HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

    Ký Sự Hành Hương Ấn Độ 2016

    Thursday, January 5, 20171:00 PM(View: 14180)

    HÀNH HƯƠNG CHIÊM BÁI PHẬT TÍCH NĂM 2016

    TẠI ẤN ĐỘ VÀ NEPAL

    Tuệ Chiếu

    Giới thiệu

    Đây là lần thứ 7 cũng là lần đầu tiên Ni Sư Triệt Như hướng dẫn thiền sinh viếng thăm Phật tích. Lần thứ nhất vào tháng 11 năm 2000. Lần thứ hai vào tháng 11 năm 2004, lần thứ ba vào tháng 11 năm 2006, lần thứ 4 vào tháng 11 năm 2007, lần thứ năm vào cuối tháng 2 đến giữa tháng 3 năm 2010 và lần thứ sáu vào tháng 1 năm 2011 đều do Thầy Thiền chủ hướng dẫn.

    Chuyến hành hương viếng thăm Phật tích năm nay có 2 mục đích:

    1. Ni Sư tạo điều kiện thuận lợi để:

    • hướng dẫn thiền sinh tại các Đạo tràng Thụy sĩ, Pháp, Canada, Úc, Mỹ thực tập các chủ đề đã học từ lớp Căn bản đến các lớp Trung cấp Bát Nhã tại Bồ đề Đạo Tràng;
    • hướng dẫn thiền sinh viếng thăm Phật tíchchiêm bái các thánh tích để củng cố thêm ý chí hướng đến tâm linh.

    2. Giúp thiền sinh nhận rõ giá trị Phật pháp đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh, qua sự tự lực thực hành theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca.

    Hành trình hành hương:

    Khởi hành từ phi trường Los Angeles lúc 9:26AM ngày 31 tháng 10 năm 2016. Sau 15 giờ 22 phút thì đến phi trường quốc tế Chek Lap Kok tại Hong Kong. Dừng lại đây 1 giờ để đổi chuyến bay và mất thêm 6 giờ 9 phút mới đến Dehli. Đặt chân đến phi trường Indira Gandhi tại Dehli lúc 8:26PM ngày 1 tháng 11 năm 2016. Vì phải chờ đoàn từ Canada nên mãi đến 11:30PM mới về đến khách sạn.

    (Click vào hình để xem rõ hơn)

    Đoàn hành hương đến phi trường Delhi
    Figure 1: Đoàn hành hương đến phi trường Delhi

    Đoàn hành hương kỳ này gồm tất cả 67 thiền sinh đến từ các Đạo tràng Thụy sĩ, Pháp, Canada, Úc và Hoa kỳ. Đoàn hành hương được chia thành hai nhóm: nhóm 1 gồm 33 người do Anh Tuệ Vinh làm trưởng nhóm và nhóm 2 gồm 34 người do anh Quang Thông làm trưởng nhóm.

    Sáng ngày 2 tháng 11, sau khi ăn sáng xong thì đoàn hành hương được đưa đi viếng Khải Hoàn Môn của Ấn độ (Indian Gate) nơi ghi nhớ 82000 người lính Ấn độ đã hy sinh trong các cuộc chiến từ năm 1914 đến 1921.

    Figure 2: Khải Hoàn Môn (India Gate)
    Figure 2: Khải Hoàn Môn (India Gate)

    Tại Dehli lúc này đang bị khói mù vây kín do vụ nỗ kho làm pháo bông trong vài tuần trước, mùi pháo vẫn còn khắp nơi. Thành phố này bị ô nhiễm trầm trọng do chuyên sản xuất pháo bông. Từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 là ngày lễ hội Dewali nên pháo bông được sử dụng khắp đường phố về đêm. Giao thông bị trì trệ do các đoàn diễn hành đi trong thành phố.

    Sau đó, các thiền sinh được đưa đến chiêm bái xá lợi của Đức Phật được trưng bày tại bảo tàng viện quốc gia. Nơi đây Ni sư Triệt Như đã cùng tất cả các Thiền sinh ngồi tọa thiền. Phải chăng từ trường im lặng lan tỏa khắp phòng khiến cho khách tham quan cũng lặng lẽ theo.

    Figure 3: Tọa thiền tại nơi trưng bày xá lợi Phật
    Figure 3: Tọa thiền tại nơi trưng bày xá lợi Phật

    Figure 4: Tọa thiền tại nơi trưng bày xá lợi Phật
    Figure 4: Tọa thiền tại nơi trưng bày xá lợi Phật

    Figure 5: Xá lợi Phật được trưng bày tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Delhi
    Figure 5: Xá lợi Phật được trưng bày tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Delhi
    Figure 6: Hình lưu niệm tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Delhi
    Figure 6: Hình lưu niệm tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia ở Delhi

    Sau khi ăn trưa, đoàn được đưa đi tham quan các đền thờ trong thành phố như chùa Liên hoa (lotus temple) của đạo Baha’i. Đền thờ nỗi tiếng của người Ấn độ giáo là Akshardham được xây bằng đá cẩm thạch từ Ý và đá cát màu hồng từ vùng sa mạc ở Tây Bắc của Ấn độ. Đền gồm có 234 trụ và 9 tháp. Trong đây có nhiều kiến trúc nỗi bật như sảnh giá trị (hall of values), đài phun nước theo nhạc (musical fountain), vườn cỏ có hình hoa sen.v.v.

    Figure 7: Chùa Liên Hoa (Lotus Temple)
    Figure 7: Chùa Liên Hoa (Lotus Temple)

    Figure 8: Đền thờ Akshardham
    Figure 8: Đền thờ Akshardham

    Ngày 3 tháng 11, đoàn hành hương rời thủ đô Delhi đi thăm viếng lăng Taj Mahal tại thành phố Agra. Lăng này được Unesco công nhận là một di sản văn hóa thế giới vào năm 1983. Lăng này được xây dựng liên tục trong 22 năm (1632 – 1653). Đây là một công trình mang tính tổng hợp của Ba Tư, Thổ Nhi Kỳ và Ấn Độ. Lăng này do vua Shah Jahan xây cho hoàng hậu Mumtaz Mahal mất ở tuổi 40.

    Figure 9: Lăng Taj Mahal
    Figure 9: Lăng Taj Mahal

    Figure 10: Mộ của vua Shah và hoàng hậu Mumtaz
    Figure 10: Mộ của vua Shah và hoàng hậu Mumtaz

    Ngày 5 tháng 11, là một ngày hoàn toàn trên xe bus đi từ Agra đến Sravasti (Sanskrit), tiếng Pāli là Savatthi. Vào thời Đức Phật thì Savatthi tức là Xá Vệ là kinh đô của nước Kiều Tát La (Kosala) dưới quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi). Nơi đây, các thiền sinh có dịp thăm viếng Kỳ Viên Tinh Xá do Ngài Cấp Cô ĐộcThái tử Kỳ Đà cúng dường cho Đức Phật, hương thất nơi Đức Phật cư ngụ, cây bồ đề của Ngài Anan, giếng nước hình bát giác nơi Đức Phật hay dùng, và các nền đá của các Tinh xá cũ. Nơi đây, Ni Sưgiới thiệu đến vị thánh tăng Sivali là vị Sa môn đại phúc nên ai thân cận Ngài đều hưởng phúc lợi. Cách Tinh Xá không xa có 2 tháp: Pakki Kuti là nơi Đức Phật giáo hóa cho tướng cướp Vô Não và Kacchi Kuti là nơi ghi dấu nơi cư ngụ của Ngài Cấp Cô Độc. Trên đường đi, đoàn có ghé viếng thăm Tăng Già Thi (Sankasya) là nơi Đức Phật trở về sau ba tháng lên cõi trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu hậu Ma Dachư Thiên. Buổi chiều, đoàn tiếp tục hành trình sang xứ Nepal.

