HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Truyện ký thánh tích NALANDA

02 Tháng Bảy 20193:07 CH(Xem: 1587)

Truyện ký thánh tích NALANDA, NƠI BỌN GIẶC HỒI SÁT HẠI HƠN 3,000 TĂNG SĨ PHẬT GIÁO

 

          Hôm nay "tour guide" đưa phái đoàn hành hương chúng tôi đến tham quan trường đại học Nalanda. Khi tới trước cổng trường, chúng tôi xuống xe đi bộ một khoảng khá xa. Trước mặt, sau lưng chúng tôi còn có nhiều đoàn hành hương khác cùng đến thăm thánh tích Nalanda. Nhìn cách ăn mặc của họ chúng tôi có thể đoán họ đến từ những xứ khác như Thái Lan, Phi Luật Tân, Đại Hàn... Có những người da trắng và cả những người Ấn Độ nữa... Chúng tôi im lặng đi qua khỏi một sân cỏ rộng lớn mới vào tới bên trong những đền tháp đã bị sập đổ chỉ còn những chân tường màu nâu củ kỹ.

          Đoàn người chúng tôi leo từng bậc thang lên trên một nền tháp lớn. Tại đây chúng tôi có thể nhìn thấy xung quanh rất nhiều nền móng của những ngôi tháp nhỏ. Khi tất cả mọi người tề tựu đông đủ, thầy Nguyên Hạnh bắt đầu khai lễ: "Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô thập phương chư Phật; Chúng đệ tử là những kẻ hậu học từ xa về hành hương xứ Phật, gặp duyên lành đến được thánh tích Nalanda, nơi đây là một mảnh đất thiêng liêng, một thời lưu dấu chân Phật và các vị Thầy Tổ. Chúng con thành tâm kính dâng lời cầu nguyện lên bao liệt vị Tổ Sư đã quá vãng tại nơi này. Xin chư Phật và liệt vị Tổ Sư chứng minh gia hộ cho Phật Pháp được trường tồn, nhân loại được hoà bình, chúng sanh được an lạc...". Sau đó tăng ni và Phật tử cùng tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh. Xong phần nghi lễ "ra mắt". Mọi người tảng ra từng nhóm. Một số đi theo sư cô Tường Liên dọc theo đường mòn tiến sâu vào phía bên trong để chiêm ngưỡng các tượng Phật khắc trên vách tường. Một số khác vây quanh thầy Nguyên Hạnh để nghe thầy kể lại một vài sự tích của ngôi đại học Phật giáo nổi tiếng này. Vài người khác thì tháp tùng với thầy Nguyên Đạt đi thu lại hình ảnh của thánh tích Nalanda vào máy video để làm tài liệu.

          Mặt trời lúc này đã lên cao, nắng nóng chiếu xuống đỉnh đầu như muốn thiêu đốt đoàn người áo lam. Lúc này mồ hôi trong người tôi tuôn ra như tắm, ướt cả sóng áo lưng. Tôi đưa vạt tay áo tràng lên lau những giọt mồ hôi nhễ nhại trên trán. Quyết định không đi theo mọi người, tôi ngồi xuống bậc thềm của nền tháp gạch màu đỏ đóng rêu xanh nghỉ mệt. Ngồi một mình dõi mắt nhìn chung quanh, tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé trước khung cảnh vĩ đại của tu viện, dù giờ đây chỉ còn sót lại những di tích điêu tàn đổ nát!

          Sử sách ghi lại rằng khu vực đại học Nalanda là quê hương của Đại dức Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên. Đại đức Xá-Lợi-Phất sanh ở làng Upatisya thuộc gia đình quyền thế. Còn Đại đức Mục-Kiền-Liên người làng Kolita cũng thuộc dòng họ trâm anh giàu có. Lúc sinh thời là bạn rất thân với nhau. Khi xuất gia, cả hai trở thành đệ tử đứng đầu hàng thánh giả của Đức Phật. Ngài Xá-Lợi-Phất nổi danh thông minh xuất chúng, còn Ngài Mục-Kiền-Liên nổi danh đệ nhất thần thông. Cả hai đều nhập diệt trước Đức Phật.  Các vị vua thời đó đã lần lượt lập đền kỷ niệm. Chỗ này là đền ghi nhớ Ngài Xá-Lợi-Phất. Chỗ kia là đền ghi dấu nơi Đức Phật dừng chân. Chỗ nọ là đền tưởng niệm Ngài Mục-Kiền-Liên. Những ngôi đền đó là nơi tụ họp của những người yêu mến đạo Phật, dần dần được xây cất thành tu viện Nalanda, để rồi phát triển thành một đại học Phật giáo sau này.

          Đại học Nalanda nổi tiếng vô cùng nghiêm mật. Các tu sĩ muốn vào đây đều phải trải qua những cuộc giảo nghiệm rất khó khăn, nếu không nói là vô cùng khắc nghiệt. Nhờ vậy mà các tu sĩ học ở trường này đều trở thành những nhà tư tưởng Phật giáo vĩ đại. Đầu tiên là Ngài Saraha là thầy bổn sư của Ngài Long Thọ (Nagarjurna), rồi đến Ngài Long Thọ là Viện trưởng.

          Sử kể rằng Ngài Long Thọ xuống tóc xuất gia hồi lúc bảy tuổi và được Ngài Saraha truyền cho pháp tu Quán Vô-Lượng-Thọ. Ngài Long Thọ sinh ra và lớn lên trong một gia đình Bà-La-Môn ở miền Nam Ấn Độ. Thuở nhỏ đã nổi tiếng thông minh vượt bực, thông thuộc hết kinh điển Bà-La-Môn gồm bốn bộ Vedas (Phệ Đà), nội dung bao quát mọi vấn đề, từ phương cách tu hành, lễ bái, đến các môn bói tướng số, chữa bệnh v.v.... Về sau Ngài quy y Đại Thừa và trở thành một Luận sư xuất sắc nổi danh của Phật giáo. Ngài sáng lập ra học phái Đại Thừa gọi là Trung Luận Tông còn gọi là Không Tông. Học phái nổi tiếng này có ảnh hưởng lớn từ khi Ngài Long Thọ giữ chức Viện trưởng của Nalanda, và kéo dài trong suốt tám thế kỷ cho tới năm 1,000 là thời Phật Giáo coi như bị tiêu diệt tại Ấn Độ.

          Thừa kế Ngài Long Thọ là Ngài Đề-Bà-Tôn-Giả (Arya Deva), rồi đến Ngài Nguyệt-Xưng (Chandrakirti), Sằn-Đề-Đề-Bà (Shantideva). Chức Viện trưởng lần lượt truyền lại cho các Ngài Vô-Trước (Asanga), Thế-Thân (Vasubandhu), Trần-Na (Dignaga), Pháp-Hộ (Dharmapala), Giới-Hiền (Shilabhadra) và Pháp-Xưng (Dharmakirti). Những vị này đều làm rạng danh Nalanda và dĩ nhiên các Ngài đều đánh bại các Luận sư Ấn Độ thời bấy giờ.

