Saṃsāra Vòng Xoáy Luân Hồi Một Ẩn DụThâm SâuVi Diệu để Hiểu Thấu Đáo về Duyên Khởi
Tuệ Huy – Tô Đăng Khoa
Dẩn Nhập
Trong giáo lý của Đức Phật về duyên khởi (Paticca-samuppāda), vòng luân hồi của sinh tử, gọi là samsara, được mô tả như một quá trình được duy trì sự tồn tại của chính nó bởi các lực tương duyên và đối nghịch. Samsara nghĩa đen là vòng nước xoáy được sử dụng để nói đến tiến trình sanh tử luân hồivô lượng kiếp của một chúng sanh. Tiến trình này có thể được ví nhưhiện tượng tự nhiên của một vòng xoáy trong một vùng nước rộng lớn.
Ẩn dụvi diệu này minh họa cách mà các động lực khác nhau duy trì sự tồn tại của samsara. Bằng cách hiểu rõ những động lực này, người hành giả có thể nhận ra các điểm quan trọng để ứng dụng trong việc tu tập của chính mình một cách hiệu quả hơn, rõ ràng thấu đáo hơn, cuối cùng dẫn đến sự giải thoát (Nirvana).
Bài tiểu luận này sẽ khảo sát ẩn dụthâm sâuvi diệu này của Đức Phật để rút ra những nhận thức cô đọng và quan trọng cho hành giả khi ứng dụng vào việc tu học cho chính mình. Sự hiểu biết thấu đáo này sẽ giứp hành giảnhận ra vì sao giải phápSabbasankharasamatho (sự tịnh chỉ tất cả hành) được Thế Tôn trình bày rất chi li và có hệ thống trong kinh Niệm Xứ và Kinh Anapanasati chính là giải pháp tối ưu cho tình trạng bị ném vào samsara của tất cả chúng sanh.
Khảo sát Vòng Xoáy và Các Động Lực Của Nó
Vòng xoáy, với chuyển động cuộn tròn, tượng trưng cho vòng luân hồiliên tục của samsara. Chuyển động này được duy trì bởi các dòng nước đối lập, nuôi dưỡng và làm gia tăng vòng xoáy, tạo ra ảo tưởng về một trung tâm—một điểm tập trung của hoạt động, dần dần phát triển thành khái niệm về tự ngã theo thời gian. Sự tương tác của các lực này và ảo tưởng mà chúng tạo ra có thể được hiểu bằng cách khảo sát về các lực duy trì hai vòng xoáy: vòng ngoài cùng và vòng trong cùng của toàn bộ vòng xoáy này.
Động Lực phía ngoài cùng của vòng xoáy: Vô Minh và Tham Ái
- Vô Minh (Avijja) và Tham Ái (Tanha) là những lực bên ngoài duy trì vòng xoáy của samsara. Những lực này đại diện cho các thói quensâu xa được tích lũy qua nhiều kiếp sống, tạo thành các dòng nước mạnh mẽ, giữ cho vòng xoáy luôn vận động.
- Vô Minh (Avijja): Đây là lực đẩy về phía trước, khiến con người tạo nghiệp thông qua sự hình thành của các hành (sankharas). Vô minh che mờ chúng sinh khỏi thực tướng của thực tại—vô thường, khổ, và vô ngã—khiến họ hành động theo cách tiếp tụcduy trì vòng luân hồi. Nó là lực đẩy thôi thúccon người tạo tác qua thân hành, ý hành, và khẩu hành
- Tham Ái (Tanha): Tham ái là lực kéo ngược về phía sau, lôi kéo con ngườitrở lại trải nghiệm những khoái lạc phù du của sự tồn tại. Nó đại diện cho sự dính mắc vào các lạc thọ, sự tồn tại, và cả sự không tồn tại, làm củng cố vòng luân hồi bằng cách tạo ra khát vọng tiếp tụctham gia vào samsara.
Những lực này cùng nhau duy trì vòng xoáy, tạo ra một dòng chảy mạnh duy trì và thúc đẩy quá trình samsara liên tục. Theo thời gian, sự tương tác liên tục giữa vô minh và tham áinuôi dưỡngảo tưởng về một trung tâm—một tự ngã trường tồn và độc lập—dường như tồn tại ở trung tâm của mọi kinh nghiệm và hành động.
Động Lực Bên Trong Cùng của Vòng Xoáy: Thức và Danh-Sắc
Ở trung tâm của vòng xoáy, các động lực của Thức (Viññana) và Danh-Sắc (Nama-rupa) đại diện cho các hoạt độngquay cuồng bên trong. Những quá trình này diễn ra với tốc độ cực kỳ nhanh chóng, hình thành nên sự tương tác nền tảng duy trì trải nghiệm tức thời và luôn thay đổi của sự tồn tại.