    Figure 11: Gò đá nơi Kỳ Viên tinh xá
    Figure 11: Gò đá nơi Kỳ Viên tinh xá

    Figure 12: Tọa thiền nơi Kỳ Viên tinh xá
    Figure 12: Tọa thiền nơi Kỳ Viên tinh xá
    Figure 13: Tọa thiền nơi Kỳ Viên tinh xá
    Figure 13: Tọa thiền nơi Kỳ Viên tinh xá

    Sáng ngày 6 tháng 11, đoàn hành hương đi thăm viếng thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) bên Nepal, cách biên giới khoảng 70km. Cửa thành phía Tây chỉ còn sót lại nền gạch cũ cùng với tấm bảng xác định vị trí của các nhà khảo cổ. Đối mặt sau của cổng thành phía Tây khoảng hơn một cây số là cửa thành phía Đông, nơi mà nửa đêm rạng ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, thái tử Tất Đạt Đa đã âm thầm rời bỏ kinh thành đi tìm đạo giải thoátHướng Tây Nam là vườn cây Ni Câu Đà (Nigrodha) thuộc làng Kudan, nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách. Tháp cổ nơi ghi dấu Ngài La Hầu La làm lễ xuất gia.

    Figure 14: Cửa thành phía Đông
    Figure 14: Cửa thành phía Đông
    Figure 15: Tháp cổ ghi dấu nơi Ngài La Hầu La xuất gia
    Figure 15: Tháp cổ ghi dấu nơi Ngài La Hầu La xuất gia
    Figure 16: Nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách
    Figure 16: Nơi vua Tịnh Phạn hội ngộ với Đức Phật sau 13 năm trời xa cách

    Nigalihawa là tên một ngôi làng nhỏ. Đây là nơi ghi dấu chỗ ra đời của Đức Phật quá khứ Câu Na Hàm Mâu Ni, (P: Konagamana; Skt.: Kanakamuni). Kanakamuni là Đức Phật thứ năm trong bảy vị cổ Phật (thất Phật). Vào năm 1899, người ta đào thấy ở đây một trụ đá bị gãy đôi của vua A Dục, phần trên dài gần năm thước và phần dưới dài gần một thước, nằm trên mặt đất. Phần trên của trụ đá có ghi hàng chữ Tây Tạng, với câu chú: “Om Mani Padme Hum” (Án Ma Ni Bát Di Hồng) và trên dòng chữ này có khắc hình hai con công. Phần nửa trụ đá dưới có khắc hàng chữ Brahmi (tiếng Ấn Độ thời cổ), ghi lại chuyến đến thăm Ca Tỳ La Vệ của vua A Dục (Asoka).

    Figure 17: Nơi ghi dấu chỗ ra đời của đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni
    Figure 17: Nơi ghi dấu chỗ ra đời của Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni
    Dòng chữ: "Om Mani Padme Hum"
    Figure 18: Dòng chữ: "Om Mani Padme Hum"


    Ngày 7 tháng 11, đoàn hành hương viếng thăm Lâm Tỳ Ni (Lumbini) là nơi đản sinh của Đức Phật. Các thánh tích gồm nền gạch của đền, nơi Phật đản sinh, hồ nước nơi hoàng hậu Ma Da tắm cho Đức Phật và trụ đá của vua A Dục. Đoàn hành hương làm lễ, tọa thiền tại nền gạch dưới cội Bồ Đềđi thiền hành chung quanh hồ. Sau đó, đoàn đi viếng thăm chùa Bồ Đề Phật Quốc của Thầy Huyền Diệu.

    Figure 18: Lâm Tỳ Ni - Nơi đức Phật đản sinh
    Figure 19: Lâm Tỳ Ni - Nơi Đức Phật đản sinh

    Figure 19: Cột trụ của vua A Dục tại Lâm Tỳ Ni
    Figure 20: Cột trụ của vua A Dục tại Lâm Tỳ Ni

    Figure 20: Thiền hành quanh hồ nước tại Lâm Tỳ Ni
    Figure 21: Thiền hành quanh hồ nước tại Lâm Tỳ Ni
    Figure 21: Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự ở Lâm Tỳ Ni
    Figure 22: Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni

    Figure 22: Chùa một cột trong Việt Nam Phật Quốc Tự ở Lâm Tỳ Ni
    Figure 23: Chùa một cột trong Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni

    Ngày hôm sau 8 tháng 11, đoàn tiếp tục đi đến Câu Thi Na (Kushinagar). Vào thời Đức Phật, Kushinagar (Kusinara) là kinh đô của nước Mala. Bây giờ Kushinagar là một ngôi làng thuộc quận Kushinagar, bang Uttar Pradesh của Ấn Độ, rất gần biên giới với Nepal. Di tích nơi Phật nhập diệt chỉ mới được tìm thấy vào năm 1876. Người ta cũng tìm thấy nơi đây một tượng Phật nằm bằng đá dài 6,1m. Kiến trúc tháp và đền, mà ta thấy ngày nay, là do sự phục dựng vào năm 1956. Bên trong đền là tượng Phật nhập diệt, nằm nghiêng bên phải, đầu về hướng bắc. Tượng được đặt trên một bệ đá, mặt trước có khắc chữ đánh dấu vào thế kỉ thứ năm sau công nguyên. Tượng vốn bằng đồng, nhưng người hành hương lần lượt thếp vàng lên trên. Đoàn hành hương cũng ghé thăm nơi làm lễ trà tỳ cho Đức Phật.

    Figure 23: Câu Thi Na - Nơi Phật nhập diệt
    Figure 24: Câu Thi Na - Nơi Phật nhập diệt
    Tượng Phật nằm khi nhập diệt
    Figure 25: Tượng Phật nằm khi nhập diệt
    Figure 24: Hình chụp tại hai cây Sala
    Figure 26: Hình chụp tại hai cây Sala

    Figure 25: Gò đá ghi dấu nơi làm Lễ Trà tỳ cho đức Phật
    Figure 27: Gò đá ghi dấu nơi làm Lễ Trà Tỳ cho Đức Phật

    Trên đường trở về, chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem một trong tám bảo tháp đầu tiên lưu giữ Xá Lợi Phật của dòng Lichhavis ở Tỳ Xá Ly (Vaishali). Tháp này đã được khám phá vào năm 1958. Cổ vậtXá Lợi được chuyển vào viện bảo tàng quốc gia. Sau đó đoàn rời Nepal và trở về lại Ấn độ. Đến Bồ Đề Đạo Tràng lúc khoảng 5:30 chiều.

    Figure 26: Nơi lưu giữ Xá Lợi Phật của dòng Lichhavis khi xưa
    Figure 28: Nơi lưu giữ Xá Lợi Phật của dòng Lichhavis khi xưa

    Figure 27: Nơi chôn dấu  Xá Lợi Phật của dòng Lichhavis khi xưa
    Figure 29: Nơi chôn dấu Xá Lợi Phật của dòng Lichhavis khi xưa

    Trong bốn điểm thánh tích (Tứ động tâm, four places that produce enthusiasm), Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là điểm đặc biệt có nhiều người đến chiêm bái nhất. Lúc nào nơi đây cũng đông nghẹt người. Có cả tu sĩ lẫn cư sĩtín đồ khắp nơi trên thế giới. Ta thấy đủ sắc màu của các tông phái Phật giáo ở đây. Kể cả những ngày không có lễ hội, Bồ Đề Đạo Tràng cũng không bao giờ yên tĩnh. Ngày nào cũng có các tu sĩ dùng loa đọc tụng hay trì chú. Âm thanh kinh tụng hay trì chú qua loa sang sảng khiến mọi người và sinh vật xung quanh đều có thể nghe rõ. Tháp Đại Giác (Mahabodhi) là công trình kiến trúc đánh dấu nơi Đức Phật đã ngồi thiềnđạt được đại giác ngộ. Bodhgaya là linh địa duy nhất để một vị Đại Phật xuất hiện. Tương truyền cây Bồ Đề bắt đầu mọc tại đây khi Đức Phật ra đời. Khi chưa có một vị Phật xuất hiện thì Bodhgaya là một nơi bằng phẳng với cát sạch, nơi đây không có một loài cây nào mọc được. Kể cả Sakka (Trời Đế Thích) cũng không thể đi qua vùng không gian phía trên của Bodhgaya. Khoảng hai trăm năm mươi năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, vua Asoka đến thăm nơi Đức Phật thành đạo và đã cho xây Đại Tháp ở đây. Vào năm 2002, Đại tháp Mahabodhi cao 50 mét kiến tạo bởi nhiều loại đá quí, được Unesco xếp vào các công trình di sản của thế giới.

