi đầu. Rāhula nhìn xuống sân, mắt sáng lên, lần đầu trong đời mới thấy mặt cha. Nàng nhìn đôi mắt sáng vui mừng của con, nước mắt lại rơi.
Đức Thế Tôn đã bước lên tới bậc thềm cao nhất, Ngài dừng lại chào cha mẹ, rồi quay lại nhìn tăng đoàn của Ngài đang đứng thành hàng dài trên mấy mươi bậc thềm, tất cả đều quay ra nhìn lại toàn cảnh quan quân và dân chúng bên dưới.
Ngài đã thấy chỉ có cha và mẹ đón mừng mình, bây giờ đứng bên cha, Ngài đưa mắt nhìn về cung điện của mình khi xưa, thấp thoáng bóng nàng Yaśodharā và Rāhula trên lầu cao. Ngài mỉm cười, ta sẽ ghé thăm nàng như một lời tạ từ.
Thế rồi, Vua thỉnh mời tăng đoàn thọ trai, Đức Thế Tôn bước xuống, cả đoàn tăng sĩ theo sau, cùng an vị đúng chỗ của mình. Vua và bà hoàng Gotamī cúng dường thức ăn cho Đức Phật, quan quân và nhân viên khác cúng dường cho tất cả tăng đoàn. Lặng lẽ thọ trai trong chánh niệm. Cả ngàn người mà không tiếng nói, tiếng cười.
Khi buổi thọ trai đã mãn, Đức Thế Tôn nói vài lời tán thán công đức bố thí cúng dường rồi đứng lên, Ngài khoan thai bước ra ngoài. Cả đoàn lặng lẽ theo sau. Ngài dẫn đầu, đi thẳng về hướng cung điện của mình ngày xưa. Vua Suddhodana và bà Gotamī đứng lại, nhìn theo bóng dáng Đức Thế Tôn, bà Gotamī mỉm cười nhìn vua.
Đức Thế Tôn đến trước cửa cung điện của mình, Ngài ra dấu cho Sāriputta và Moggallāna theo mình, còn tất cả ở ngoài sân đợi Ngài. Đức Thế Tôn bước vào, từ từ tiến tới chiếc ghế duy nhất của mình, khoan thai ngồi xuống. Mấy cô thị nữ đã báo tin cho công chúa Yaśodharā hay rồi ngay khi thấy Ngài rẽ qua lối này. Tim nàng đập nhanh hơn. Phải ra gặp chàng. Không thể chần chờ. Không kịp son phấn, không kịp nhìn vào gương. Nàng bước ra, thở một hơi dài cho bình tĩnh lại. Vẫn gương mặt đó, vẫn nụ cười này mà sao thấy trang nghiêm lạ thường. Nàng bước tới, thấp chân xuống đảnh lễ Ngài. Dường như có một giọt nước mắt rơi xuống chân ta. Bấy giờ ông hoàng tử nhỏ Rāhula đã đến bên cạnh mẹ, đặt tay lên vai mẹ. Nàng giật mình lùi lại rồi đứng lên. Rāhula tiến tới, cũng quỳ xuống đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, rồi ngước mắt lên; đôi mắt thật trong sáng, đôi mắt biết cười, hai cánh môi dường như mấp máy một tiếng “cha”, chỉ có người cha mới nghe thấy. Đức Thế Tôn mỉm cười nắm tay con đứng dậy. Ngài bước ra cửa, cậu bé vẫn không rời cha. Ngài trao chiếc bình bát của mình. Rāhula hai tay ôm lấy, liếc nhìn các vị tu sĩ, cậu bé biết mình phải ôm bình bát như thế nào, rồi cậu đi theo sau lưng cha. Ra khỏi cửa cung điện. Cả đoàn tu sĩ ráp vào theo sau Đức Thế Tôn, từ từ ra khỏi cổng thành, hướng về tịnh xá.
Yaśodharā đứng trước cổng cung điện của mình, nhìn theo đoàn người từ từ xa dần, nàng thấy đứa con yêu dấu của mình có quay lại nhìn mình và mỉm cười. Nàng chợt biết con mình đã bước vào một con đường chỉ có tiến tới chứ không bao giờ trở lại. Cũng như mùa xuân, khi đã ra đi rồi có bao giờ trở lại như mùa xuân năm trước, đóa hoa sa la năm nay cũng đỏ thắm nhưng đâu phải là đóa hoa sa la năm xưa, ai đã cài lên mái tóc của nàng, năm nàng mười sáu tuổi.
Thiền viện, ngày 28 - 08 - 2025
TN