          Lịch sử không ghi rõ Đại học viện Nalanda thiết lập từ đời nào, nhưng một số nghiên cứu gia đã dựa vào năm sanh của Ngài Long Thọ vào thế kỷ thứ Hai trước Tây lịch và sau khi lớn lên Ngài tòng học tại đó, rồi trở thành Viện trưởng. Từ đó, họ đi đến kết luận rằng có thể Đại học viện Nalanda được bắt đầu xây cất từ thế kỷ thứ Nhất trước Tây lịch. Theo thời gian với sự trùng tu của các vua chúa Ấn Độ qua nhiều thời đại, viện Đại học Nalanda ngày một to lớn hoành tráng hơn. Có năm số sinh viên theo học đông đảo lên tới mười ngàn vị. Thời đó, các sinh viên được theo học miễn phí, nhờ sự ủng hộ của các vị vua chúa và các cư sĩ mộ đạo đóng góp.

          Vào thế kỷ thứ Bảy, Ngài Huyền Trang từ Trung Hoa đến Ấn Độ tu học tại trường này suốt mười ba năm liền dưới sự chỉ dạy của Ngài Giới-Hiền. Mô tả về Đại học viện Nalanda, trong quyển "Đại Đường Tây Vực Du Ký", Ngài Huyền Trang cho biết số tăng sĩ đông đến vài ngàn vị, đa số đều là những bậc tài năng xuất chúng, không phải chỉ nổi tiếng trong Ấn Độ mà còn vang danh đến cả các nước ngoại quốc. Đức hạnh của các vị này hoàn toàn thanh tịnh, họ tuân thủ giới luật thật nghiêm chỉnh. Quy luật của tu viện rất nghiêm khắc. Những vị tăng sĩ từ sáng đến tối phải lo trau giồi học hỏi bằng phương pháp vấn đáp. Thay phiên nhau, người này hỏi người kia trả lời. Đương nhiên những câu hỏi này nằm trong phạm vi đạo học, mang ý nghĩa sâu sắc rốt ráo. Những ai thiếu tài biện luận về kinh điển sẽ không được kính trọng, và tự họ phải tìm nơi vắng vẻ ôn luyện kinh điển cho đến khi thành thuộc, hầu có đủ vốn kiến thức để tranh luận với mọi người. Các nhà học giả từ những thành thị khác nếu muốn nổi tiếng đều phải vào học cho bằng được tại trường Nalanda.

          Cũng theo Ngài Huyền Trang thì trường Đại học Nalanda là nơi sản xuất một số Triết gia, Văn phạm gia, Luận lý gia và các lãnh tụ tôn giáo. Sách vở của những vị xuất thân từ trường này soạn thảo đến nay vẫn còn truyền tụng. Nhờ Nalanda mà Triết học Phật giáo Đại Thừa được nẩy nở và truyền bá khắp nơi.

          Vào thế kỷ thứ Tám, Nalanda bắt đầu bị điêu tàn, một phần vì sự xáo trộn trong nước, một phần vì sự kỳ thị tôn giáo xảy ra. Nhiều vị Triết gia tài giỏi của Ấn Độ giáo viết sách công kích thẳng thừng Phật giáo. Và sau cùng là giặc Hồi giáo tràn vào Ấn Độ. Đi đến đâu họ tàn sát tăng sĩ và phá huỷ tất cả đền thờ cũng như chùa chiền đến đó. Họ không kiêng nể bất cứ một một giáo phái nào ngoại trừ Hồi giáo của họ.

          Khi giặc Hồi giáo tiến chiếm tu viện Nalanda. Họ phá huỷ tất cả chùa tháp tinh xá trong khuôn viên Nalanda, đập nát các tượng Phật bằng đá và thiêu đốt kinh sách, đồng thời binh lính Hồi giáo đã xuống tay giết hại ít nhất là ba ngàn vị sư đang tu học ở viện Nalanda nầy. Những vị tăng sĩ còn sống sót muốn tiếp tục cuộc đời tu hành phải trốn chạy sang Tây Tạng. Hôn quân Hồi giáo chiếm Ma-Kiệt-Đà và phá huỷ Phật giáo thời đó mang tên là Bahktiyar Khilji.

          Cũng trong quyển "Đại Đường Tây Vực Du Ký" của Ngài Huyền Trang có ghi câu chuyện về Nalanda như sau:

          Từ Vương Xá thành đi về hướng Bắc độ 30 dặm là đến tu viện Nalanda. Tương truyền phía Nam của tu viện này. Ở giữa rừng Amra có một cái hồ nhỏ là nơi cư ngụ của con rồng tên là Nalanda. Người ta đã xây cất một ngôi chùa bên cạnh cái hồ ấy, nên lấy tên con rồng mà đặt cho ngôi chùa.

          Nhưng sự thật vào thời Đức Phật. Trong một tiền thân, Ngài là vị vua của một quốc gia lớn, thủ đô của quốc gia ấy đặt tại nơi đây. Ngài thương dân như con, đã làm nhiều việc thiện lành giúp đỡ mọi người thoát khỏi nhiều nỗi khổ đau. Kính trọng một vị vua đức độ người đời gọi Ngài là "Người từ thiện không mệt mỏi" và chùa này đã được đặt tên là Nalanda trong ý nghĩa đó. Chỗ này, ngày xưa là một vườn xoài. Có năm trăm vị thương gia hùn vốn hơn mười triệu tiền vàng để mua và cúng dường khu vườn xoài ấy lên Đức Phật. Do đó, Đức Phật có dịp thuyết pháp liên tục ba tháng tại đây. Nhờ vậy, mà các vị thương gia mộ đạo và nhiều người khác tu hành tại đây đã đạt được quả thánh.

          Một thời gian không lâu sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Vua Sakraditya là một vị quân vương tín hành Phật giáo, vô cùng kính trọng ba ngôi Tâm Bảo. Khi có dịp đi ngang qua địa điểm này, liền ra lệnh xây một ngôi chùa thật trang nghiêm. Trong lúc khởi công xây cất, có người đã vô tình làm con rắn chúa bị thương. Lúc đó một vị tiên tri lỗi lạc theo đạo Ni-Kiền-Đà (Nigranthas) thấy sự tình như vậy có để lại lời tiên tri: "Nơi đây là địa điểm tuyệt vời. Nếu quốc vương xây tu viện, thì tu viện này sẽ vang danh khắp nơi. Nó sẽ là một tấm gương sáng cho cả năm vùng Ấn Độ. Trong vòng 1,000 năm nó sẽ phát triển cùng cực, tăng viên các cấp bậc đều thành tài một cách dễ dàng. Nhưng sau đó nhiều vị tăng sĩ theo học trường này sẽ bị đổ máu vì vết thương của con chúa rắn". Lời tiên tri này về sau đã được chứng nhận. Giặc Hồi tràn vào đốt phá trường học và tàn sát trên ba ngàn tăng sĩ. Máu của các vị tăng sĩ này đã thấm xuống lòng đất, bay lên dính trên  tường và bám vào gạch cho tới ngày hôm nay.