    Figure 28: Đại tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 30: Đại tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng

    Figure 29: Tọa thiền trước chánh điện tại Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 31: Tọa thiền trước chánh điện tại Bồ Đề Đạo Tràng

    Figure 30: Tượng Phật trong Đại tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 32: Tượng Phật trong Đại tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng

    Figure 31: Tượng Quan Thế Âm trước Đại tháp
    Figure 33: Tượng Quan Thế Âm trước Đại tháp

    Figure 32: Kim Cương Tòa tại Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 34: Kim Cương Tòa tại Bồ Đề Đạo Tràng

    Cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (mặt phía tây của tháp) chỉ là một nhánh chiết từ cây Bồ Đề tại Tích Lan. Cây Bồ Đề tại Tích Lan có tên gọi là Sri Mahabodhi tree do con gái vua Asoka thưở xưa đem đến Tích Lan từ cành chiết bên phải của cây gốc. Cây Bồ ĐềKim Cương Tòa là 1 trong bảy thánh tích được đánh dấu theo 7 tuần lễ sau khi Đức Phật chứng đạo. Tuần lễ thứ nhất đánh dấu Đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát.

    Figure 33: Cây bồ đề tại Đề Đạo Tràng
    Figure 35: Cây bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng

    Tuần lễ thứ nhì, để tỏ lòng tri ân sâu xa đối với cây Bồ Đề đã che mưa và nắng cho Ngài suốt thời gian tọa thiền để thành đạt Đạo Quả, Ngài đứng cách một khoảng xa để chăm chú nhìn cây Bồ Đề trọn một tuần không nháy mắt.

    Figure 34: Nơi ghi dấu đức Phật đứng nhìn cây Bồ Đề
    Figure 36: Nơi ghi dấu Đức Phật đứng nhìn cây Bồ Đề

    Figure 35: Hình chụp chung nơi  đức Phật đứng nhìn cây Bồ Đề
    Figure 37: Hình chụp chung nơi Đức Phật đứng nhìn cây Bồ Đề

    Tuần lễ thứ ba, vì Đức Phật không rời nơi trú ngụ mà vẫn còn quanh quẩn ở cội Bồ Đề nên chư Thiên lúc bấy giờ còn nghi ngờ, không biết Ngài đã đắc quả Phật chưa. Đức Phật đọc được tư tưởng ấy, dùng oai lực thần thông tạo một “đường kinh hành quý báu” (ratana cankamana) và đi lên đi xuống thiền hành suốt trọn tuần.

    Figure 36: Nơi ghi dấu đức Phật đi kinh hành
    Figure 38: Nơi ghi dấu Đức Phật đi kinh hành

    Figure 37: Nơi đức Phật đi kinh hành
    Figure 39: Nơi Đức Phật đi kinh hành

    Trong tuần lễ thứ tư, Đức Phật ngự trong “bảo cung” (ratanaghara, trong ý nghĩa “cái phòng quý báu”) để nhận ra Lý Tương Quan Nhân Quả (Patthana), tâm và thân Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết và do đó phát ra một vầng hào quang sáu màu là: xanh dương (nila), vàng (pita), đỏ (lohita), trắng (odata), cam (manjettha) và thứ sáu là năm màu pha lẫn (pabhassara). Sau này cờ Phật giáo sử dụng các màu này.

    Figure 38: Nhà không mái nơi đức Phật ngự trong tuần lễ thứ tư
    Figure 40: Nhà không mái nơi Đức Phật ngự trong tuần lễ thứ tư

    Trong tuần thứ năm, Đức Phật ngồi dưới cội Ajapala trứ danh, chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (vimutti sukha). Vào cuối tuần, khi Ngài xuất ra khỏi trạng thái siêu thế ấy có một vị Bà-la-môn ngã mạn (huhumka jakita) đến gần chào hỏi theo lễ nghi rồi nói:

    - Tôn giả Gotama, cho đến khi nào là Bà la môn, và những pháp nào tác thành Bà la môn?

    Phật trả lời bằng một bài kệ đại ý nói rằng được gọi là Bà la môn thì vị đó loại trừ các ác pháp, không kiêu căng, nội tâm không nhơ bẩn ; khéo chế ngự cái Ta ; thông suốt kinh Vệ đà, sống có đầy đủ Phạm hạnh, nói đúng pháp ; bất cứ ở nơi nào cũng không có tâm kiêu mạn thì xứng đáng là Bà la môn.

    (Kinh Tiểu bộ (Udāna 3), trang 138-139)

    Nơi đây vua A Dục dựng lên một tháp. Tháp này đối diện Đại Tháp, cách cội Bồ đề khoảng 65 m

    Cũng dưới cội cây này, 2 tuần lễ sau đó, Đức Phật được Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu giảng pháp, sau khi Đức Phật không muốn đi giảng pháp mà Ngài vừa đạt được hoàn toàn chứng ngộ. Vì Đức Phật nhận thấy pháp mà Ngài chứng ngộ nó ngoài phạm vi lý luận.

    Figure 39: Nơi đức Phật trả lời thế nào là một vị Bà La Môn
    Figure 41: Nơi Đức Phật trả lời thế nào là một vị Bà La Môn

    Trong tuần thứ sáu, từ cây Ajapala Đức Phật sang qua hồ Mucalinda và ngự tại đây một tuần lễ để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến. Trời sẫm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày.

    Vào lúc ấy Mucalinda, mãng xà vương, từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật. Đến cuối ngày thứ bảy, thấy trời quang mây tạnh trở lại, Mucalinda tháo mình trở ra và bỏ hình rắn, hiện thành một thanh niên, chấp tay đứng trước mặt Đức Phật. Đức Phật đọc bài kệ như sau:

    “Đối với hạng người tri túc, đối với người đã nghe và đã thấy chân lý thì sống ẩn dậthạnh phúc. Trên thế gian, người có tâm lành, có thiện chí, người biết tự kiềm chế, thu thúc lục căn đối với tất cả chúng sanhhạnh phúc. Không luyến ái người, vượt lên khỏi dục vọnghạnh phúc. Phá tan được thành kiến ‘ngã chấp’ quả thậthạnh phúc tối thượng.”

    Figure 40: Nơi đức Phật gặp rắn thần Mucalinda
    Figure 42: Nơi Đức Phật gặp rắn thần Mucalinda

    Figure 41: Tượng đức Phật và rắn thần Mucalinda
    Figure 43: Tượng Đức Phật và rắn thần Mucalinda

    Vào tuần thứ bảy, Đức Phật bước sang cội cây Rajayatana. Nơi đây có ghi lại Bia Tháp : hai thương buôn người Burma (Miến điện) tên Tapussa và Bhallika trên đường đi về quê, họ đi ngang qua nơi Đức Phật đang ngồi và qui y với Phật.

    Đây là lần đầu tiên đánh dấu sự qui y Nhị Bảo cho hàng cư sĩ. Đó là qui y Phật và qui y Pháp. (Bhuddam Saranam Gacchhāmi, Dhammam Saranam Gachhāmi).

    Hai cư sĩ này cúng dường bánh có trộn mật ong cho Phật. Sau đó Phật tặng 2 cư sĩ này vài sợi tóc. Họ mang về Miến Điện.

