HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

DUYÊN KHỞI, PHÁP DUYÊN SINH

Thursday, December 14, 20179:44 PM(View: 13744)

KHÁI QUÁT VỀ

DUYÊN KHỞI, PHÁP DUYÊN SINH

Thích Nữ Hằng Như

-------------------------

 

NGỮ NGHĨA

          Lý Duyên Khởi gốc từ tiếng Pàli là "Paticca Samuppàda Dhamma", dịch là "tuỳ thuộc phát sinh, nương theo các duyên mà sinh". Tiếng Anh dịch là Dependent origination. Lý là nguyên lý hay định lý. Duyên là điều kiện. Lý Duyên Khởi có nghĩa là: "Tất cả những hiện tượng thế gian khởi lên là do nhiều điều kiện hay nhiều nhân nhiều duyên mà được thành lập." hay nói ngắn gọn: "Lý Duyên Khởi là từ điều kiện này khởi ra cái khác".

          Pháp Duyên Sinh gốc từ tiếng Pàli là "Paticca Samuppanna Dhammà". Pháp này là hiện tượng thế gian. Pháp Duyên Sinh có nghĩa là "Hiện tượng thế gian (pháp) thành lập là do nhiều điều kiện, nhiều yếu tố kết hợp sinh ra nó (pháp)" hay nói ngắn gọn: "Cái này có mặt là do nhiều điều kiện sinh ra".

          Gút lại: Tất cả các pháp trong vũ trụ vạn hữu đều vận hành theo quy luật Duyên sinh hay Duyên khởi. Nghĩa là các pháp sinh khởi theo Duyên, theo các điều kiện. Không có một pháp nào tồn tại độc lập. Chúng phải nương vào các yếu tố, điều kiện để phát sinh.

          So sánhDuyên KhởiPháp Duyên Sinh ta có thể hiểu như sau:

          - Lý Duyên Khởi: Từ điều kiện (duyên) này sinh ra cái khác (pháp). Thí dụ: Nhờ cây trái mà người ta có việc làm, có lương, nuôi sống gia đình. Nhờ cây trái (là điều kiện) mới có (khởi) việc làm. Có việc làm (là điều kiện) mới có (khởi) lương. Có lương (điều kiện) mới (khởi) nuôi sống gia đình. Đây là Lý Duyên Khởi.

          - Pháp duyên sinh: Là khi đứng ở chỗ hiện tượng thế gian (pháp) có mặt là do nhiều điều kiện hợp lại sinh ra nó. Thí dụ: Một hạt mầm nhờ đất nước phân bón sinh ra cây, từ cây sinh ra trái.  Cây sinh ra trái (hiện tượng thế gian) do hột mầm cộng đất nước, phân bón, ánh nắng mặt trời... (là các điều kiện hợp lại) mới sinh ra cây, cây mới ra trái.  Đây là Pháp duyên sinh.

 

CHỨNG NGỘDUYÊN KHỞI

          Trong kinh Phật Tự Thuyết, Đức Phật thuật lại rằng sau khi chứng ngộ Ba Minh. Ngài tiếp tục thiền định trong một tuần lễ để chiêm nghiệm thành quả giải thoát. Sau đó, Ngài đã lần lượt quán chiếu về mười hai nguyên nhân gây ra luân hồi của con người.

          Ngài nhận ra mười hai Duyên khởi theo chiều xuôi, tức là mười hai nhân duyên (nhân) khởi lên mười hai sự kiện (quả) gây nên khổ uẩn. Tiếp theo, Ngài quán Lý Duyên khởi theo chiều ngược. Tức là Duyên này diệt, Duyên kia sẽ diệt và toàn bộ mười hai Duyên cũng sẽ diệt. Đây là chìa khoá chấm dứt khổ uẩn, chấm dứt Vô Minh. Sau cùng, Ngài đúc kết lại thành một hệ thốngDuyên Khởi đặt ra định lý "Tương quan nhân quả" như sau:

          Chiều xuôi:

                              "Cái này có, cái kia có

                              Cái này sinh, cái kia sinh

          Chiều ngược:

                              "Cái này không, cái kia không

                              Cái này diệt, cái kia diệt"

          Đây là Chân lý thường hằng bất biến không thay đổi. Chân lý này áp dụng cho con người, loài thú, sự kiện cũng như tất cả vạn vật vô tri vô giác, tức là cho mọi hiện tượng thế gian.

          - Nói theo Lý Duyên Khởi thì "Cái này Có khởi lên cái kia Có".

          - Nói theo Pháp Duyên Sinh nghĩa là cái pháp đã hình thành rồi, "Cái kia Có" đã là pháp, đã trở thành hiện tượng thế gian. "Cái kia Có" nhìn lại phía trước do điều kiện"Cái này Có" mới sinh "Cái Có" sau.

          Về mặt 12 mắt xích cũng thế. Từ duyên Vô Minh khởi lên duyên Hành, đó là Duyên Khởi. Hành là quả của Vô Minh lập nên. Hành cũng là pháp do duyên sinh, duyên ở đây là Vô Minh.

          Như vậy hai cụm từ Lý Duyên KhởiPháp Duyên Sinh chỉ cho một hiện tượng thế gianhai mặt, tuỳ theo chỗ đứng của người quan sát. Nếu chúng ta đứng ở chỗ Nhân khởi lên cái khác là Quả, thì đó là Lý Duyên Khởi. Nếu chúng ta đứng ở chỗ Quả thì nói Quả do nhiều Nhân sinh ra, thì đây là Pháp Duyên Sinh.

          Tóm lại Duyên Khởi là đứng ở chỗ Nhân mà nói. Còn Duyên Sinh là đứng ở Quả nói do nhiều duyên sinh ra.

 

KHÁI QUÁT LÝ DUYÊN KHỞI

          Kinh ghi lại Đức Phật chứng ngộ đầu tiên về con người trong một đêm. Trước hết Ngài nhận thấy con người khổ là do sanh, già, bệnh, chết, sầu bi ưu khổ não.