          Sau vua Sakraditya, thái tử Buddhagupta lên ngôi tiếp tục công việc xây cất của vua cha. Vua Buddhagupta cho xây cánh Nam của tu viện. Sau vua Buddhagupa là vua Tathagatagupta tiếp tục cho xây cánh Bắc của tu viện. Theo gương vua cha, khi thái tử Baladiya nối ngôi, hoàng đế đã lập thêm tu viện ở phía Đông Bắc. Kế vị là vua Vajra cũng có lòng tin nơi Phật pháp nên tiếp tục cho xây một tu viện ở phiá Tây. Sau cùng, một vị vua ở miền Trung Ấn Độ kiến thiết thêm một tu viện ở hướng Bắc, và cho xây một tường rào cao bao bọc quanh tu viện với một cổng ra vào. Những vị vua kế tiếp đều góp phần xây dựng tu viện bằng cách dựng tháp, tạc tượng, làm cho cảnh trí Đại học viện ngày một vĩ đại hơn. Khi hoàn tất, nhà vua cuối cùng cho triệu tập bá quan văn võ tới và phán rằng: "Trong đại sảnh mà vị vua đầu tiên đã cho xây tu viện, trẫm sẽ đặt một tượng Phật, trẫm sẽ cúng dường 40 tăng sĩ nơi đây mỗi ngày, để tỏ lòng biết ơn vị sáng lập ra tu viện".........

          Trên đây là lịch sử Nalanda hiểu theo cách diễn đạt của Ngài Huyền Trang. Ngày nay, khi đến thăm Nalanda, du khách chỉ còn thấy cảnh hoang tàn đổ nát, nhưng chỉ cần thấy những nền móng còn sót lại đó, chúng ta cũng có thể hình dung được cảnh huy hoàng Nalanda của một thời cực thịnh rực rỡ năm xưa.

          Trở lại câu chuyện hành hương hiện tại của đoàn.....

          Khi mới bước vào, chúng tôi thấy ngay bên trái của tu viện là một nền tháp cao nhất đã bị san bằng. Muốn lên trên nền cao này, chúng tôi phải leo lên những bậc thềm rộng nhiều tầng. Đây chính là ngọn tháp mà các nhà khảo cổ ghi số thứ tự là tháp thứ 3. Đứng trên nền tháp này nhìn xuống, chúng tôi có thể nhìn thấy nhiều nền tháp nhỏ xung quanh. Những tháp nhỏ này nghe nói xưa kia là nơi thờ cốt trà tỳ của những vị Sư tại Phật học viện qua đời. Cạnh tháp số 3 ở bốn gốc có bốn tháp nhỏ tương đối chưa hư hại nhiều. Rất tiếc chúng tôi không được nghe ai giảng nghĩa về lịch sử của những ngôi tháp nhỏ này. Về hướng Bắc của tháp số 3 là tháp số 12. Tháp này đặc biệt hơn là trên tường có nhiều khám thờ. Trên mặt mỗi khám có khắc những trụ vuông tạc nhiều tượng rất khéo.

          Phía bên phải còn có một số tăng xá đánh số thứ tự như tăng xá 1, tăng xá 2, 1A, 1B, tăng xá 4, 6.... Nhưng rất tiếc là thời giờ có hạn mà khuôn viên của Nalanda thì quá rộng lớn nên chúng tôi không được ở lại quan sát cũng như không được chỉ dẫn giải thích rõ ràng, vì thực ra người "tour guide" chỉ biết qua loa không chính xác ngọn ngành lịch sử của thánh tích Nalanda như các nhà khảo sát về Phật học, nên ông ta trả lời không trôi những câu hỏi của những người trong đoàn hành hương.

          Chúng tôi rời Nalanda Phật học viện cũ còn sót lại những nền móng, để đến thăm Viện Bảo tàng Nalanda, vì những di tích đào lên được ở Nalanda xa xưa đều được giữ gìn tại đây. Có bốn loại di tích quý được tàng trử ở Bảo Tàng viện là: Các bia ký, các hình tượng, khuôn dấu và đồ gốm.

          Bia ký giúp chúng ta hiểu lịch sử của Nalanda qua nhiều thời đại. Những chữ khắc trên bia, hoặc trên lá bằng đồng hay trên tường đá, hoặc tường hoa cương của từng thời đại giúp cho việc nghiên cứu của kẻ hậu học được dễ dàng hơn.

          Trong Bảo Tàng viện, du khách được chiêm ngưỡng nhiều tượng Phật, tượng các vị Bồ Tát và các vị thiên thần khác. Nhiều tượng được làm bằng kim khí. Có tượng Phật làm bằng đồng đen đặt trên một đoá hoa sen tròn trông vừa lạ vừa đẹp.

          Ngoài những tượng Phật, tượng Bồ Tát, khách hành hương được thấy tận mắt nhiều con dấu và tấm đồng được tìm thấy trong các tăng xá. Mỗi tăng xá có một con dấu riêng. Có những khuôn dấu của các vị vua qua nhiều thời đại khác nhau. Điều này cho thấy các vị vua chúa thời xưa đặc biệt chú trọng và ra sức ủng hộ trùng tu Nalanda, khiến học viện này trở thành một đại học viện bề thế có một không hai ở Ấn Độ!

          Đồ gốm được tìm thấy ở tu viện Nalanda rất nhiều. Những tượng và những dụng cụ làm bằng gốm này đã chứng tỏ cho chúng ta thấy trình độ văn minh khéo léo của dân chúng thời ấy đã lên đến một mức độ khá cao.

          Viết về thánh tích Nalanda mà không đề cập đôi nét về Tân Phật học viện Nalanda ở Ấn Độ thời bây giờ thì thật là một thiếu sót lớn. Vì thế chúng tôi xin đề cập về Nalanda mới qua sự tìm hiểu giới hạn của mình. Xin thưa trước là không được đầy đủ như sự mong muốn, nhưng đây là một cố gắng của chúng tôi. Mong quý vị nào đã nhiều lần ghé thăm Tân Học viện Nalanda, hoặc đã từng theo học tại trường này hãy châm chế cho nếu thấy người viết không nêu lên được những điểm độc đáo đặc biệt của tu học viện mới này.

          Được biết Tân Học viên Nalanda là viện chuyên nghiên cứu ngôn ngữ Pàli và Phật học, không chỉ riêng cho Ấn Độ, mà cho rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Người đề xướng thành lập Tân Nalanda là Đại Đức Kassapa. Người tổ chức lễ đặt viên đá đầu tiên vào ngày 19-11-1951 là cố Tổng Thống Dr. Rajendra Parasad.