    Hiện nay tại Miến Điện, chùa Shevadagon ở Ngưỡng Quang vẫn còn tôn thờ tóc này để chiêm bái

    Sau đó từ cội cây Rajāyatana, Đức Phật đến cội cây Ajapāla. Ngồi trên đá, Đức Phật chiêm nghiệm lại về Pháp mà Ngài đã chứng ngộ. Ngài không muốn đi giảng. Sau đó Phạm Thiên Sahampati xuất hiện, thỉnh cầu Phật.

    Figure 42: Nơi đức Phật gặp 2 thương buôn Miến Điện
    Figure 44: Nơi Đức Phật gặp 2 thương buôn Miến Điện

    Từ ngày 9 đến ngày 16 tháng 11 là thời gian lưu trú và tu tập tại Bồ Đề Đạo Tràng. Mỗi ngày đều đặn 3 thời Thiền lúc 5 giờ sáng, 9 giờ sáng và 3 giờ chiều; mỗi thời là 1 tiếng. Ngoài ra, các Thiền sinh có thể ngồi thiền thêm hay đi thăm các thánh tích tại đây tùy ý.

    Figure 43: Tọa Thiền trong Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 45: Tọa Thiền trong Bồ Đề Đạo Tràng

    Figure 44: Hình chụp chung trong Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 46: Hình chụp chung trong Bồ Đề Đạo Tràng

    Figure 45: Nhóm Nam Cali
    Figure 47: Nhóm Nam Cali

    Figure 46: Nhóm Houston
    Figure 48: Nhóm Houston

    Figure 47: Hình chụp chung trong Bồ Đề Đạo Tràng
    Figure 49: Hình chụp chung trong Bồ Đề Đạo Tràng

    Ngày 11 tháng 11, Ni Sư làm lễ xuất gia đoản kỳ cho 3 thiền sinh và lễ quy y cho 11 thiền sinh tại vườn thiền trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo Tràng.

    Figure 48: Lễ quy y cho các thiền sinh tại Vườn Thiền
    Figure 50: Lễ quy y cho các thiền sinh tại Vườn Thiền

    Figure 49: Lễ quy y và xuất gia đoản kỳ cho các thiền sinh tại Vườn Thiền
    Figure 51: Lễ quy yxuất gia đoản kỳ cho các thiền sinh tại Vườn Thiền

    Figure 50: Hình lưu niệm tại Vườn Thiền
    Figure 52: Hình lưu niệm tại Vườn Thiền

    Ngày 13 tháng 11, đoàn hành hương viếng thăm Khổ Hạnh Lâm, nơi Đức Phật tu 6 năm khổ hạnh sau đó thăm làng Sujata, chiêm báinhiễu tháp Sujata – nơi mà Đức Phật sau khi rời Khổ Hạnh Lâm, Ngài kiệt sức và được cô Sujata dâng bát cháo sữa. Thăm viếng gò đá gạch nơi cư ngụ của cô Sujata.

    Figure 51: Tượng Phật trong thời tu khổ hạnh
    Figure 53: Tượng Phật trong lúc tu khổ hạnh

    Figure 52: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm
    Figure 54: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm

    Figure 53: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm
    Figure 55: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm

    Figure 54: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm
    Figure 56: Hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm

    Figure 55: Hình lưu niệm tại nơi Cô Sujata dâng bát sữa
    Figure 57: Hình lưu niệm tại nơi Cô Sujata dâng bát sữa

    Ngày 14 tháng 11, đoàn hành hương viếng thăm núi Linh Thứu. Linh Thứu Sơn (Gridhrakuta) là một ngọn đồi nhỏ (cao chừng 80 mét) trong nhiều ngọn đồi tại vùng này. Đức Phật ở tại nhiều nơi trong thành Vương xá (trong khoảng 12 năm) nhưng Ngài lưu trú nhiều nhất tại Linh Thứu và giảng nhiều kinh tại đây. Gần đỉnh của Linh Thứu có nhiều hang đá mà khi xưa các đại đệ tử của Phật gồm Ngài Đại Ca Diếp, Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Ananda lưu trú và thiền định. Cáp treo đi lên ngọn Bảo Sơn (sát với ngọn linh Thứu) có ngôi chùa do người Nhật xây. Trên đường về từ Linh Thứu sơn, chúng tôi ghé thăm nhà tù đã giam vua Bimbisara và nền đá di tích bệnh viện của Jivaka (ngự y của vua Bimbisara). Trên đường trở về, đoàn hành hương ghé thăm suối nước nóng mà Đức Phậtnói nhiều lần về suối này trong khi thuyết pháp. Có lẽ thỉnh thoảng Đức Phật cũng có đến tắm tại suối này. Xưa kia có một ngôi chùa gọi là Tapodàràma gần suối này. Nay không còn nữa mà chỉ thấy toàn là đền thờ Ấn giáo, được lập ngay trên các vòi nước và hồ tắm. Nước nóng chảy từ trong núi ra được chuyển thành nhiều vòi để cung cấp cho nhiều hồ tắm. Một hồ nước khá nóng để cho những người tắm có thể ngâm mình lâu hơn. Thường nguời Ấn hay dựng lên các ngôi đền Ấn giáo gần các thánh tích của Phật giáo cũng như suối nước này nhắm lôi cuốn lòng tin của nhiều người.

    Figure 56: Đỉnh núi Linh Thứu
    Figure 58: Đỉnh núi Linh Thứu

    Figure 57: Mỏm đá có hình mỏ chim kên kên
    Figure 59: Mỏm đá có hình mỏ chim kên kên

    Figure 58: Trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 60: Trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 59: Tụng Kinh Bát Nhã trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 61: Tụng Kinh Bát Nhã trên đỉnh Linh Thứu

    Figure 60:Tọa Thiền trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 62: Tọa Thiền trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 61: Hình lưu niệm trên đỉnh Linh Thứu
    Figure 63: Hình lưu niệm trên đỉnh Linh Thứu

    Figure 62: Hồ nước nóng gần nơi đức Phật tắm khi xưa
    Figure 64: Hồ nước nóng gần nơi Đức Phật tắm khi xưa

    Ngày 15 tháng 11, đoàn hành hương viếng thăm đại học Nalanda. Nalanda là tên của một trường đại học xưa cổ tại tiểu bang Bihar, India. Nalanda nằm cách thủ phủ Patna của Bihar 55 dặm về phía đông nam, là trung tâm giáo dục của Phật giáo vào năm 427 đến 1197 sau công nguyên. Nó được coi là đại học lớn đầu tiên trong lịch sử. Năm 1193 Nalanda bị phá hủy bởi đoàn quân Thổ Nhĩ Kỳ do tướng Bakhtiya Khilji cầm đầu. Các học giả coi đây là thời điểm mốc đánh dấu chính thức sự suy tàn của đạo Phật tại Ấn Độ. Sử gia BaTư Minhaj trong tài liệu the Tabaquat-l-Nasiri mô tả rằng có đến hằng ngàn tu sĩ Phật giáo đã bị thiêu sống và hàng ngàn người khác bị chặt đầu, khi Khilji nổ lực nhổ tận gốc Phật giáo để ươm trồng Đạo Hồi giáo (Islam) tại đây bằng sức mạnh thanh kiếm! Các thư viện kinh sách đã cháy trong nhiều tháng. Khói đã làm tối đen các ngọn đồi thấp chung quanh Nalanda.

    Vào cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ Alexandar Cunningham tìm ra dấu tích Nalanda tại ngôi làng Baragaon. Các cuộc khai quật sau đó được các nhà khảo cổ Ấn Độ tiến hành vào đầu thế kỷ 20 khoảng 1915-1937 và gần đây nhất là giữa những năm 1974-1982. Bây giờ tất cả còn lại chỉ là một nền gạch và các mảng tường phế tích.