          Nguyên nhân do đâu mà có cái khối Già chết sầu bi ưu khổ não? Là tại vìSanh. Do đâu có Sanh? Do Hữu. Hữu là ý muốn có mặt đời sau. Do đâu có Hữu muốn sống hoài? Do Thủ. Thủ là luôn nắm chặt, giữ chặt. Do đâu có Thủ? Là do Ái. Do Thọ có Ái. Do Xúc có Thọ. Do Sáu Căn có Xúc. Do Danh Sắc có Sáu Căn. Do ThứcDanh Sắc. Do Hành có Thức. Do Vô Minh có Hành.

          Sau khi tiềm năng giác ngộ kiến giải ra mười hai manh mối khiến cho con người phải chịu luân hồi sanh tử. Đức Phật bắt đầu chánh tư duy về những điều này.

          - Vào canh Một, Đức Phật chiêm nghiệmDuyên Khởi theo chiều xuôi:  Do duyên Vô Minh khởi sinh Hành, nghĩa là vì Vô Minh, nên con người mới khởi ra Hành, Hành là trạng thái tâm hay tâm sở. Vô Minh"nhân""điều kiện" sinh ra "quả" là Hành. Do Hành khởi sinh Thức. Khi con người chết đi thì Thức (tử Thức) thoát ra khỏi xác thân, tuỳ nghiệp mà tái sanh vào một thân mới, khởi đầu là Danh Sắc. Do Danh Sắc khởi sinh Sáu Xứ hay Sáu Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Sáu Căn này tiếp xúc với hiện tượng thế gian nên khởi lên Xúc.  Do Xúc khởi sinh Thọ. Khi có Thọ thì khởi lên lòng ham muốn là Ái. Khi có Ái thì muốn giữ chặt tức là khởi lên Thủ. Khi có Thủ thì khởi lên ý muốn được sống mãi trong đời này hay đời sau nên khởi Hữu. Vì có Hữu nên khởi lên động lực đưa tới tái sanh. Do Sanh thì sẽ có Lão Tử, có sầu bi ưu khổ não. Đó là các yếu tố cấu thành đau khổ gọi là Khổ uẩn.

          - Sang canh Hai, Đức Phật lý luận Duyên Khởi theo chiều ngược. Nghĩa là "do cái này không có mặt, cái kia không có mặt, do cái này diệt, cái kia diệt". Như vậy nếu con người hoàn toàn ly tham, có trí hiểu rõ về bản thể thế gianVô Thường, Khổ, Vô Ngã; có trí hiểu rõ về nghiệp báo, về luân hồi, về Lý Duyên khởi thì không còn Vô Minh nữa. Tận diệt Vô Minh đưa đến tận diệt Hành. Tận diệt Hành đưa đến tận diệt Thức. Tận diệt Thức đưa đến tận diệt Danh Sắc. Tận diệt Danh Sắc thì Sáu Căn diệt. Tận diệt Sáu Căn thì Xúc diệt. Tận diệt Xúc thì Thọ diệt. Tận diệt Thọ thì Ái diệt. Tận diệt Ái thì Thủ diệt. Tận diệt Thủ thì Hữu diệt. Tận diệt Hữu thì Sanh diệt. Tận diệt Sanh thì lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não, tận diệt. Như vậy là đoạn tận hoàn toàn hậu quả của các yếu tố gây nên đau khổ.

          - Sang canh thứ Ba, Đức Phật quán chiếu Duyên Khởi theo chiều xuôi và chiều ngược một lần nữa. Sau khi hoàn tất, Ngài sắp xếp lại thành hệ thống cả hai chiều xuôi và ngược: "Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên Vô Minh có các Hành. Do duyên các Hành có Thức.. v.v... Như vậy là tập hợp của khổ uẩn này. Do đoạn diệt, ly tham, Vô Minh không có dư tàn, nên các Hành diệt. Do các Hành diệt, nên Thức diệt v.v... Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này."

          Hoàn tất chứng ngộDuyên Khởi, Đức Phật đạt được giác ngộ tối hậu, chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Pãli: Anuttara Sammà Sambodhi) là bậc đạo sư của chư Thiênloài người, đồng thời được tôn xưng là vị Phật lịch sử có một không hai ở thế giới Ta Bà này. Đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

 

Lý Duyên Khởi
Duyên Khởi

 

NHÂN SINH QUAN

THEO CÁI NHÌN CỦA PHẬT GIÁO

          Thuyết giảng mười hai Nhân Duyên, Đức Phật chủ yếu nhắm vào nhân sinh. Khi mười hai Duyên Khởi, tức toàn bộ khổ đau tập khởi. Khi mười hai Nhân Duyên đoạn diệt đồng nghĩa với khổ đau chấm dứt.

          Mười hai Nhân Duyên còn gọi là 12 mắt xích, vì Duyên này kết chặt với Duyên kia tạo thành một chuỗi nhân quả khép kín. Mặc dù xiết chặt không rời như thế, nhưng vì mỗi mắt xích này là Quả của nhiều Nhân nhiều Duyên kia, nếu Nhân thay đổi thì Duyên sẽ thay đổi. Trong đó mắt xích Vô Minh và Hành thuộc về đời Quá khứ. Tám mắt xích từ Thức đến Hữu thuộc về đời hiện tại. Mắt xích Sanh và Lão Tử thuộc về đời Tương lai.

          Khi giảng về Lý Duyên Khởi Pháp Duyên Sinh, Đức Phật nêu lên một số đặc điểm của Duyên Khởi, Duyên Sinh như sau:

          1) Vô thường: Các pháp do Duyên mà sinh, cũng do Duyên mà diệt, chúng không bao giờ tồn tại độc lập, cho nên chúng luôn luôn thay đổi không cố định.

          2) Hữu vi pháp: Các pháp do nhiều điều kiện lập thành được xếp là Hữu vi pháp. Pháp Vô vi không nằm trong Duyên Khởi.

          3) Duyên sinh: Pháp có mặt là do nhiều duyên sinh ra.

          4) Biến hoại tánh: Bản thể của pháp là vô thường, bị ảnh hưởng của quy luật biến dịch nên sau một thời gian nào đó phải chịu hư hỏng biến hoại.