          Tân Học viện Nalanda toạ lạc trên một vùng đất rộng rãi, cách Nalanda cũ bởi hồ Indra. Hồ Indra vào mùa hè hoa sen nở đầy, trông vừa đẹp mắt lại vừa thanh thoát, nhất là vào những buổi sớm mai khi mặt trời vừa mới ló dạng, sương mù bay la đà trên mặt hồ, làm ẩn hiện những cánh sen hồng hồng, tím tím, khiến khách hành hương có cảm tưởng như đang lạc vào chốn thần tiên. Tân Nalanda nằm giữa đường Patna Bồ Đề Đạo Tràng và cách Vương Xá thành khoảng mười cây số.

          Tân Học viện Nalanda có một thư viện chứa nhiều bộ sách văn chương và triết học bằng nhiều thứ tiếng như: Pàli, Sanskrit, Hindi, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt v.v... Có thể nói đây là một thư viện với số lượng sách đồ sộ về cổ ngữ và Phật học lớn nhất ở Ấn Độ. Ngoài học giả và sinh viên người Ấn, Tân Nalanda còn có học giả và sinh viên nhiều quốc gia khác theo học như: Đức, Nhật Bản, Việt Nam, Hồi Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Cam Bốt, Lào, Tây Tạng v.v..

          Về chương trình giáo dục thì Tân Nalanda chỉ dành riêng cho sinh viên cao đẳng và học giả nghiên cứu. Pàli là môn học chính cho những lớp cao đẳng gồm bốn ban: Ban A (Văn chương), Ban B (Luận học), Ban C (Lịch sử và Bia ký), Ban D (Đại thừa Phật giáo gồm Luận lý học, Nhận thức học và Siêu hình học). Vì có nhiều sinh viên ngoại quốc, nên tiếng Anh được dùng để giảng dạy.

          Tuy Tân Học viện Nalanda khánh thành sau khi Ấn Độ giành lại độc lập, nhưng nhờ danh tiếng của viện Phật học Nalanda cũ, nên các học giả đến Ấn Độ đều ghé thăm đại học Nalanda mới. Về phiá Việt Nam các Phật tử chúng ta đều biết Hoà Thượng Thích Minh Châu, Thích HuyềnVi, Thích Thiện Châu v.v.. đều tốt nghiệp Tiến Sĩ tại viện Phật học này. Ngày nay có nhiều tăng ni trẻ Việt Nam đã và đang theo học tại viện Nalanda nổi tiếng này....

                                                            ***

          Đủ cơ duyên được đến thăm thánh tích Nalanda, chúng tôi với tâm trạng của kẻ hậu sinh, không tránh khỏi ngậm ngùi thương tiếc một thánh tích Phật học đã một thời huy hoàng. Chúng tôi nghĩ không một du khách nào đến đây mà không cảm thấy đau lòng khi tưởng nghĩ đến cảnh hơn ba ngàn vị thánh tăng đã đổ máu tắm ướt Nalanda bởi những bàn tay tàn bạo của những kẻ mang trong người dòng máu lạnh. Hẳn sẽ có khách hành hương, trong đó có chúng tôi tự hỏi không biết bây giờ giác linh các Ngài đang ở đâu? Có vị Bồ Tát nào trở lại cõi đời này để dìu dắt đám hậu sinh chúng tôi trên con đường tu học?

          Dẫu biết ở đời mọi việc đều vô thường. Hết thịnh thì sẽ suy. Biết thế, nhưng mấy ai tránh khỏi nỗi buồn se sắt trong lòng khi đối cảnh hoang tàn trước mắt. Riêng bản thân chúng tôi suốt đoạn đường dài ngồi trên xe bus trở về khách sạn, cứ nghĩ tới nghĩ lui về hình ảnh các vị Tăng sĩ hiền lành bỗng dưng ngã gục dưới những lưỡi dao cố tình không dung tha bất cứ một ai. Người mất đầu, kẻ mất tay chân, người lòi ruột, lòi gan. Người chết liền, kẻ quằn quại đớn đau trên vũng máu.... Nghĩ hoài đến lúc đầu óc đặt sệt, tim như ngừng đập, không thể hít được không khí vào lồng phổi, thì bỗng dưng có một luồng hơi mát mẻ không biết bắt đầu từ đâu trong cơ thể tràn ngập. Dường như tay chân chúng tôi được nhẹ nhàng đôi chút, trong đầu như được giải toả không còn căng thẳng, và dường như chúng tôi cảm nhận một sự ấm áp an ủi khởi lên trong tâm mình. Dầu sao thì những di tích cụ thể về Phật giáo vẫn còn đây, linh hồn Nalanda vẫn còn đó, vẫn hiện diện nhắc nhở cho hậu thế sự có mặt của Phật giáo. Tất cả vẫn đang được trưng bày nơi Bảo Tàng viện Nalanda và Tân Học viện Nalanda.

          Có lẽ không chỉ riêng chúng tôi mà hầu hết mọi người trong đoàn hành hương cũng có lúc khởi tâm vui mừng, khi nhận ra linh hồn Phật giáo vẫn linh thiêng tồn tại sau mấy ngàn năm kể từ khi Đức Phật nhập diệt, dù sau đó có thời gian phải trải qua bao thăng trầm, bao vùi dập. Hiện nay đạo Phật ngày một bành  trướng khắp nơi trên thế giới. Thế mới biết Chánh pháp không dễ bị tiêu diệt bởi tà giáo.

          Hướng về Phật, hướng về Pháp, hướng về Tăng, chúng con thành tâm tưởng niệm tất cả các Ngài. Nguyện giữ mình tu tập tinh tấn để không phụ công đức cao dày của các bậc tiền bối. Trước khi tạm ngưng bài viết chúng con cầu nguyện cho tất cả chư tôn đức hiện tiền khắp nơi được pháp thể khinh an. Cầu nguyện cho Phật pháp trường tồn để giúp chúng sanh bớt khổ và thoát khổ....

                              Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

(Bài viết năm 1998, nay hiệu đính lại)