    Cũng trong ngày này, đoàn được đưa đi thăm viếng các chùa lân cận với Bồ Đề Đạo Tràng gồm chùa Việt Nam Phật Quốc Tự, chùa Miến Điện, Nhật Bản và Thái Lan.

    Figure 63: Cổng vào Nalanda
    Figure 65: Cổng vào Nalanda

    Figure 64: Nền gạch của Đại học Nalanda khi xưa
    Figure 66: Nền gạch của Đại học Nalanda khi xưa

    Figure 65: Tường đá của Đại học Nalanda khi xưa
    Figure 67: Tường đá của Đại học Nalanda khi xưa

    Figure 66: Hình lưu niệm tại chùa Tây Tạng
    Figure 68: Hình lưu niệm tại chùa Tây Tạng

    Figure 67: Tượng Phật của chùa Nhật bản
    Figure 69: Tượng Phật ở chùa Nhật bản

    Figure 68: Tượng 10 đại đệ tử của đức Phật
    Figure 70: Tượng 10 đại đệ tử của Đức Phật

    Figure 69: Cửa tam quan của Việt Nam Phật Quốc Tự
    Figure 71: Cổng tam quan của Việt Nam Phật Quốc Tự

    Figure 70: Hình lưu niệm trước Việt Nam Phật Quốc Tự
    Figure 72: Hình lưu niệm trước Việt Nam Phật Quốc Tự

    Figure 71:Hình lưu niệm trước Việt Nam Phật Quốc Tự
    Figure 73: Hình lưu niệm trước Việt Nam Phật Quốc Tự

    Ngày 17 tháng 11, đoàn hành hương đi phát chẫn cho 250 gia đình nghèo tại làng của người hướng dẫn hành hương.

    Figure 72: Mền để phát chẫn
    Figure 74: Mền để phát chẫn

    Figure 73:  Phát chẫn mến và bột nếp cho người địa phương
    Figure 75: Phát chẫn mền và bột nếp cho người địa phương

    Sau đó, đoàn đi viếng thăm tu viện Tergar của người Tây Tạng. Nơi đây đoàn hành hươngthiện duyên sáp nhập với đoàn Phật tử hành hương do Thầy Pháp Hòa hướng dẫn đến cúng dường, tiếp kiến và bắt tay Ngài Karmapa thứ 17 (Đại Bảo Pháp Vương) của giòng thiền Karma Kagyu.

    Figure 74: Đoàn Phật tử Việt Nam dâng lễ cúng dường
    Figure 76: Đoàn Phật tử Việt Nam dâng lễ cúng dường

    Figure 75: Ngài Karmapa thăm hỏi Tăng Ni
    Figure 77: Ngài Karmapa thăm hỏi Tăng Ni
    Figure 76: Ngài Karmapa bắt tay từng người
    Figure 78: Ngài Karmapa bắt tay từng người

    Figure 77: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar
    Figure 79: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar

    Figure 78: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar với Thầy Pháp Hòa
    Figure 80: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar với Thầy Pháp Hòa

    Figure 79: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar với Thầy Pháp Hòa
    Figure 81: Hình lưu niệm tại tu viện Tergar với Thầy Pháp Hòa

    Cuối ngày, Ni Sư phát quà lưu niệm cho tất cả các Thiền sinh và tạo duyên để mỗi Thiền sinh tự phát biểu cảm nghĩ cũng như kết quả tu tập trong suốt 17 ngày qua.

    Figure 80: Quà lưu niệm do Ni Sư ban tặng
    Figure 82: Quà lưu niệm do Ni Sư ban tặng

    Figure 81: Ni Sư đúc kết về chuyến hành hương sau 17 ngày
    Figure 83: Ni Sư đúc kết về chuyến hành hương sau 17 ngày

    Ngày 18 tháng 11, đoàn hành hương thăm viếng Lộc Uyển nơi Đức Phật chuyển bánh xe pháp; nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 anh em Kiều Trần Như. Sarnath ở bên cạnh và chỉ cách Varanasi 12 km về phía đông bắc. Hai ngàn năm trăm năm trước, nơi đây là một rừng cây xanh tươi, phong cảnh rất đẹp, có rất nhiều nai. Trong kinh Pali, Sarnath được gọi là Migadaya (Vườn Nai, Lộc Uyển) và là nơi có rất nhiều đạo sĩ (pali: isi) nổi tiếng nên Sarnath còn được gọi là Isipatana (nơi chư thiên rơi xuống, chư thiên đọa xứ).

    Vườn nai tại Lộc Uyển
    Figure 84: Vườn nai tại Lộc Uyển
    Figure 82: Lộc Uyển - Nơi Phật chuyển pháp luân
    Figure 85: Lộc Uyển - Nơi Phật chuyển pháp luân

    Figure 83: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển
    Figure 86: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển

    Figure 84: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển
    Figure 87: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển

    Figure 85: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển
    Figure 88: Hình lưu niệm tại Lộc Uyển

    Ngày 19 tháng 11, đoàn đi đến Ba la nại (Varanasi). Ba La Nại "thành phố vĩnh cửu" là một trong những thành phố lớn của tiểu bang Uttar Pradesh thuộc miền trung bắc Ấn Độ với số dân hơn một triệu người. Thành phố này cũng nổi tiếng vì nền văn minh tâm linh của vùng này hơn 2500 năm qua.  Với người dân Ấn thì đây là một nơi lý tưởng cho sự ra đi vào lúc cuối cuộc đời, họ tin nơi này là cửa ngỏ duy nhất để được thác sinh lên cõi trời.

    Sông Hằng đẹp nhất vào lúc bình minh. Chúng tôi ngắm bình minh trên sông Hằng vào lúc rạng sáng. Trời tháng 11 có nhiều sương mù và hơi lạnh. Vào giờ này cũng đã có rất nhiều du khách ra ngắm mặt trời vừa ló dạng trên sông. Các xuồng lần lượt rời cổng trạm chạy dọc theo bờ. Chỉ riêng đoạn sông này có đến mấy cổng trạm. Hôm nay chỉ nhìn thấy một chỗ có thiêu xác, lửa bập bùng và khói tỏa ra trắng xóa một góc sông. Rời Ba La Nại, đoàn hành hương đến sân bay để bay trở về Delhi.

    Figure 86: Ba La Nại - Thành phố vĩnh cửu của người Ấn độ
    Figure 89: Ba La Nại - Thành phố vĩnh cửu của người Ấn độ

    Figure 87: Đi xuồng trên sông Hằng
    Figure 90: Đi xuồng trên sông Hằng

    Figure 88: Đi xuồng trên sông Hằng lúc bình minh
    Figure 91: Đi xuồng trên sông Hằng lúc bình minh

    Figure 89: Một nơi thiêu xác trên bờ sông Hằng
    Figure 92: Một nơi thiêu xác trên bờ sông Hằng

    Figure 90: Bình minh trên sông Hằng
    Figure 93: Bình minh trên sông Hằng

    Sáng ngày 20 tháng 11, đoàn hành hương đi tham quan lăng mộ của Thánh Gandhi trước khi rời Ấn độkết thúc chuyến hành hương gồm 20 ngày.

    Figure 91: Lăng mộ của Thánh Gandhi
    Figure 94: Lăng mộ của Thánh Gandhi

    Figure 92: Hình lưu niệm nơi lăng mộ của Thánh Gandhi
    Figure 95: Hình lưu niệm nơi lăng mộ của Thánh Gandhi

    Đối với đạo Phật, hành hương giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Phật tử, nó nuôi dưỡng niềm tin mãnh liệt của người Phật tử với Tam Bảo. Ý tưởng một chuyến hành hương về xứ Phật cũng xuất phát do chính Đức Phật nói ra trong kinh Đại Bát Niết Bàn, khuyên răn những đệ tử thành kính nên một lần thăm viếng bốn nơi quan trọng nhất liên quan đến cuộc đời Ngài. Hành hương xứ Phật cũng là dịp để chúng ta tìm hiểuchiêm nghiệm sâu hơn về cuộc đời Đức Phật và những giá trị cao cả Ngài để lại. Thiền sinh cũng nhận rõ giá trị Phật pháp đối với thân, tâm, và trí tuệ tâm linh, qua sự tự lực thực hành theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca.