          5) Biến diệt tánh: Khi Duyên này diệt đi thì Duyên kia cũng biến mất, hoặc vì chịu ảnh hưởng của quy luật biến dịch nên sau thời kỳ hư hoại thì chấm dứt để trở thành cái khác.

          6) Ly tham tánh: Không còn tham ái thì cắt đứt được một trong 12 mắt xích đồng nghĩa phá vỡ vòng luân hồi.

          7) Đoạn diệt tánh: Chấm dứt.

          Trong 12 mắt xích, mắt xích nào cũng hội đủ 7 đặc điểm này. Nhìn trên bề mặt thì 12 mắt xích tạo nên khối khổ đè nặng con người trong 3 đời. Nhưng thực ra bản thể của nó luôn thay đổi và có thể để chấm dứt khổ, nếu chúng ta biết tu tập rời bỏ lòng tham ái, tận diệt Vô Minh.

          Đức Phật nêu ra 7 đặc tính của Duyên Khởi để giúp chúng ta biết cách cắt đứt vòng xiềng xích của mười hai mắt xích để chuyển hoá khổ đau. Thế nhưng cho tới bây giờ, qua bao nhiều đời chúng sanh vẫn còn trôi lăn trong 12 mắt xích. Đó là do năng lực hùng mạnh của Nghiệp lực thúc đẩy. Vậy Nghiệp là gì? Đó là hành động, là thói quen, đa phần là xấu ác. Nó là Nhân từ nhiều đời quá khứ, bây giờ thành Quả. Quả lôi kéo thúc đẩy chúng ta mãi chìm đắm trong si mê, tăm tối, tiếp tục tác ý bất thiện đưa đến hành vi, lời nói bất thiện tạo thành Nghiệp, đồng thời bên dưới Tâm Phàm PhuLậu hoặc cũng tích luỹ từ bao nhiêu đời, cũng là cái Nhân để chúng ta tạo thêm Nghiệp. Nhắc đến hai từ Lậu hoặc, chúng ta nhớ lại trong tuần lễ thứ tư, Đức Phật chứng ngộ nguyên nhân của luân hồi sinh tửLậu hoặc. Khi chứng ngộ Ngài chỉ đề cập đến ba loại Lậu hoặc, đó là:

          1) Vô Minh Lậu, 2) Dục lậu, 3) Hữu Lậu

          Sau này, khi giáo hoá Ngài đưa thêm 4) Kiến lậu, tức là cái nhìn hay quan điểm sai lầm về cuộc đời, thí dụ như điều sai thì nghĩ là đúng, điều đúng thì cho là sai, cho rằng cuộc đời của mình do sự ban phát kiểm soát của thần linh hay thượng đế v.v... khiến cho những quyết định hành động đi ngược với Chân lý, sa vào mê tín dị đoan tạo Nghiệp.

          Trong 12 mắt xích chúng ta thấy có mắt xích Vô Minh (lậu) cũng có thể xem là Kiến lậu vì không có trí huệ, mắt xích Ái (Dục lậu) và mắt xích Hữu (Hữu lậu). Như vậy trong 12 Nhân Duyên này hội đủ toàn bộ Lậu hoặcnguyên nhân của khổ đau, luân hồi sinh tử, mà Đức Phật đã đưa ra khi chứng ngộ Ba Minh. Nên nói Nghiệp lựcLậu hoặc chính là động lực tiềm ẩn thúc đẩy bánh xe Luân hồi sinh tử có thừa xăng nhớt để tiếp tục quay mãi không ngừng.

          Hiện tượng thế gian (pháp) trong đó có con người, không phải lúc nào cũng đứng yên một chỗ, mà thay đổi theo "quy luật biến dịch". Đó là "Sinh-Trụ-Hoại-Diệt-Thành". Lúc Đức Phật chứng ngộ, Ngài chỉ nói đến "Sinh-Trụ-Diệt" nhiều khi ngắn gọn là "Sinh-Diệt". Về sau chư Tổ thêm vào các chu kỳ khác là: "Sinh-Trụ-Hoại-Diệt-Thành". Có khi chư Tổ cũng nói một cách khác là: "Sinh-Trụ-Hoại-Không" rồi trở thành cái khác. 

 

 

Nhân Sinh Quan
Nhân Sinh Quan

VŨ TRỤ QUAN

THEO CÁI NHÌN CỦA PHẬT GIÁO

          Trong tuần lễ thứ bảy, khi chứng ngộDuyên Khởi, trong trạng thái định bất động, Đức Phật nhìn ngắm hiện tượng thế giannhận ra bốn đặc tính của hiện tượng thế gian đó là:

          1) Tathatà của hiện tượng thế gian, gọi là Chân Như hay Như Tánh: Đó là trạng thái hoàn toàn khách quan, bất động, như vậy...của hiện tượng thế gian.

          2) Avitathatà (Bất ly tánh): Tathatà của hiện tượng thế gian đó, không chia cắt được.

          3) Anannathatà (Bất dị tánh): Tathatà của hiện tượng thế gian không khác nhau.

          4) Idapaccayatà (Y duyên tánh): "Ida" nghĩa là riêng biệt. "Paccaya"điều kiện. "Tà"bản thể hay là Tánh (của hiện tượng thế gian). Có thể hiểu Idapaccayatà là: - "Điều kiện tánh riêng biệt của hiện tượng thế gian", hay nói cách khác: - "Bản thể của hiện tượng thế gian là nương tựa nơi nhiều điều kiệnthành lập nên gọi là Y Duyên Tánh" hay: - "Mỗi hiện tượng thế gian thành lập do nhiều điều kiện nên gọi là Y Duyên Tánh".

          Y Duyên Tánh trong thế giới hiện tượng được Đức Phật diễn tả qua bài kệ: "Cái này có, cái kia có. Cái này sanh, cái kia sanh. Cái này không cái kia không. Cái này diệt cái kia diệt". Đây là quy luật "tương quan nhân quả". Bên trong quy luật tương quan nhân quả"quy luật biến dịch", là năng lượng làm thay đổi hình thể, màu sắc, sự sinh và diệt của hiện tượng thế gian.