28/6/2019

 blank

         blank


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Bảy 2020(Xem: 228)
Nếu có người muốn thấy, làm sao thấy được, Khi có chủ thể thì có đối tượng, tức sẽ không thấy gì hết, chưa thể nhập. Chỗ nầy là bặt lời tức Atakkàvacara, ngoài lý luận. Chỗ này, kinh Hoa Nghiêm nói là:”Sự sự vô ngại pháp giới”.
02 Tháng Bảy 2020(Xem: 196)
Tập hạnh nhẫn nhục, dù có oan ức, cũng không biện minh. Đó là hạnh của Ba la mật: Nhẫn nhục ba la mật. Nếu là vàng ròng thì không sợ lửa. Có thử lửa, người đời mới biết đó là vàng ròng .
02 Tháng Bảy 2020(Xem: 206)
Thầy xua mình ra trận, Thầy đã cho mình nhiều bữu bối rồi. Cô thích nhất bữu bối Như Huyễn…. Bên ngoài thấy như chiêm bao, thì bên trong êm re... Trí Huệ Bát Nhã chính là “Vô ảnh kiếm,” hay “Vô hình kiếm,” hay “Vô tướng kiếm”, mỗi người chúng ta đều có, xin nhớ lấy ra mà dùng.
02 Tháng Bảy 2020(Xem: 189)
Ai có thử mở kho tàng được, lượm được cái gì, nhớ cho cô biết với nha. Còn ai từ trước, thở ra thở vô rồi mở cửa kho tàng, bây giờ thử câu thần chú này, cũng sẽ mở được kho tàng dễ dàng. Rồi tới bước cuối cùng, không cần dùng câu thần chú nữa, vì sao ?
02 Tháng Bảy 2020(Xem: 238)
Tóm lại, dù là tu sĩ hay cư sĩ, con đường đi cũng chỉ là một. Là hướng tới sự an lạc thực sự, lâu dài, cho mình và cho người.... Tạo ra nếp sống hài hòa an lạc bản thân với người khác quanh mình....cùng chung nhịp điệu chuyển hóa tuyệt diệu của trời đất bao la này.
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 487)
Một khi đã ra đi, thì không bao giờ trở lui lại. Chúng ta đã chọn con đường Thiền, là con đường tâm linh, thì phải dấn bước đi tới hoài, Đó là ý nghĩa của “Quyết định ba la mật” cũng là quan niệm <Tánh Nguyên tắc> của người tu sĩ, theo lời giảng của Thầy chúng ta
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 452)
Như vậy chúng mình đều đang có thần thông: người viết, người đọc, hai bên hiểu nhau. Dù xa cách ngàn trùng. Không thấy mặt mà thấy tâm nhau. Đó là thần thông của Thiền.
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 429)
Cuộc đời của thiền sư, như đóa hoa quỳnh, trong trắng nở tròn đầy trong đêm tối, hương tỏa phảng phất. Nhưng trên đời có mấy ai hay, biết thưởng thức hương sắc đóa hoa quỳnh.
25 Tháng Sáu 2020(Xem: 488)
Tu tại gia và tu chợ là khó vô cùng. Tu chùa là dễ nhất. Vì sao? Rất khó giữ được: “ Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” .
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 760)
Kinh có chữ tràn đầy kia, ghi lại lời Phật.. Vậy Phật có nói pháp. Pháp ở đâu? Trong kinh à? Hay ở ngoài vườn? Hay ở trong tâm? Tâm của ta hay tâm của Phật? Hay Phật của tâm ta?
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 581)
Chúng ta tự nhận là con Phật, vậy nhớ cẩn thận lời nói của mình. Vì lời nói là biểu hiện của Tâm. Tâm ma thì <lời nói như phân>.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 556)
Vì thiệt ra, giáo thọ hay không, tất cả chúng ta đều cùng đi trên một con đường. Cùng nhìn về một hướng. Là hướng tự rèn luyện tâm của chính mình, có trị tuệ và có từ bi. Trí huệ là cửa ngõ đi vào trọng trách “sứ giả Như Lai”. Không còn cách nào khác.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 890)
Khóa An Cư Tại Tổ Đình
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 347)
Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều, đó là đại Bồ-tát làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo, dù phải xuống địa ngục. Đại Bồ-tát thì đúng ra chúng ta phải lễ bái chớ đừng nói mang ơn thôi.
18 Tháng Sáu 2020(Xem: 297)
Như vậy, Phật, như thiện tri thức, Ma, như ác tri thức. Cả hai đều giúp ta nhận ra con đường tu tập tiến tới an vui hạnh phúc thực sự, trong hiện đời và những đời sau nữa.
17 Tháng Sáu 2020(Xem: 322)
Ni Sư Triệt Như giảng về nguồn gốc lịch sử của bài Kinh Vô ngã tướng, phân tích nội dung năm thành phần: sắc, thọ, tưởng, hành, thức của Ngũ Uẩn, và liên hệ việc ứng dụng thực hành tu tập cho thiền sinh.
14 Tháng Sáu 2020(Xem: 416)
Chúng ta là người phàm phu đang gánh chịu nhiều phiền não khổ đau. Nay đi tìm chân lý giải thoát, cần phải hiểu rõ lậu hoặc là cái gì? Và làm thế nào để đoạn trừ các lậu hoặc đó?
12 Tháng Sáu 2020(Xem: 443)
VIDEO: Thầy Thích Không Chiếu giảng THÂN CẬN XỨ tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali - 27 tháng 4, 2019
11 Tháng Sáu 2020(Xem: 699)
Mà cái tâm đó ở đâu? Nó là cái mình đã có sẵn. Quay lại là thấy. Nó ở ngay trước mắt mình. Mắt mình, không phải nhờ mắt người khác. Tâm mình, không cần qua tâm người khác.
11 Tháng Sáu 2020(Xem: 502)
Khi tâm mình tương đối lành thiện rồi, không dính mắc chuyện người khác, có được an lạc, thì nó sẽ tự dừng. Đó là Định. Có cần phải tìm kiếm bon chen vội vã không?
09 Tháng Sáu 2020(Xem: 408)
Tóm lại , Tứ Diệu đế, được xếp là Tục đế Bát nhã, nhưng hướng nhắm là dẫn đến Chân đế Bát nhã.
03 Tháng Sáu 2020(Xem: 452)
Mình có khi chưa nhìn rõ tâm mình, cứ tưởng là mình như vầy là hoàn hão rồi. Mình nhìn vào gương. Cái gương rất khách quan. Người khác sẽ thấy mình như cái gương thấy mình vậy.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 594)