    Figure 93: Hành trình hành hương năm 2016
    Figure 96: Hành trình hành hương năm 2016
    Reader's Comment
    Monday, January 9, 20177:28 AM
    Guest
    Cảm ơn Sư Huynh Tuệ Chiếu đã tốn nhiều công sức viết bài tường trình chuyến Hành Hương về Xứ Phật lần thứ bảy nầy thật đầy đủ nhưng rất chi tiết . Thật lợi lạc cho mọi người con Phật . Tri ân Sư Huynh nhiều .
    Send comment
    Off
    Telex
    VNI
    Your Name
    Your email address
    Wednesday, February 24, 20214:41 PM(View: 417)
    Xâu chuỗi bồ đề A la hán đạo có 16 hột bồ đề. Còn cái sợi chỉ màu đỏ xuyên suốt con đường đi, mình có thể xem như là cái gì? Chúng ta thử đối chiếu lại với xâu chuỗi bồ đề của Đức Phật, có điểm nào giống và điểm nào khác?
    Wednesday, February 24, 20213:54 PM(View: 133)
    Thân này luôn chuyển động Tế bào sanh diệt từng giây Có sanh ắt lão bệnh tử Không sao thoát khỏi vòng quay
    Sunday, February 21, 20219:45 AM(View: 101)
    Lý tưởng Thiền để thoát khỏi trần lao, Trong sáu cõi ta không còn ra vào lục đạo, Là phải dứt nhân luân hồi sinh tử, Vốn được xây trên bốn tiềm năng lậu hoặc
    Wednesday, February 17, 20217:03 PM(View: 889)
    ... những giai đoạn lần lượt tiến tới giác ngộ tối thượng của Đức Phật Thích Ca mà kinh điển còn ghi lại. Cô đã tạm kết nối lại thành một xâu chuỗi, đặt tên là xâu chuỗi Bồ Đề Có một câu hỏi đặt ra cho mình: Còn sợi chỉ đỏ, xuyên suốt 15 hột bồ đề là cái gì?
    Wednesday, February 17, 20211:09 PM(View: 269)
    Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc, không quán thọ ... không quán tưởng ... không quán hành ... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỳ kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
    Monday, February 15, 20214:22 PM(View: 147)
    Ở trong cái Bị Sanh Lại tìm cái Bị Sanh Ở trong đời rối ren Lại tìm cái lăng xăng Vậy thì làm sao vui?
    Monday, February 15, 20214:12 PM(View: 192)
    Trên tánh giác thiền gia, Cái đang là xuất hiện. Ngã kiến biến dạng mất, Như thật tri rõ ràng, Tánh giác thường rõ sáng, Chấm dứt kiếp lang thang.
    Wednesday, February 10, 20216:59 PM(View: 513)
    Con đường tu của mình chỉ là làm sao giữ được tâm bất động trong thế gian luôn luôn biến động này. Thì mùa xuân mới trọn vẹn là mùa xuân. Thì mùa nào cũng là mùa xuân. Thì mỗi người mới có một đóa hoa tâm cúng dường lên Tam Bảo.
    Wednesday, February 10, 20214:58 PM(View: 262)
    Đề tài "Năm mới, Làm mới đời sống" đối với quý vị thiền sinh, thực ra chỉ là một đề tài nhắc nhở chúng ta dừng tâm lại, đừng phóng tâm ra ngoài, tức không suy nghĩ lung tung, bởi vì sự suy nghĩ lung tung này khiến cho sóng tâm không lúc nào được tĩnh lặng
    Wednesday, February 10, 20214:45 PM(View: 279)
    Xưa thiền bí truyền, nay thiền đại chúng. Xưa thiền chuyên tu, nay thiền mọi cảnh. Xưa thiền lìa thế, nay thiền nhập thế.
    Wednesday, February 10, 20212:56 PM(View: 215)
    Sunday, February 7, 20219:27 AM(View: 167)
    Ai lão thông như thật kiến, Hiện đời dứt oan khiên, Cửa Vô tướng tiến gần, Thân tâm đầy sức sống. Bi, Trí đồng thể hiện, Phật tri kiến không xa
    Friday, February 5, 202111:30 AM(View: 228)
    Đạo Phật là đạo trí tuệ Phật bảo: đến đây để thấy, Để nghe, để hiểu, để hành, Để chính tự mình chứng nghiệm.
    Friday, February 5, 202110:16 AM(View: 274)
    Não bộ là một cơ chế vật chất nằm trong hộp sọ, gồm có nhiều tỉ tế bào thần kinh (Neuron). Nhưng nó quan trọng là chỗ gá nương của cái TÂM.
    Tuesday, February 2, 20219:24 AM(View: 320)
    Phật pháp luôn có hai mặt: Tục Đế và Chân Đế. Tục Đế là những gì nói, lý giải, hiểu được, gọi là chân lý qui ước như văn tự, ngôn ngữ, sắc tướng, âm thanh…
    Sunday, January 31, 20215:32 PM(View: 243)
    Thấy sắc, tâm dính sắc, Nghe tiếng, tâm kẹt tiếng, Thì muôn vạn não phiền, Cứ luân phiên khởi dậy,
    Wednesday, January 27, 20215:39 PM(View: 740)
    Thiền sư Bankei (người Nhật) với tâm từ bi và trí tuệ, đã chuyển hóa được tâm của người đệ tử. Như vậy, khi mình chưa chuyển hóa được chính mình, là vì mình chưa đủ trí tuệ, vì thế mình chưa chuyển hóa được người khác, cũng vì mình chưa đủ trí tuệ và từ bi.
    Monday, January 25, 20218:22 PM(View: 325)
    Ngoài suy nghĩ, ngoài tất cả lời, Thường chiếu diệu khắp nơi. Như mặt trời buổi sáng, Xua tan bóng đêm dài ảm đạm của vô minh.
    Saturday, January 23, 20214:39 PM(View: 282)
    Đau khởi lên ta biết, Bị cười chê cũng biết. Làm chủ được cảm thọ, Không thọ, không khát ái, ....
    Friday, January 22, 20218:41 PM(View: 303)
    Kính Bạch Thầy, Con ghi lại mấy dòng nầy để kính tạ ơn Thầy đã nhổ đinh tháo chốt cho con khỏi bị vướng kẹt bao nhiêu năm. Đồng thời để chia sẻ kinh nghiệm cùng các bạn thiền sinh cũng bị kẹt như con, biết tự nhổ đinh tháo chốt mà vượt qua. Con, Không Chiếu
    Wednesday, January 20, 20217:24 PM(View: 768)
    Chúng ta cũng nên suy gẫm truyện này, xem như một câu “công án” cho mình. Khi nào mình “nghe” được rõ ràng “vô tình thuyết pháp”, xem như khi đó mình đã “thấy” Đức Phật Thích Ca đang cầm cành hoa giơ lên trước hội chúng, trong đó có mình.
    Wednesday, January 20, 20215:52 PM(View: 631)
    TỔNG KẾT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU GIỮA ĐẠI HỌC TÜBINGEN (GERMANY) VÀ HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG (USA) TỪ 2007 ĐẾN 2013 VỀ ĐỀ TÀI “ TƯƠNG QUAN THỰC NGHIỆM GIỮA THIỀN VÀ CÁC ĐỊNH KHU NÃO BỘ
    Wednesday, January 20, 202111:06 AM(View: 411)
    Nói về Tâm, thế gian thường cụ thể hoá nó bằng những suy tư nghĩ tưởng và những trạng thái vui buồn. Xin tạm phân tích như sau: ...
    Friday, January 15, 20216:00 PM(View: 322)