          Chúng ta thử quan sát cây phong qua bốn mùa, chúng ta sẽ thấy vào mùa Xuân cây ra lá non nhỏ màu xanh nhạt, đến mùa Hè lá xanh đậm và lớn hơn, đến mùa Thu lá chuyển thành màu vàng, và vào đầu hay giữa mùa Đông thì lá rụng hết. Khi mùa Xuân trở lại, thì lá non mới lại đâm chồi mọc ra. Đó là do bên trong thân cây chịu ảnh hưởng của quy luật biến dịch "Sanh-Trụ-Hoại-Diệt-Thành", và đặc tánh của nó là "Vô Thường, Xung đột (để biến hoá) và Không thực chất tính (không độc lập, không tự nhiên mà có, mà do nhiều điều kiện lập thành)"

          Khi một hiện tượng có mặt gọi là Sinh, nó có mặt một thời gian gọi là Trụ và cuối cùng chấm dứt gọi là Diệt. Về sau chư Tổ thêm vào hai giai đoạn biến đổi nữa là Hoại và trở thành một hiện tượng khác gọi là Thành.

          Tất cả mọi quá trình "Sinh-Trụ-Hoại-Diệt" của con người hay hiện tượng thế gian ở bề mặt được phân chia từng giai đoạn theo quy ước tục đế, để dễ dàng phân biệt, chứ thật ra bản thể của Sinh chính là Trụ, Sinh cũng là Hoại, Sinh cũng là Diệt. Chu kỳ Sinh của một pháp phải trải qua 4 giai đoạn: Sinh-Trụ-Hoại-Diệt rồi mới qua chu kỳ Trụ. Trong chu kỳ Trụ cũng phải trải qua đủ 4 giai đoạn Sinh-Trụ-Hoại-Diệt mới qua chu kỳ Hoại. Chu kỳ Diệt cũng vậy. Tại sao thế?

          Một con người được sinh ra, nên chúng ta mới thấy sự hiện hữu của người đó trước mặt. Con người đó hít hơi thở không khí vào phổi, tạo năng lượng sống. Khi thở hơi ra hay nín thở chính là lúc khiến năng lượng sống bắt đầu chết. Khi năng lượng sống mạnh và kéo dài bao lâu thì đó là Trụ trong Sinh. Khi năng lượng sống kém xảy ra trong con người đó, thì Hoại đang có mặt trong Sinh, đồng thời Hoại cũng đang có mặt trong Trụ. Khi con người hoàn toàn tắt thở không còn sự sống nữa thì qua giai đoạn Diệt tức chết đi. Vì thế trong mỗi quá trình, mỗi giai đoạn Sinh, Trụ, Hoại, Diệt đều có đủ các giai đoạn Sinh Trụ Hoại Diệt của nó, rồi mới trở thành cái khác.

          Trong mười hai nhân duyên cũng thế, mỗi nhân duyên cũng có đủ các chu kỳ Sinh, Trụ, Hoại, Diệt. Từ đó mới khởi thành Duyên khác. Thí dụ Duyên Vô Minh phải trải qua các chu kỳ Sanh, Trụ, Hoại, Diệt rồi trở thành Duyên Hành. Tất cả những biến đổi của hiện tượng thế gian, nhìn chung đều do "quy luật biến dịch" thúc đẩy và nó có tính cách "tương quan nhân quả" với nhau.

          Riêng về những vật vô tri vô giác thì không có Nghiệp lực mà chỉ bị ảnh hưởng của "quy luật biến dịch" mà thôi. Con người cũng luân hồi theo chu kỳ "Sinh-Lão-Bệnh-Tử". Mỗi giai đoạn khi dài khi ngắn khác nhau và mỗi giai đoạn cũng chịu quy luật biến dịch: Sinh-Trụ-Hoại-Diệt-Thành.

          Như thế qua hai định luật "Tương quan nhân quả""biến dịch", chúng ta nhận thấy Đức Phật đã giải thích sự hình thành của Vũ Trụ và sự vận hành của Vũ trụ cũng như biến hoại của Vũ trụ qua hai định luật này từng sát-na. Nhờ vào đó, chúng ta thấy định luật "tương quan nhân quả" trình bày sự phát triển Nhân Duyên trải rộng trong không gian. Còn quy luật "Sinh-Trụ-Hoại-Diệt-Thành" có thể xem  như là sự biến chuyển qua thời gian.

          Từ các quy luật này mới rút ra Tam Pháp Ấn đối với con người là:

          1) Vô Thường, 2) Khổ, 3) Vô Ngã.

          Còn hiện tượng thế gian thì:

          1)Vô Thường, 2) Xung đột (để biến hoá), 3) Không thực chất tính (đôi khi các vị Tổ cũng dùng từ Vô Ngã như "Nhân Vô ngã Pháp Vô ngã").

 

 

 

Vũ Trụ Quan
Vũ Trụ Quan

GIÁ TRỊ CỦA GIÁO LÝ DUYÊN KHỞI

          Quy luật biến dịch "sinh-trụ-hoại-diệt-thành" luôn chi phối trên tất cả các pháp hữu vi trong vũ trụ không phân biệt tâm pháp hay sắc pháp, lớn hay nhỏ. Duyên Sinh, Vô Thường, Vô NgãChân lý của thế gian có sẵn từ vô thuỷ vô chung nhưng không ai biết, đến khi Đức Phật thành đạo, chứng ngộ pháp này, mới chỉ dạy cho chúng sanh để đoạn trừ chấp ngã khổ đau.