Như thế là vượt lên trên cả hai khái niệm: ngã và vô ngã rồi. Khi mình không còn khái niệm ngã và vô ngã, mình mới thực sự kinh nghiệm vô ngã. Nhưng không nói là vô ngã nữa.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 404)
Sao mình không xao xuyến khi thưởng thức bụi hoa hồng vàng, rực rỡ, tươi sáng kia. Sao đứng bên mấy đóa hoa không tên này, lòng mình lại bồi hồi. Có phải là... dường như vừa biết trên đời vẫn có thể có người tri kỷ?
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 590)
Có phải mình quá vội vàng hay không? Hay là mình thiếu đèn pha, hay mình đi con đường khúc khuỷu không có đèn đường. Hay xe mình không có cái thắng tốt? Khi chúng ta đã điều khiển chiếc xe đời của mình an toàn đem đến hạnh phúc cho mình và cho người khác thì lo gì, chúng ta cũng sẽ lái chiếc xe tâm linh đến đúng mục tiêu thôi.
02 Tháng Sáu 2020(Xem: 769)
những điểm tương đồng giữa Không và Chân như: những điều khác biệt giữa Không và Chân như:
01 Tháng Sáu 2020(Xem: 937)
Khóa An Cư Tại Cairns, Úc Châu đầu năm 2020.
28 Tháng Năm 2020(Xem: 481)
“Phát Bồ Đề Tâm” là đặt ra mục tiêu tối hậu ngay từ lúc khởi đầu đó là hướng tâm đến lộ trình tu tập giác ngộ và giải thoát.
27 Tháng Năm 2020(Xem: 566)
Giáo lý, hay lý thuyết thiền, hay kỹ thuật thực tập là ngọn đèn soi sáng con đường mình đang đi. Các em phải tự bước đi. Mỗi người phải có trách nhiệm cuộc đời của mình. phải tự mình là ngọn đèn cho chính mình.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 702)
Cái Ngã là đầu mối của ý, của lời và của hành động. Từ đó là Nghiệp.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 479)
Ni Sư Triệt Như thuyết giảng cô đọng về giáo lý, phương pháp thực tập thiền và đối chiếu với kiến thức khoa học thời đại, qua sơ đồ đúc kết lại 'Con đường tu tập' của thiền sinh từ lớp căn bản đến 4 cấp lớp bát nhã
26 Tháng Năm 2020(Xem: 480)
Giai đoạn 1: Biết không lời + sự xúc chạm đi Giai đoạn 2: Biết không lời + trạng thái tâm trống rỗng. Giai đoạn 3: Tỉnh thức biết không lời + thấy hay nghe. Giai đoạn 4: Nhận thức biết không lời trống rỗng = nhận thức biết không lời như vậy.
26 Tháng Năm 2020(Xem: 705)
Vậy, qui luật xung đột là đúng hay qui luật hài hòa là đúng? Xung đột là khổ đau. Hài hòa là an vui, là niết bàn. Một cái thấy theo người thế gian, đúng theo thực tế của cuộc đời. Một cái thấy của bậc tỉnh thức, đứng trên bản thể của cuộc đời.
21 Tháng Năm 2020(Xem: 909)
Con đường tu đã được đức Phật trình bày thật rõ ràng, dứt khoát, lý luận thật vững chắc, không ai bắt bẻ được. Thời xưa cho đến nay, Tứ Diệu Đế vẫn được xem như là con đường tu quan trọng khuôn mẫu để ra khỏi cảnh đời đau khổ trần gian.
21 Tháng Năm 2020(Xem: 529)
Ba tháng rưỡi qua rồi, mình đứng trên bờ, nhìn dòng sông đời trôi chảy, êm dịu, hài hòa, theo nhân duyên của nó. Dòng sông đời mình cũng vậy, trôi chảy thật êm đềm theo nhân duyên trùng trùng của nó. Đố ai khuấy động được dòng sông đời muôn thuở của nghiệp quả ?
21 Tháng Năm 2020(Xem: 1032)
Một em thiền sinh hỏi cô về pháp Thở. Bây giờ cô trình bày phương thức thực tập Thở của chúng ta đã theo từ nhiều năm nay. Chúng ta cũng căn cứ trên kinh Nikàya, tuy nhiên chúng ta giải thích đơn giản hơn.
18 Tháng Năm 2020(Xem: 690)
Ni Sư tổng kết và phân tích cách thực hành áp dụng Biết Không Lời của Tánh giác trong mỗi đề mục: Thân, Thọ, Tâm, Pháp trong Kinh Niệm Xứ, một bài Kinh quan trọng trong việc thực hành thiền theo hệ phái Theravada. - Khóa Bát nhã IV - Toronto 6 tháng 7, 2016
17 Tháng Năm 2020(Xem: 578)
Luân hồi là xoay tròn, tiếp nối lên xuống của mỗi chúng sanh trong sáu cõi. Khi tái sanh ở cõi này, khi đầu thai ở cõi khác, tiếp nối tử sinh, sinh tử không ngừng.
15 Tháng Năm 2020(Xem: 1051)
Thầy Thích Không Chiếu giảng BƯỚC ĐẦU VÀO THIỀN: Hướng dẩn cách thực hành THIỀN đơn giản tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali 21 tháng 4, 2018
14 Tháng Năm 2020(Xem: 697)
Trong mảnh vườn nhỏ này, cây cỏ, hoa, lá chen chúc nhau, hài hòa, kiếm sống, kiếm nắng, kiếm sương. Nhưng rồi thì tất cả cũng sẽ tàn, sẽ khô, sẽ rụng. Còn lại cái gì ? Mấy cây tiêu, cây tùng thì vẫn là cây tiêu, cây tùng. Nhưng dù còn đó, một trăm năm rồi cũng héo khô ngã quị. Mình cũng vậy.
14 Tháng Năm 2020(Xem: 688)
Mình thấy những hình ảnh già, bệnh và chết nhiều quá, nên mình không quan tâm tới, mình chưa chấn động trong tâm. Mình chưa tỉnh thức. Cho nên, bây giờ mới có thêm một vị Thiên sứ nữa, để cảnh tỉnh con người.
07 Tháng Năm 2020(Xem: 845)
Để xác định giá trị của thiền đối với đời sống con người do Phật và Tổ đã dạy, Ni Sư Triệt Như dựa vào kiến thức khoa học về cơ thể và não bộ để giải thích việc thực hành thiền và cách sống tác động như thế nào đối với thân, tâm, trí tuệ tâm linh, qua đó giúp thiền sinh hiểu được khi nào thực hành đúng và khi nào sai.
07 Tháng Năm 2020(Xem: 825)
Vậy sao đời không thấy cái sức sống, cái nhan sắc thực của thiên nhiên? Mà lại đi ca ngợi, gìn giữ tranh, ảnh là những cái “bản sao chết” của thiên nhiên? Cô thấy ngộ thiệt. Hay là mình lẩm cẩm vì tuổi già rồi không chừng!
07 Tháng Năm 2020(Xem: 899)
“...Con đồng ý với sư cô. Con nghĩ sẽ có nhiều thiền sinh kéo nhau về Tổ Đình nhổ cỏ để được sáng đạo chứ chẳng cần học giáo lý mà Đức Phật đã giảng dạy từ hơn hai ngàn năm nay đâu.... .... và con phải chọn về Tổ Đình nhổ cỏ hay học Thiền online ? ”