    Vui buồn cũng qua đi Tâm không lo nghĩ gì Quá khứ là dĩ vãng Tương lai mộng mơ chi
    Friday, January 15, 202111:29 AM(View: 248)
    Ai lão thông như thật kiến, Hiện đời dứt oan khiên, Cửa Vô tướng tiến gần, Thân tâm đầy sức sống. Bi, Trí đồng thể hiện, Phật tri kiến không xa. Tathatā thường trong ta, Muốn Về Nhà do nơi ta
    Wednesday, January 13, 20211:24 PM(View: 786)
    Khi qua tới bờ kia rồi, cũng phải buông chiếc thuyền Bát nhã, mới bước vô nhà - ngôi nhà xưa của mình. Khi xưa Thầy dạy: vào nhà rồi, phải mở toang các cửa, phải bước ra ngoài trời, thấy người khác còn loay hoay tìm bè, mình phải chèo thuyền trở qua rước người hữu duyên vượt biển.
    Tuesday, January 12, 20216:30 PM(View: 641)
    Ba Bước Tu Thiền của Tôi: 1. Thấy Niệm - 2. Dừng Niệm - 3. Làm Chủ Niệm
    Monday, January 11, 20211:49 PM(View: 436)
    Từ độ ấy, em trăng tròn đôi tám, Xếp bút nghiên bám chặt việc đao binh. Em lên đường, nhập ngũ tùng chinh, Ra chiến địa, quyết kình chống quân xâm lược.
    Monday, December 28, 202012:38 PM(View: 680)
    Ni Sư Triệt Như - Slide show hình ảnh Thầy.
    Monday, December 28, 20208:31 AM(View: 803)
    Chúng con nguyện dấn bước đi tiếp con đường mà chư Phật đã đi, chư Tổ cũng đã đi, và Thầy đã để ra biết bao công sức, cầm tay chúng con mà dắt đi từng bước chập chững vào con đường Thiền này.
    Sunday, December 27, 20207:07 PM(View: 744)
    Cuối cùng, cái gì đẹp nhất trần đời? Phật, chư Phật, tánh Giác Ngộ đep nhất trần đời. Chánh pháp (những chân lý của cuộc đời mà Phật dạy), chư Pháp (tất cả hiện tượng thế gian) đều thể hiện chánh pháp, nên đều là đẹp nhất trần đời. Tăng, Bản thể Hài hòa tuyệt đối, đẹp nhất trần đời. Và cái Thấy Biết những điều này, cũng đẹp nhất trần đời.
    Saturday, December 26, 20203:52 PM(View: 420)
    Lý tưởng của lối về An lạc khắp toàn gia. Hòa thuận trên với dưới, Đang là chớ lìa xa.
    Thursday, December 24, 20207:06 PM(View: 651)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng đề tài THẾ GIỚI TƯƠNG ĐỐI tại Đạo Tràng Nam Cali ngày 12 tháng 12, 2020. qua ứng dụng Zoom (Thu hình từ Sacramento)
    Thursday, December 24, 20207:00 PM(View: 515)
    Nhớ Thầy, chúng con nhớ đến hoài bảo phục vụ nhân sinh qua pháp môn Thiền của Thầy.
    Thursday, December 24, 20207:14 AM(View: 898)
    Hôm nay, nhắc lại kho tàng trí tuệ của Thầy đã ân cần trao truyền cho chúng ta suốt 25 năm làm việc không ngừng nghỉ của Thầy, để nói lên một câu cuối cùng với Thầy: “Công ơn của Thầy đối với chúng con thật bao la như trời biển”.
    Wednesday, December 23, 202012:37 PM(View: 720)
    Kết luận, chúng ta luôn luôn quay về học tập chính những bài kinh do Đức Phật giảng còn ghi lại. Xưa nhất, kho tàng Phật giáo là kinh Nikàya, chúng ta phải nhận ra chân ý của Đức Phật gởi gắm trong kho tàng này, rồi mình thực hành theo để có thể khai mở từ từ kho tàng của chính mình.
    Friday, December 18, 20207:45 PM(View: 505)
    An lạc trong tâm hồn, Không thể đến bằng ngữ ngôn cầu nguyện. Mà đến bằng sự chuyển hóa nội tâm, Thông qua Tri kiến Phật,
    Wednesday, December 16, 202012:49 PM(View: 1374)
    Khi thấy tâm đang trống rỗng, trong sáng, có nghĩa là cái nhận thức sắc bén đang soi chiếu tâm, quay ra cảnh thì cũng là thấy cảnh “đang là như vậy”. Chính trong giây phút đó, là giải thoát.
    Wednesday, December 9, 20208:59 PM(View: 597)
    Tọa thiền trong vô sanh, Kinh hành trong vô ngôn; Tứ, tầm ta đoạn tuyệt, Niết bàn không còn xa.
    Wednesday, December 9, 202010:31 AM(View: 1199)
    ... thế gian này xuất hiện trước mắt chúng ta ra sao tùy theo cái “thấy” của mỗi người. Còn vị Thiền sư nói sao cũng đúng vì đã thông suốt mọi khía cạnh của pháp.
    Wednesday, December 9, 202010:20 AM(View: 687)
    Người dụng công tu thiền định đòi hỏi vị ấy trí năng phải tỉnh ngộ. Mức độ tỉnh ngộ càng sâu bao nhiêu thì đường dụng công tu tập của vị ấy càng sẽ mau đến đích.
    Tuesday, December 8, 20208:17 AM(View: 3453)
    Chủ đề 1./ KHÁI QUÁT VỀ THIỀN: Chủ đề 2./ GIỚI THIỆU ĐƯỜNG LỐI HƯỚNG DẪN THIỀN TÁNH KHÔNG Chủ đề 3./ ĐIỀN KIỆN THỰC HÀNH THIỀN CÓ KẾT QUẢ:
    Friday, December 4, 20201:32 PM(View: 522)
    Im lặng là bản nhạc, Không lời ca tiếng hát. Làm thay đổi tâm hồn Những con tim đen tối. Mở rộng những lối về, Xa cách những bến mê, Trở về ngay bến giác.
    Wednesday, December 2, 20209:24 PM(View: 925)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng đề tài ĐIỀU PHỤC TÂM tại Đạo Tràng Sacramento và San Jose ngày 22 tháng 11, 2020. qua ứng dụng Zoom (Thu hình từ Sacramento)
    Tuesday, December 1, 20201:33 PM(View: 1637)
    Hôm nay cô nhắc lại hai kinh nghiệm nhỏ chia sẻ với các em, như là một món quà nhỏ trên bước đường tu học của mình. “Kho báu” của cô cũng chỉ có những bông hoa dại, hoa rừng, nhỏ xíu, không hương không sắc, không tên tuổi, như vậy thôi.
    Friday, November 27, 202010:09 PM(View: 736)
    Bảy năm trời tu pháp, "Biết vọng, ta không theo." Nhưng vọng vẫn lẽo đẽo, Theo con vượt núi, đèo, Đến miền Bắc cheo leo, Núi non trùng trùng điệp,
    Wednesday, November 25, 20207:40 AM(View: 1607)
    Làm sao tới bờ? Đó là “bí kiếp” của cô: “thả nổi” trên biển đời.
    Tuesday, November 24, 202012:30 PM(View: 1072)
    Mong sao, dù cho "Trường An náo loạn", mình còn xuôi ngược trong dòng náo loạn hoài, nhưng Đức Phật đã cho mấy cái mái chèo “Giới- Quán- Định- Huệ”, mình sẽ có ngày bơi về tới "Nước con an ổn".
    Friday, November 20, 20202:21 PM(View: 635)
    "Cửa không": cửa không cửa, Đường vào, chẳng lối đi, Tìm cửa nào thấy gì, Tâm không: bặt suy nghĩ.
    Wednesday, November 18, 20203:59 PM(View: 1514)