          Đức Phật xác nhận pháp Duyên Khởi mà Ngài chứng ngộ là thường pháp của thế gian. Dù Đức Thế Tônxuất hiện hay không thì pháp đó vẫn tồn tạithế gian, ảnh hưởng đến sự sinh diệt của tất cả vạn pháp. Ngài cũng cho biết pháp Duyên Khởi này không do Ngài đặt chế, cũng không do ai khác tạo ra. Trả lời câu hỏi về pháp này của một vị Tỳ Kheo trong pháp hội, Đức Phật đã trả lời: "Pháp Duyên Khởi chẳng phải do Ta tạo ra, cũng chẳng phải do người khác tạo ra. Nhưng dù Như Laixuất hiện hay chưa xuất hiệnthế gian thì pháp giới này vẫn thường trụ. Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành Đẳng Chánh Giác, vì tất cả chúng sanhphân biệt, diễn nói, chỉ dạy hiển bày; đó là: Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi. Tức là do duyên vô minh nên có hành... cho đến việc tụ tập thuần một khối khổ lớn. Do vô minh diệt nên hành cũng diệt... cho đến việc thuần một khối khổ lớn tụ tập cũng bị diệt". (Kinh Tập A Hàm, số 299)

          Giáo lý Duyên Khởi giải thích đời sống của vũ trụđời sống của con người qua các quy luật Duyên Sinh, Vô Thường, Vô Ngã. Giữa con ngườivũ trụ có sự tương quan nhân quả. Nhưng chủ yếu của Ngài nhắm vào con người để giúp con người vượt thoát những hệ lụy phiền não, đau khổ triền miên. Ngày nào con người còn bị màn Vô Minh che phủ trí tuệ, nuôi dưỡng dục vọng thì con người mãi mãi đau khổ. Để chấm dứt tình trạng khổ đau này Đức Phật dạy con người cần tìm hiểu giáo lý Duyên Khởi, học hỏi thông suốt đạo lý này để biết cách thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử khổ đau. Đó là phải diệt mắt xích Vô Minh và cắt đứt được mắt xích Ái dục.

          Một bài kệ Đức Phật đọc sau khi thành đạo, cho thấy mắt xích Vô MinhKhát Ái chính là tác nhân khiến cho con người sống trong phiền nãođau khổ như sau: "Xuyên qua nhiều kiếp sống trong luân hồi / Như Lai thênh thang đi, đi mãi. / Như Lai đi tìm mãi mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. / Lặp đi lặp lại đời sống quả thậtphiền muộn. / Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. / Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa, / Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng lên cũng bị phá tan. / Như Lai đã chứng quả Vô Sanh Bất DiệtNhư Lai đã tận diệt mọi Ái Dục".

          Bài kệ này cho thấy rằng Đức Phật đã trải qua nhiều kiếp tái sinh chịu nhiều đau khổphiền não, vì chưa tìm được người xây nhà. Trong kiếp cuối cùng, lúc tọa thiền, an trú trong định bất động, Ngài đã kiến giải ra anh thợ xây cất nhà không ở bên ngoài, mà nằm sâu kín bên trong Ngài, đó là Ái dục. Còn cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm như: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, phóng dật, không hỗ thẹn (tàm quý), hành động bất thiện. Cây đòn dông chịu đựng cái sườn chính là: Vô minh (nguyên nhân phát xuất mọi dục vọng). Phá vỡ cây đòn dông Vô Minh, bằng trí tuệ, là làm sập được căn nhà đang chịu nhiều đau khổ. Không có vật liệu thì anh thợ (Ái dục) đành bó tay. Ở đây, ý nói Vô Minh bị diệt nên Dục vọng tức Ái dục bị diệt. Do đó tất cả 12 mắt xích đều bị tan rã đồng nghĩa bấy giờ căn nhà hoàn toàn sạch lậu hoặc không còn nghiệp chuớng nên căn nhà chính là Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ giải thoát.

          Trong Kinh Đại Duyên, Đức Phật bảo tôn giả Ananda: "Này Ananda, chính vì không giác, không thâm hiểu giáo pháp duyên khởi này mà chúng sinh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaịa, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đoạ xứ, sinh tử". Qua lời này của Đức Phật, nếu con người không thông hiểu giáo pháp Duyên Khởi thì đời sống của người đó chắc chắn sẽ chìm đắm trong đau khổ không có lối thoát.

 

GÚT LẠI

          Giáo lý Duyên Khởi từ trước đến giờ vẫn được xem là giáo lý quan trọng, là cái sườn của Phật pháp, là nền tảng của các giáo lý căn bản như: Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn, Nghiệp Báo, Nhân Quả, Vô Thường, Khổ, Vô Ngã... Đạo lý Duyên Khởi này đã được chư Tổ, chư tôn thạc đức nghiên cứu không biết bao nhiêu mà kể. Hình như càng nghiên cứu, các bậc thầy càng khám phá thêm những nét đặc thù giá trị của đạo lý này. Vì thế không dễ gì với khả năng hạn hẹp của kẻ hậu học có thể trình bày một cách rốt ráo hay dẫn chứng được những điểm giá trị tột cùng của pháp Duyên Khởi. Chỉ mong bài viết này có thể giúp các bạn mới bắt đầu nghiên cứu Phật pháp có thể nhận rathông hiểu những điểm chính về mười hai Nhân Duyên, về định lý tương quan nhân quả "Cái này có cái kia có, Cái này sanh cái kia sanh. Cái này không cái kia không, Cái này diệt cái kia diệt". Cũng như về quy luật "biến dịch" trong vũ trụ quan và nhân sinh quan. Đó là quy luật "sinh-lão-bệnh-tử" hay "sinh-trụ-hoại-diệt-thành" để làm tư lương căn bản tu tập.

          Người viết hiểu rằng giáo lý Duyên Khởi đặc biệt giải thích về trạng thái đau khổ con người do đâu sinh ra. Tất cả là do 12 Duyên Khởi. Bằng vào tuệ giác siêu việt, Đức Phật tự kiến giải, rồi khai thị cho chúng ta hiểu. Đó là một vòng tròn tuy nói là khép kín, nhưng cũng có cách để chúng ta phá vỡ nó. Chỉ cần chúng ta diệt một trong các mắt xích, mà quan trọng nhất là mắt xích Vô MinhÁi dục thì tự động cái vòng phiền não này sẽ tan rã. Nếu chúng ta chịu tu tập theo các giáo lýĐức Thế Tôn đã giảng dạy thì sẽ cắt đứt được Vô MinhÁi dục. Những giáo lý đó là Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn, Nhân Quả, biết tàm quý, sám hối chừa bỏ những lỗi lầm, tu theo Giới Định Huệ v.v...