30 Tháng Tư 2020(Xem: 924)
Cô gởi các em câu chuyện trên cõi tiên. Có ai muốn làm tiên nữa không?
30 Tháng Tư 2020(Xem: 851)
VIDEO: Ni Sư Triệt Như: Nhắn nhủ thiền sinh qua Kết luận bài Bát Nhã Tâm Kinh Khóa Bát Nhã IV – Toronto - Canada 2016
24 Tháng Tư 2020(Xem: 1004)
Con coronavirus nó chỉ ăn cái thân của mình thôi, và chỉ ăn mất thân trong một đời. Vậy mà người ta hoảng hốt. Còn cái bệnh dịch kia nó ăn cái tâm, nó ăn luôn nhiều đời mà ít ai lo . Bệnh dịch ghê gớm đó là bệnh gì vâỵ ? Chắc các em đã có câu trả lời rồi phải không ?
24 Tháng Tư 2020(Xem: 558)
Nhớ về Thiền Viện tu học nhé ! Bông hoa cây lá đón chào ta.
24 Tháng Tư 2020(Xem: 774)
Đúc kết những thuật ngữ quan trọng và cốt lõi giáo lý của Đức Phật về thiền để bổ túc cho việc thực hành từ căn bản đến bát nhã. ( Khóa Bát Nhã đặc biệt - Toronto Canada 2016)
22 Tháng Tư 2020(Xem: 682)
Khi sinh ra, hài nhi phải khóc thét lên để tự có hơi thở và trước khi chết đi con người cũng vật vã tột cùng để trả hơi thở vay mượn này về với hư không vốn dĩ của nó.
21 Tháng Tư 2020(Xem: 702)
Em cười ha ha: - Vậy cô thông báo thiền sinh ai muốn sáng đạo thì lên nhổ cỏ Tổ Đình, cô khỏi phải giảng pháp online nữa ! Lý thuyết hoài làm chi ? Phải thực hành chứ ! Vậy ai muốn sáng đạo thì lên nhổ cỏ Tổ Đình !
16 Tháng Tư 2020(Xem: 1426)
Vì thế hôm nay, cô mới quyết định ngồi lại bàn viết này, trãi tâm tư mình ra, gởi theo gió mây, tới những em nào có duyên đọc mấy lời này. Xem như là để đền trả lại những niềm vui, những năng lượng thiện lành, mà cô đã nhận được từ khi dấn bước vào con đường tu học.
16 Tháng Tư 2020(Xem: 590)
Giờ đây chỉ một chuỗi ARN nhỏ, không nhân, không tế bào, không thể nào tự sống một mình mà sống nhờ ký chủ là con người; chúng đã dạy cho con người một bài học.
15 Tháng Tư 2020(Xem: 738)
Ngay giữa những xáo động bất ổn tận gốc rễ của cuộc sống, Ni Sư đã bình thản gửi đến tất cả thiền sinh những hình, cây lá hoa cảnh thiên nhiên tươi tốt của Tổ Đình, với những lời thăm hỏi yêu thương đến đệ tử của mình. Con xin có bài pháp trình Thầy.
15 Tháng Tư 2020(Xem: 528)
Tổng Kết Các Khóa Tu Học Trong Năm 2019 Kế Hoạch Sinh Hoạt Năm 2020:
10 Tháng Tư 2020(Xem: 1006)
Thân mến gởi tới các bạn những tấm hình chụp không có chuyện môn. Chỉ là để ....
09 Tháng Tư 2020(Xem: 1417)
Ni sư Triệt Như giảng Bí quyết thực hành thiền làm sao không có vọng tưởng khởi lên
09 Tháng Tư 2020(Xem: 1014)
HT Thích Thông Triệt: Các tiến trình tâm trong đạo Phật (Khóa KTNL Precuneus tại Tổ Đình 2015)
03 Tháng Tư 2020(Xem: 1045)
Buổi phỏng vấn của ký giả Trọng Thành đài RFI với Thiền Sư Thích Thông Triệt đềi tài: Lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ não Thứ tư 18 Tháng Bẩy 2012
01 Tháng Tư 2020(Xem: 727)
TƯỞNG NIỆM của Hòa thượng THÍCH PHƯỚC TỊNH trong buổi lể trà tỳ Hòa Thượng THÍCH THÔNG TRIỆT
26 Tháng Ba 2020(Xem: 1003)
Ni sư Triệt Như giảng LÀM SAO SỐNG AN TRÚ TRONG CHÁNH NIỆM (phần 1) do HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ thỉnh giảng và tổ chức tại Trung Tâm Sangha NamCali ngày 24 tháng 4, 2016
25 Tháng Ba 2020(Xem: 637)
Thầy Thích Không Chiếu giảng đề tài: SANH GIÀ BỊNH CHẾT tại Thiên Đường Tanh Không Nam Cali ngày 30/3/2019
19 Tháng Ba 2020(Xem: 1159)
Ni sư Triệt Như giảng : QUY LUẬT VÔ THƯỜNG tại Thiền Dường Tánh Không Nam Cali ngày 26 tháng 1, 2019
19 Tháng Ba 2020(Xem: 918)
thầy Thích Không Chiếu giảng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 5 tháng 1, 2019 Đời Mong Manh dựa vào đâu Vững Chắc
13 Tháng Ba 2020(Xem: 824)
Ni sư Triệt Như giảng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 6 tháng 1, 2016: "Làm sao Sống một Đời Sống xứng đáng"
09 Tháng Ba 2020(Xem: 1148)
I- Địa điểm An Cư: Tổ Đình thiền viện Tánh Không Nam Cali - II- Thời gian: trọn tháng 2 & 3 & 4 – 2020
09 Tháng Ba 2020(Xem: 677)
Đây là khóa An Cư của Tăng Ni nên nội dung chính là thảo luận về Giới luật của người mới xuất gia, sa di và sa di ni.
04 Tháng Ba 2020(Xem: 795)
Ni sư Triệt Như giảng giải Trung Bộ Kinh: bài ĐẠI KINH XÓM NGỰA Đức Phật dạy từng bước tu tập quan trọng và phổ biến cho tất cả.
04 Tháng Ba 2020(Xem: 960)
Hòa thượng Thích Thông Triệt, Thiền chủ pháp môn Thiền Tánh Không, đã mất ngày 27-12-2019 tại Mỹ, thọ 90 tuổi. Thầy để lại một dòng thiền đặc sắc trong thời hiện đại.
19 Tháng Hai 2020(Xem: 823)
Những gì chúng tôi trình bày hôm nay, chỉ nói lên một phần hiểu biết nhỏ nhoi của người học trò được biết những gì, Thầy cho phép được biết mà thôi!
31 Tháng Giêng 2020(Xem: 907)
Hiện tượng thế gian hiện hữu như trò ảo thuật tiếng Phạn gọi là Màyà, tiếng Anh là Illusion nghĩa là ảo ảnh. Bằng giác quan nhìn thấy hiện tượng thế gian như đang hiện hữu, nhưng tích tắc sau là thay đổi. Đó là đặc tính của Huyễn.
27 Tháng Giêng 2020(Xem: 736)
Mùa Xuân tuy đã đến nhưng cửa ngõ hạnh phúc trong lòng nhiều người bị khoá chặt. Có cách nào để mở cửa hạnh phúc cho tất cả mọi người hay không?
14 Tháng Giêng 2020(Xem: 1239)
Hình ảnh Tang Lễ Thầy Thiền Chủ - Ngày 1 tháng 1: Lễ Nhập quan và Thọ tang - Ngày 3 tháng 1: Lễ tưởng niệm Tại Thiền Viện Chân Như - Ngày 4 tháng 1: Lễ Di quan và Trà Tỳ
12 Tháng Giêng 2020(Xem: 1727)