- Thức (Viññana): Đây là sự nhận thức phát sinh do các hành và các tiếp xúcgiác quan. Nó là dòng chảy liên tục của nhận thức, tương tác với danh-sắc để tạo ra trải nghiệm chủ quan của sự tồn tại.
- Danh-Sắc (Nama-rupa): Đây là các yếu tốtâm lý và thể chấtcung cấp cấu trúc để thức hoạt động. Danh-sắc và thức tương duyên với nhau; thức không thể hoạt động mà không có khung cấu trúc do danh-sắc cung cấp, và danh-sắc không thể tồn tạinếu không có thức.
Sự tương tác nhanh chóng giữa thức và danh-sắc hình thành nên sự quay cuồng bên trong của vòng xoáy, duy trìcảm giác về tự ngã và sự tồn tại trong từng khoảnh khắc. Hoạt độngcốt lõi này duy trìnhận thứctức thời về sự tồn tại, trong khi các động lực bên ngoài của vô minh và tham áiduy trì vòng luân hồi rộng lớn hơn của samsara.
Ảo Tưởng Về Một Trung Tâm: Khái Niệm Sơ Khai Về Tự Ngã
Sự quay cuồngliên tục của vòng xoáy, được điều khiển bởi cả các động lực bên ngoài và bên trong, tạo ra ảo tưởng về một trung tâm—một điểm tập trung của hoạt động dường như là "tự ngã."
Khái niệm sơ khai về một cái gọi là “trung tâm” chính xác là vì nó có nhiều hoạt độngtrao đổi (thức và danh sắc với môi trường bên ngoài). Ví như ở trung tâm thành phố thì có nhiều hoạt độngtrao đổi và mua bán hơn là ở nông thôn. Nói cách khác, một khoảng không gian được gọi là trung tâmchính xác là vì khoảng không gian đó có nhiều hoạt động hơn là những khoảng không gian bên cạnh. Cũng vậy ta gọi trung tâm vòng xoáy vì tại đó có nhiều hoạt động hơn khối nước lân cận. Theo thời gian, ảo tưởng này trở nên cố định, dẫn đến niềm tin vào một "tôi" trường tồn, độc lập, tồn tại riêng biệt với thế giới. Khái niệm về tự ngã này khởi đi từ khái niệm sơ khai về một “trung tâm” nhưng càng ngày càng trở nên rất sâu sắc và rốt ráo hình thành khái niệm Ngã (cái tôi), củng cố thêm vòng luân hồi của samsara khi chúng sinh hành động để bảo vệ và duy trìảo tưởng về tự ngã này.
Sabbasankharasamatho: Sự Tịnh Chỉ Tất Cả Hành, Giải Pháp Tối Ưu cho tình trạng bị ném vào Samsara
Sabbasankharasamatho đề cập đến sự tĩnh lặng hoặc sự đình chỉ của tất cả các hành (sankharas). Quá trình này là trọng tâm của con đườnggiải thoát trong thực hànhPhật giáo, vì nó dẫn đến sự tiêu tan các điều kiệnduy trì vòng luân hồi, cuối cùng dẫn tới sự chứng đắc Niết-bàn. Việc làm tĩnh lặng tất cả các hành liên quan đến việc giảm dần và cuối cùng là sự đình chỉ của các hoạt độngtâm lý và vật lý khác nhau, như hơi thở, suy nghĩ, cảm giác, và nhận thức. Quá trình này có thể được tu tập một cách có hệ thống thông qua thực hànhTứ Niệm Xứ (Satipatthana) hoặc Anapanasati (Niệm Hơi Thở).
Quá Trình Làm Tĩnh Lặng Có Hệ Thống Qua Pháp Thiền TứNiệm Xứ
Quá trình làm tĩnh lặng sabbasankharasamatho diễn ra theo các giai đoạn, mỗi giai đoạn liên quan đến một lớp hoạt độngtâm lý và vật lý sâu hơn. Quá trình làm tĩnh lặng này có thể được tóm tắt như sau:
1. Làm Tĩnh Lặng Hơi Thở (Hơi Thở Ra/Vào)
- Hơi thở là hành dễ tiếp cận nhất và cơ bản nhất của mọi hành. Thực hành bắt đầu bằng việc tập trung vào hơi thở ra và vào, quan sát nó với chánh niệm. Khi sự tập trung sâu sắc hơn, hơi thởtự nhiên trở nên tinh tế và nhẹ nhàng hơn, dẫn đến một trạng thái tĩnh lặng. Cuối cùng, hơi thở có thể trở nên tinh tế đến mức dường như ngừng lại, điều này biểu thị sự tĩnh lặng của hành vật lý cơ bản nhất.