          Bắt đầu bước vào đạo lộ Phật pháp thật rất khó, bởi vì chúng sanh ở trong cõi dục này vốn ưa thích ái dục, ham muốn ái dục, thường sống với tâm ô nhiễm tham lam, sân hận, si ám, phóng dật, ít chịu thiền định để quay về bên trong hầu tận diệt tham dục. Chính Thế Tôn đã nhìn ra bản chất của chúng sanh như thế nên Ngài cũng đã phân vân trước khi mang pháp của Ngài ra giáo hoá chúng sanh. Điều này có ghi lại trong Kinh Thánh Cầu như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh, y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết Bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!".

          Tuy nói là khó, nhưng như Đức Phật đã từng tuyên bố rằng các pháp của Ngài chủ yếu để hướng dẫn con người tu tập thoát khổ giác ngộ giải thoát. Chúng tacon người có bộ não biết tư duy, biết chọn con đường để đi đến chỗ an vui hạnh phúc, xa lìa con đường dẫn tới khổ đau. Nếu không bắt đầu đi vào đạo lộ Phật pháp thì sẽ không bao giờ tới nơi chúng ta muốn tới. Nếu không bắt đầu tu tập thì chúng ta sẽ không bao giờ chuyển đổi nhận thức, chuyển đổi Tâm Phàm Phu ô nhiễm khổ đau để an trú trong Tâm Bậc Thánh an vui thanh tịnh. Nếu không bắt đầu tu tập theo pháp Phật có nghĩa là chúng ta bằng lòng chấp nhận đời đời kiếp kiếp làm nô lệ cho khổ đau và mãi mãi trôi lăn trong vòng sinh tử. Con đường dẫn đến hạnh phúc hay khổ đau, Đức Phật đã chỉ bày không giấu diếm. Chọn con đường nào đó là phần quyết định của chúng ta.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thích Nữ Hằng Như

15/12/2017

 

 

 

Tài liệu:

- Dựa theo giáo trình giảng dạy các khoá Bát Nhã lớp Trung Cấp 2 của Hoà Thượng Thích Thông Triệt (Thiền Viện Tánh Không).

- "The Buddha And His Teachings", Hoà Thượng Nãrada Maha Thera, Phạm Kim Khánh dịch. Nhà xuất bản Xuân Thu phát hành 1970.

- Kinh Đại Duyên (Kinh Trường Bộ I): Cố Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch.

- Kinh Phật Tự Thuyết (Kinh Tiểu Bộ tập I): Cố Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch.

- Kinh Thánh Cầu (Trung Bộ Kinh): Cố Hoà Thượng Thích Minh Châu dịch.

- Kinh Tạp A Hàm trong "Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh" Tập 5.  Thầy Thích Đức Thắng dịch.

         

         

 

         