Bài TƯỞNG NIỆM THẦY Ni Sư Thích Nữ Triệt Như đọc ngày 3 tháng 1,2020 tại Thiền Viện Chân Như vói 3 bức thư cuối cùng thầy gửi trước khi ra đi
31 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 1472)
Thầy vẫn là tấm gương sáng, là ngọn đại đăng soi đường dẫn lối cho chúng con trên bước đường tu tập.
27 Tháng Mười Hai 2019(Xem: 3554)
Thiếu Thời - Thực hành không đúng cách - Ngộ đạo lần đầu - Kết quả pháp tu đúng - Thiền và khoa học - Chụp hình não bộ - Phục vụ nhân sinh qua Thiền
28 Tháng Mười Một 2019(Xem: 1191)
Lý tưởng và mục đích của hệ Theravada và Phát Triển đều như nhau nghĩa là tu tập rốt ráo để đạt được giác ngộ giải thoát, chỉ khác nhau về chủ trương và lập trường.
14 Tháng Mười Một 2019(Xem: 1138)
Thời gian không chờ đợi ai. Chúng ta còn chần chờ gì mà không bắt đầu thay đổi phương thức sống để quãng đời còn lại của chúng ta được an nhàn hạnh phúc?
29 Tháng Mười 2019(Xem: 1048)
Bài Kinh này mở ra một lộ trình giải thoát với phương thức rõ ràng, giúp người tu bắt đầu từ trạng thái Tâm Phàm Phu nhiều tham dục, nhiều phiền não khổ đau, dần chuyển sang trạng thái Niết Bàn an vui hạnh phúc.
15 Tháng Mười 2019(Xem: 1354)
Nội dung bài kinh "Viết Trên Đá, Trên Đất, Trên Nước", Đức Phật đã đề cập đến phản ứng khác nhau của ba hạng người khi nóng giận.
08 Tháng Mười 2019(Xem: 1876)
... Cái biết này luôn hiện hữu khi mình không suy nghĩ, suy tính, phân vân, đắn đo. Cái biết này là tự biết và không có cái tôi biết. Chính cái biết này mới là nơi nương tựa trong đời sống mong manh dễ vở này. Tuệ Chiếu
04 Tháng Mười 2019(Xem: 1164)
Thông thường, người ta giải nghĩa Nhân là người, Cách là tư cách, là phẩm chất, là giá trị, là tư cách làm người... Như vậy Nhân cách là một thứ giá trị, phẩm chất đạo đức của mỗi con người được xây dựng và hình thành trong suốt thời gian con người đó tồn tại trong xã hội.
23 Tháng Chín 2019(Xem: 1238)
Ba nghiệp thanh tịnh là nền tảng quan trọng cho mọi người. Nó giúp cho đời sống hiện tại của chúng ta được an vui hạnh phúc, và là cái Nhân tốt cho những đời sau. Nó còn là nền tảng cho con đường tu tập thiền Định, phát huy trí huệ tâm linh cho những ai ôm ấp lý tưởng tu hành "thoát khổ, giác ngộ, giải thoát."
12 Tháng Bảy 2019(Xem: 2063)
Bài viết của 2 thiền sinh mới lớp Thiền Căn Bản 2019 gửi bạn nhân ngày đầu tiên về tổ đình nhập thất
25 Tháng Sáu 2019(Xem: 1692)
Tường trình chuyến du hóa tại Adelaide, Canberra và Cairns, Úc châu từ ngày 1 đến 22 tháng 6.
03 Tháng Sáu 2019(Xem: 3015)
Tại nơi đây, Thiền sinh có cơ hội chuyển tâm lăng xăng dao động thường ngày bằng tâm yên lặng, không lời. Cuối ngày, mỗi thiền sinh đều cảm nhận được sự nhẹ nhàng, thanh thoát, bình yên không gợn sóng của tâm.
24 Tháng Năm 2019(Xem: 2137)
Bài "Đại Kinh Xóm Ngựa" này, tuy Thế Tôn dạy cho hàng Tỷ-kheo, nhưng đối với chúng ta là hàng Phật tử tại gia cũng có thể thực hành tu tập được. Chúng ta không cầu mong đạt tới mục tiêu cuối cùng. Nhưng nếu kinh nghiệm được trạng thái "Không Tầm Không Tứ", thì kết quả cũng giúp cho chúng ta có đủ năng lượng để đối phó với đời sống nhiều nhiễu nhương phiền não.
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3018)
Chúng ta đã lỡ bị sanh vì chúng ta không có khả năng lựa chọn nơi sanh thú trong quá khứ, tuy nhiên chúng ta có khả năng tự quyết định nơi tái sanh trong tương lai dựa vào lời dạy của Đức Phật.
11 Tháng Giêng 2019(Xem: 2603)
Trước thềm năm mới người sống ở ngoài đời hay người đang đi trên đường đạo. Ai cũng có nhu cầu quay về năm cũ để xem năm qua cuộc sống của mình như thế nào hầu sửa chữa hay bổ xung cho đời sống năm mới được tốt đẹp hơn.
24 Tháng Mười Hai 2018(Xem: 2615)
Có rất nhiều cách thay đổi cuộc sống cũ nhàm chán để có cuộc sống mới phấn khởi tích cực hơn. Nhưng quan trọng và cần thiết là trước tiên chúng ta cần phải tìm hiểu những điều căn bản nào tạo nên sự cân bằng để con người có một thể chất tốt, một sức khoẻ tốt, rồi từ đó chúng ta mới bắt đầu thực hiện cuộc thay đổi.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 3059)
Tính đến nay, Đức Phật đã nhập diệt 2,562 năm, nhưng Giáo Lý cao siêu mà Ngài đã dày công hoằng dương trong 45 năm dài vẫn còn lưu lại cho nhân thế. Ngài đã để lại cho thế gian một đại kho tàng văn hoá Phật giáo đồ sộ qua ba tạng: Kinh, Luật và Luận.
19 Tháng Chín 2018(Xem: 3163)
Bài kinh "Bhaddekaratta" hay "One fortunate attachment" hoặc "Một Dính Mắc May Mắn" mà Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch là "Kinh Nhất Dạ Hiền Giả", tuy ngắn gọn và đơn giản nhưng xét kỷ thì thật sâu sắc. Đức Phật đã nhắm đúng vào tâm trạng của chúng sinh luôn khổ để mà giảng bài kinh này.
18 Tháng Chín 2018(Xem: 4364)
Sau khi đi dạo qua ba cửa thành, Đức Phật nhận ra con người phải bị già, bệnh, chết mới nói rằng ta đã lỡ bị sanh có nghĩa là mình không có muốn sinh ra mà mình vẫn bị sanh ra; khi bị sanh ra rồi thì mình phải chịu cái cảnh già, bệnh, chết. Đức Phật nói ta lỡ bị sanh bây giờ ta đi tìm cái vô sanh. Vậy cái vô sanh là cái gì?
17 Tháng Chín 2018(Xem: 4261)
Thiền trong đời hay đạo là làm sao chuyển được cái tâm (thay đổi bên trong) từ tâm dính mắc, lăng xăng thành tâm chỉ biết đến thầm nhận biết. Từ bước đầu tiên là không có lời nói thầm trong đầu cho đến khi thọ biết mà không dính.
1,074,960