    Năm nay, cô sẽ trồng hoa, thật nhiều loại hoa trong vườn Tổ Đình của mình. Mùa xuân sẽ có hoa xuân, đào trắng, đào hồng, mùa hạ sẽ có hoa phượng vỹ, trúc đào, có trái ngọt, mùa thu sẽ có lá vàng, trời xanh, mây trắng, ...
    Wednesday, November 18, 20203:53 PM(View: 752)
    Trong thời gian qua có đôi lần, thiền sinh yêu cầu chúng tôi giải thích cụm từ “Tam Tự Quy Y Là Gì? ”. Nay thuận duyên chúng tôi gửi đến các bạn bài viết về đề tài quy y nầy. Muốn hiểu ý nghĩa của “Tam Tự Quy Y ” trước hết chúng ta cần biết rõ “Tam Quy Y ” là gì?
    Thursday, November 12, 20209:00 AM(View: 597)
    Kẻ hạ căn thì lắm lời chơn, ngụy, Cứ biện phân theo quán tính tư duy: Thích suy nghĩ mà đòi làm người vô sự, Thích lang thang mà nói mình không trụ xứ
    Wednesday, November 11, 20201:31 PM(View: 1384)
    Bài nầy cô muốn nhắc nhở chúng ta, phải thấy vấn đề sinh tử của mình như “lửa cháy ngang mày”, mau mau tinh tấn hơn nữa. Đừng có chọn con đường: “còn sống mà như đã chết”.
    Wednesday, November 11, 20201:30 PM(View: 957)
    “Trong mơ xin mớ vài câu,- Dế kêu chí cách rồng gầm sợi tơ....- Dế kêu mà tưởng rồng gầm? - Người nghe biết dế, không nghe biết rồng.
    Friday, November 6, 20209:13 AM(View: 649)
    Trong chánh niệm, ta hằng biết, không ngôn ngữ, Chẳng tư duy mà biết rất rõ ràng.
    Wednesday, November 4, 20202:58 PM(View: 1401)
    Cuộc đời kỳ diệu như vậy, thiên nhiên tươi đẹp như vậy, muôn trùng màu sắc, biến hóa huyễn ảo. Vậy mà cả đời rồi không nhận ra. Sống giữa ban ngày, mà không nhìn thấy gì. Bây giờ cuối đời mới biết mình đã sống “một đời mộng du”.
    Wednesday, November 4, 20202:50 PM(View: 616)
    Trong giấc ngủ bình an, Đại đức không còn nhớ gì ngoại trừ câu nói ấm áp của Đức Phật: "Thời gian không chờ đợi ai, hãy tinh tấn lên thầy Ananda.".
    Sunday, November 1, 202010:14 AM(View: 773)
    Nhưng lý đạo thì không màng già, trẻ. Đạt Vô Sanh nào có trẻ, có già?
    Thursday, October 29, 20208:18 PM(View: 902)
    Bài kinh “Thừa Tự Pháp” phác họa cho thấy hình ảnh của người xuất gia chân chánh phải là người “thừa tự Pháp” chứ “không thừa tự tài vật”.
    Tuesday, October 27, 20203:28 PM(View: 1388)
    Trên đây cô mới nhìn lại quãng đường chúng ta đã đi trong năm nay. Tất cả các đạo tràng đều hoạt động tốt. Theo nề nếp xưa nay. Cô biết các đạo tràng đều tiếp tục sinh hoạt đều đặn, “online”, hay qua điện thoại thăm hỏi lẫn nhau. tới lúc này có lẽ các em cũng quen với cuộc sống mới phải thích ứng với hoàn cảnh hiện tại.
    Tuesday, October 27, 202010:34 AM(View: 838)
    Chú ý mà không lời, Nhìn, ngó, biết khắp nơi. Trong đó không người biết, Chỉ có biết không lời, Tánh biết lộ khắp nơi.
    Monday, October 26, 20208:44 PM(View: 1049)
    Định có tầm không tứ chúng ta phải dùng niệm nói thầm hai từ Không Nói để chúng ta cắt đứt được sự đối thoại thầm lặng trong não chúng ta.
    Sunday, October 25, 20209:50 AM(View: 723)
    Ý, lời nhập thể không, Tứ, tầm không khởi động. Tâm ngôn không còn bóng, Nhị Thiền, ta thành công! Vọng tưởng hết khởi dậy, “Nhà Xưa” ta liền thấy! Tánh Giác hiện tròn đầy. Trời xanh không áng mây!
    Wednesday, October 21, 20208:41 AM(View: 1715)
    Tất cả những giọt mồ hôi âm thầm đó như một nguồn năng lượng thúc giục mình phải bước tới, đem khả năng của mình ra góp vào dòng sống chung của cuộc đời.
    Sunday, October 18, 20203:00 PM(View: 906)
    Ở đâu có vô thường, Ở đó có tâm nhiễu nhương xuất hiện, Vì tự ngã có mặt, Dính mắc việc thị phi, Chấp trước việc thường hằng, Sắc, tâm luôn dính mắc.
    Sunday, October 18, 20202:49 PM(View: 986)
    Dùng sắc thấy Như Lai, Dùng âm thanh cầu Như Lai, Là thấy Phật trên bàn thờ, Chớ chẳng phải thấy Như Lai.
    Monday, October 12, 20206:20 PM(View: 1398)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Chiến Đấu Với Vọng Tưởng ngày 10 tháng 10, 2020 qua ứng dụng Zoom.
    Saturday, October 10, 20208:40 PM(View: 880)
    Ở đâu có vô thường, Ở đó tâm nhiễu nhương...
    Wednesday, October 7, 20205:16 PM(View: 1794)
    Thử xem mình có nghe được tiếng con rồng gầm trong khúc gỗ khô, hay chỉ là tiếng con dế kêu rỉ rả?
    Sunday, October 4, 20204:08 PM(View: 1332)
    1. Thường Chiếu: 00:00 - 2. Viên Chiếu: 10:27 - 3. Huệ Chiếu: 15:31 - 4. Thiến Thất Chân Nguyên: 19:09 5. Chân Không: 20:16 6. Lễ giỗ cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa: 1:02:54 - 7. Trúc Lâm: 1:16:04 - 8. Đại hồng chung mới của Thường Chiếu: 1:33:17 -
    Saturday, October 3, 20208:03 PM(View: 1054)
    Luân hồi, sinh tử thà ôm chịu, Chân không Diệu hữu đành lìa xa. Nhưng nay tỉnh ngộ; không lười mỏi, Noi dấu Phật chân quyết Về Nhà.
    Saturday, October 3, 202012:27 PM(View: 1107)
    Ta đã hết rồi chuyện thế gian, Tâm ta thanh thản như mây ngàn, Đâu còn chi nữa mà đem nói, Ý bặt, lời không, óc rổng rang.
    Thursday, October 1, 20204:39 PM(View: 1063)
    Thầy THÍCH KHÔNG CHIẾU giảng: THIỀN TRONG THỜI MỚI: Tu Không Thấy Người Tu tại Đạo Tràng Houston ngày 27 tháng 9, 2020 qua ứng dụng Zoom.
    Tuesday, September 29, 20204:42 PM(View: 2017)
    Nghi thức tụng niệm có ích khi mình nhận ra trạng thái tâm của mình lúc đó đang “ly dục, ly pháp bất thiện”. Tâm đang trong sạch. Nhưng chưa thực sự trống không, vì tâm có một chỗ để duyên theo, là kinh sách, là kệ tụng v.v... cho nên phương thức này là bước đầu hỗ trợ mình, có thêm tuệ trí, hiểu biết kinh điển thêm.- Tâm thực sự trống không khi mình đi vào cái Biết không lời vững chắc, nghĩa là ngay cả không còn chủ đề dụng công.
    Monday, September 28, 20209:24 PM(View: 1101)
    Đời tu thật sống động, Đó đây ta thong dong. Thường sống trong CHÂN TÁNH, Phật gọi cái "VÔ SANH."
    1,260,259