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, August 15, 20226:56 AM(View: 27)
Ni sư Thích nữ Triệt Như hướng dẩn KHÓA TU ĐẶC BIỆT - Phần 1 tại HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG ONTARIO CANADA Ni Sư Triệt Như giới thiệu nội dung và mục đích của khóa tu. Bài tập về thiền hành với chủ đề: Biết sự xúc chạm khi đi - Cái biết đặt dưới bàn chân
Saturday, August 13, 20224:40 PM(View: 68)
Theo quan niệm nhà Phật thì con người tự ràng buộc mình trong nỗi khổ đau do chính mình gây ra. Muốn thoát khổ thì cũng phải chính mình tháo gỡ sợi dây ràng buộc đó chứ không Thần Phật nào cứu rỗi, ban ơn, giáng họa cho mình được.
Wednesday, August 10, 20227:09 AM(View: 293)
Sự thật muôn đời: hễ cái gì có sinh ra, thì phải có lúc chấm dứt, biến mất, hoại diệt. Nhưng dường như chúng ta chưa chấp nhận sự thật này. Nên chúng ta buồn khổ vì bệnh. Các bạn ơi, như vậy bệnh có phải chỉ là ảo giác ngôn ngữ?
Saturday, August 6, 20229:52 AM(View: 131)
84 K Dharma approaches mean there is none of them. How come? Any way is the entrance to the house that has been there and for each of us. We are inside our home and always at home. But we do not trust this truth. Then, we manage to look for this and that everywhere. Do live ingenuously, and very naturally. Do not add anything. With that, we are at home and inside our house.
Monday, August 1, 20225:11 PM(View: 131)
Nói theo luận lý Huyễn: không phải khách quan dính mắc thế gian, mà dính mắc thế gian chính là chủ quan.
Wednesday, July 27, 202211:15 AM(View: 376)
Các em có lần tâm tình: cô ơi, trước khi cô nghỉ ngơi, cô hệ thống lại con đường từ đầu tới cuối cho tụi con theo đó mà đi. Thiệt ra có con đường nào đâu. Tu là thấy ra cái tâm của chính mình thôi. Chính mình đang ở trong cái tâm của mình. Con đường nào khác nữa? Là đã phóng ra ngoài, tìm cầu cái gì bên ngoài là đi lạc rồi.
Wednesday, July 27, 20226:49 AM(View: 200)
Nếu nắm vững một trong ba cách “Như Thực - Yathābhūta” ta có khả năng mở ra những mấu chốt trong phương pháp tu Huệ của hệ Phát Triển và Thiền Tông.
Tuesday, July 26, 202210:53 PM(View: 208)
Tùy theo căn cơ của chúng sanh mà Đức Phật có nhiều phương thức, nhiều pháp môn hướng dẫn đệ tử tu tập để đạt quả vị giải thoát tối hậu, nhưng với pháp môn nào người tu tập cũng phải thực hành nhuần nhuyễn Tam Vô Lậu Học: Giới-Định-Tuệ. Vì Tam Vô Lậu Học có công năng đưa hành giả qua bờ giác ngộ thoát khỏi vòng tục lụy luân hồi sinh tử./.
Wednesday, July 20, 20225:14 PM(View: 418)
Làm sao sống hài hòa với thế gian? Các bạn ơi, đâu có gì bí hiểm. Thấy “cái đang là”. Đó, cái đáp án, đơn giản quá, mà sao áp dụng khó quá phải không? Chỉ cần biết “cái đang là” thôi là tâm trong sáng tức khắc. Khi ta nghĩ tới “cái phải là”, lập tức ta rơi vào biển khổ cuộc đời, ta bị trói buộc, hay ta đang trói buộc người khác.
Monday, July 18, 20225:13 PM(View: 198)
Tổ đã mở màn một kỷ nguyên mới về Thiền bằng bốn câu kệ bất hủ: Bất lập văn tự; Giáo ngoại biệt truyền; Trực chỉ nhơn tâm; Kiến tánh thành Phật. (Xem Giải thích thuật ngữ ở cuối bài)*
Thursday, July 14, 20228:13 AM(View: 425)
84 ngàn pháp môn có nghĩa là không có pháp môn. Vì sao vậy? Đi cách nào cũng vào nhà, vì nhà là sẵn có, là của riêng mình. Ta đang ở trong nhà, luôn luôn đang ở trong nhà. Chỉ là mình không tin sự thật này, nên mình bôn ba tìm kiếm đâu đâu. Hãy sống hồn nhiên, thật tự nhiên, không cần thêm gì hết, là mình đang ở trong nhà của mình.
Wednesday, July 13, 20225:37 PM(View: 345)
Người tu Phước vô lậu và Phước hữu lậu đều có những hành vi thiện lành giống nhau, nhưng tâm tư của mỗi hành giả lúc thực hiện thì khác nhau. Cùng một hành động, mà một đằng hướng đến tái sinh hưởng phước hữu lậu vật chất ở tương lai. Một đằng là công đức tu hành, làm lợi ích chúng sanh bằng tâm quảng đại. Khi cần thì làm. Làm xong thì thôi, không dính mắc gì cả.
Saturday, July 9, 20225:48 AM(View: 196)
Chân như là tướng chân thực hay chân tướng bất biến của mọi hiện tượng. Nó là nguyên tắc làm cho hiện tượng giới ở trong trạng thái như như bất động. Chỉ bằng trí huệ Bát nhã mới hình dung được ý nghĩa chân như như thế nào.
Tuesday, July 5, 20226:00 AM(View: 270)
Nói theo luận lý Huyễn: không phải khách quan dính mắc thế gian, mà dính mắc thế gian chính là chủ quan. Nhưng khi đạt được sự lãnh hội hiện tượng thế gian là Như Huyễn, tâm ba thời không còn hiện hữu. Chủ quan và khách quan vắng mặt. Đây là trạng thái của trí huệ Bát Nhã.
Wednesday, June 29, 202212:30 PM(View: 510)
Tất cả các vị thánh tăng đều có Giới đức, Định lực và Tuệ lực tròn đầy. Nhưng những phương tiện đầu tiên có hơi khác nhau: ngài A nan thì bước vào bằng ngõ đa văn, ngài Revata thì hạnh sống nơi rừng núi hoang vắng, ngài Anuruddha thì bằng thiên nhãn, ngài Mahā Kassapa thì hạnh đầu đà, ngài Mahā Moggallāna thì trí tuệ biện tài, ngài Sāriputta thì điều phục tâm v.v...Mỗi người mỗi vẽ, quy tụ lại như một vườn hoa có trăm đóa khác nhau, hoa nào cũng tròn hương, tròn sắc.
Wednesday, June 22, 20221:22 PM(View: 534)
Hôm nay học lại gương sáng của người xưa, gương sáng vẫn muôn đời là gương sáng. Ánh sáng chỉ sáng cho những ai nhìn thấy. Ánh sáng của trí tuệ muôn đời vẫn thầm lặng chiếu soi trần gian, như ánh trăng kia thầm lặng sáng trong đêm dài cuộc đời.
Sunday, June 19, 202211:17 AM(View: 317)
Tánh Không (Śūnyatā) được gọi là bất khả đắc (không thể được: anupalabdha) hay bất khả tư (acintya: không thể suy nghĩ). Nó không phải là một khái niệm thông thường như trong bất cứ phạm trù nào của luận lý học trong triết học. Nó đồng nghĩa với Chân Như. Vì thế muốn giáp mặt nó, người thực hành phải kinh nghiệm nhận thức không lời.
Wednesday, June 15, 20227:25 AM(View: 475)
Ý NGHĨA CỦA PHÓNG SANH - Sinh hoạt đạo trảng Houston - 5- 6- 2022
Tuesday, June 14, 20225:56 PM(View: 629)
Ngài Anuruddha, đã gieo căn lành từ nhiều đời trong quá khứ, đời này sinh ra trong gia đình, dòng họ giàu sang, lại cùng thời với đức Phật, anh em chú bác với đức Phật, xuất gia rất sớm, không vướng bận vợ con, đầy đủ thuận duyên, trở thành một vị thánh đệ tử, quan sát cả ngàn thế giới mà chỉ như người đứng trên lầu cao nhìn xuống thế gian.
Tuesday, June 14, 20225:26 PM(View: 494)
Ni sư Triệt Như Audio: KHÁI QUÁT VỀ THỂ NHẬP TÁNH KHÔNG AUDIO khóa BN Trung Cấp III 4-6-2022
Monday, June 13, 20229:46 AM(View: 327)
... Đức Phật: “Chỉ qua thể tánh của chúng chứ các pháp đó không là cái gì cả. Tánh của chúng là không tánh (no-nature), và không tánh của chúng là tánh của chúng. Vì chư pháp chỉ có một tướng mà thôi, đó là không tướng. Vì lý do này chư pháp có đặc tính của không được biết đầy đủ bởi Như Lai. Vì pháp không có hai tánh, chỉ có một. Một là tánh của chư pháp. Và tánh của chư pháp là không tánh, và không tánh của chư pháp là tánh của chúng. Như thế, tất cả điểm dính mắc đó đều bị buông thả."
Tuesday, June 7, 202210:23 AM(View: 584)
Người biết sống một mình là người luôn an trú trong chánh niệm. Tuy nhiên đối với đa số con người, xa lánh nơi ồn ào náo nhiệt là duyên thuận lợi hơn trong bước đầu tu tập.
Sunday, June 5, 20225:21 PM(View: 285)
Khi mạng lưới khái niệm càng được dệt, tâm linh hay chân tâm càng bị “chôn dấu”. Tiến trình tâm linh hay Phật tánh chỉ có thể phát sáng khi khái niệm hóa bị chấm dứt. Người nhiều vô minh thì thích tạo ra những mạng lưới khái niệm hóa dày đặc. Vì thế họ càng xa niết bàn, càng xa giác ngộ. Trái lại, họ gần phiền não và đau khổ.
Saturday, June 4, 202211:21 AM(View: 545)
This article is an introductory summary of the teachings of Zen Master Thích Thông Triệt on the topic, mainly based on the oral teaching of Bhikkhuni Zen Master Thích Nữ Triệt Như given for the Fundamental Meditation Course.
Thursday, June 2, 20221:11 PM(View: 494)
Đạo lộ tâm linh đi đến giải thoát giác ngộ, căn bản đầu tiên là phải tu tập từ các căn. Tu tập như thế nào Đức Thế Tôn đã từ bi chỉ rõ trong bài “Kinh Căn Tu Tập”.
Wednesday, June 1, 20226:59 PM(View: 720)
Các bạn ơi, đây là một tấm gương sáng, một con đường tu học mà ngài A Nan gởi gắm lại cho đời. Con đường của trí tuệ, cũng dẫn hành giả tới giải thoát.
Friday, May 27, 202212:03 PM(View: 450)
This article is an introductory summary of the teachings of Zen Master Thích Thông Triệt on the topic, mainly based on the oral teaching of Bhikkhuni Zen Master Thích Nữ Triệt Như given for the Fundamental Meditation Course.
Tuesday, May 24, 202212:23 PM(View: 772)
Chợt tỉnh giấc nửa đêm, nhìn ra khung cửa sổ, trời sáng, trắng trong, mặt trăng tròn treo lơ lửng giữa trời không mây. Hôm nay là một đêm trăng mùa Phật đản sinh. Khép mắt lại, nhìn thấy một bức tranh thiệt đẹp giữa rừng, giữa một cảnh rừng, trong một đêm trăng sáng, cũng một đêm trăng tròn sáng như đêm nay
Tuesday, May 17, 20221:38 PM(View: 697)
Nhưng có một cái không xa rời mình, đó là cái tâm, tâm đời thì tái sanh để tiếp tục lặn hụp trong biển ái, biển khổ; nếu là tâm trong sạch thì tiếp tục tu học cho tới khi hoàn hảo là bước lên bờ. Bấy giờ trên bến bờ bình an, thấy ai giơ tay vẫy gọi, ta mới tới cầm tay dắt lên bờ. Còn những ai mải mê đắm đuối trong sóng nhấp nhô, thì ta có làm gì hơn nữa được đâu, phải không các bạn ơi!
Wednesday, May 11, 20222:50 PM(View: 789)
Pháp môn là cái cổng để đi vào học, hiểu và thực hành Pháp. Pháp là chân lý, cũng là tất cả hiện tượng thế gian. Nói như vậy, chúng ta có thể tưởng là hai thứ khác nhau. Không, chúng chỉ là một. Chân lý hiển lộ ra qua mỗi hiện tượng thế gian, mỗi hiện tượng thế gian chính là chân lý. Ta cũng là chân lý, chân lý cũng hiển lộ qua ta. Ta cũng là tất cả chân lý. Tất cả đều bình đẳng: đều vô thường, đều vô ngã, đều duyên sinh, đều trống rỗng, đều như huyễn, đều như như bất động. Tất cả đều là cái vô sanh, nên bất tử.
Tuesday, May 10, 20223:33 PM(View: 542)
This article is an introductory summary of the teachings of Zen Master Thích Thông Triệt on the topic, mainly based on the oral teaching of Bhikkhuni Zen Master Thích Nữ Triệt Như given for the Fundamental Meditation Course.
Wednesday, May 4, 202212:31 PM(View: 951)
Đức Phật nói nước mắt con người chảy thành biển cả mênh mông, còn tiếng cười của hai anh em mình chỉ đong đầy có hai cái lu thôi. Nước mưa thì vẫn trong vẫn mát. Mùa xuân cũng vẫn mát vẫn trong, muôn đời.
Tuesday, May 3, 20229:22 PM(View: 598)
This article is an introductory summary of the teachings of Zen Master Thích Thông Triệt on the topic, mainly based on the oral teaching of Bhikkhuni Zen Master Thích Nữ Triệt Như given for the Fundamental Meditation Course.
Wednesday, April 27, 20223:46 PM(View: 934)
“Cô nghĩ sao về cái Chết?”. - Chợt nghĩ tới mình, bước đường đời đã tới mức cuối, rồi nghĩ tới các bạn. Cái cầu mình sẽ phải đi qua, vậy mình chuẩn bị hành trang nào, sẵn sàng bước tới mấy nhịp cầu “đoạn trường” đó?
Wednesday, April 27, 202210:24 AM(View: 591)
Ni sư Triệt Như VIDEO Giảng Đại Chúng Bài 7: CHỖ ĐỨNG và MỤC TIÊU CỦA CHÚNG TA Giảng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 16 tháng 4, 2022
Wednesday, April 20, 202210:17 AM(View: 1136)
Cho nên tham sân si cũng biểu hiện tất cả những chân lý thường hằng của vạn pháp. Chúng là vô thường, là khổ, là vô ngã, bản thể trống không, như huyễn mộng, là như như bất động, là bình đẳng với vạn pháp.
Tuesday, April 19, 20227:50 PM(View: 821)
Ni sư Triệt Như Audio: 8- CHỦ ĐỀ CỦA CÁC KHÓA THIỀN Thiền Đường Tánh Không Nam Cali 16- 4- 2022
101,438