- Giai đoạn này thường được tu tập thông qua Anapanasati (Niệm Hơi Thở), nơi mà người hành giả bắt đầu bằng việc quan sáthơi thở và dần dần làm sâu sắc sự tập trung cho đến khi hơi thở trở nên tĩnh lặng một cách tự nhiên.
2. Làm Tĩnh Lặng Tầm và Tứ (Vitakka và Vicara)
- Khi hơi thở tĩnh lặng, các quá trình tư duy của tâm—tầm (vitakka) và tứ (vicara)—cũng bắt đầu tĩnh lặng. Đây là các hoạt độngtâm lý hướng tâm trí đến một đối tượng và duy trì sự chú ý vào đối tượng đó. Ở giai đoạn đầu của thiền, những suy nghĩ này có thể khá năng động, nhưng khi sự tập trung sâu sắc hơn, chúng tự nhiêngiảm bớt.
- Trong thực hànhTứ Niệm Xứ (Satipatthana), chánh niệm được áp dụng đối với tâm, quan sát những suy nghĩ này và cho phép chúng lắng đọng. Khi tâm trở nên tập trung hơn, sự cần thiết của tầm và tứ giảm bớt, dẫn đến trạng thái tĩnh lặng nội tại.
3.Làm Tĩnh Lặng Thọ (Vedana)
- Thọ (Vedana) đề cập đến các cảm giác và cảm thọ phát sinh từ sự tiếp xúc với các giác quan. Chúng có thể là lạc thọ, khổ thọ, hoặc xả thọ. Khi chánh niệm sâu sắc hơn, người hành giảquan sát các cảm thọ này mà không dính mắc hoặc phản ứng, dẫn đến sự tĩnh lặng dần dần của chúng.
- Thông qua việc áp dụngchánh niệm có hệ thống đối với cảm thọ (niệm xứ thứ hai trong Satipatthana), người hành giảnhận rabản chấtvô thường và duyên sinh của thọ. Tất cả thọ dụ như bọt nước có sanh ắt có diệt, vậy ta hãy kham nhẫnquan sát sự sanh sanh diệt diệt các thọ mà không tác ý tạo nên thọ mới, hãy quan sát sự sanh diệt đang diễn ra của các thọ cũ. Sự hiểu biết này giúp nới lỏng sự dính mắc và phản ứng, cho phép các cảm thọtự nhiên lắng đọng. Vì sao? Vì chính sự dính mắc và phản ứng sẽ tạo nên thọ mới và làm gián đoạn nổ lực làm tỉnh lặng các thọ mà hành giã đang nhắm tới thực hiện
4. Làm Tĩnh Lặng Tưởng (Sanna)
- Tưởng (Sanna) đề cập đến sự nhận biết hoặc nhận thức về các đối tượng, liên quanmật thiết đến ký ức và sự nhận diện. Khi tâm trở nên tinh tế hơn, ngay cả những nhận thứctinh tế phát sinh trong thiền cũng bắt đầu tĩnh lặng. Người hành giả bắt đầu nhìn thấy qua ảo tưởng của những nhận thức này, nhận rabản chấtvô thường và được xây dựng của chúng.
- Niệm xứ thứ tư trong Satipatthana—chánh niệm về các pháp—bao gồm sự quan sát tưởng. Khi chánh niệm và sự tập trung sâu sắc hơn, các nhận thức trở nên ít rõ ràng hơn và cuối cùng biến mất, dẫn đến một trạng thái tĩnh lặng sâu sắc.
Tứ Niệm Xứ và Anapanasati là Phương Pháp có hệ thống để thực hiện Sabbasankharasamatho
Việc làm tĩnh lặng có hệ thống tất cả các hành liên quanmật thiết đến thực hànhTứ Niệm Xứ và Anapanasati:
- Tứ Niệm Xứ (Satipatthana):
- Tứ Niệm Xứcung cấp một khung sườn toàn diện để làm tĩnh lặng và hiểu biết tất cả các khía cạnh của kinh nghiệm. Các niệm xứbao gồm:
1. Niệm Thân (Kayanupassana): Bắt đầu với hơi thở và các tư thế của thân, người hành giả phát triển chánh niệm về hình thứcvật lý, dẫn đến sự tĩnh lặng của các hành vật lý.
2. Niệm Thọ (Vedanupassana):Quan sát các cảm thọ khi chúng phát sinh, người hành giả phát triển sự hiểu biết về bản chấtvô thường của chúng, dẫn đến sự tĩnh lặng của chúng.
3. Niệm Tâm (Cittanupassana): Tập trung vào trạng tháitâm trí, người hành giảnhận thức được các hành tâm lý như suy nghĩ, dẫn đến sự tĩnh lặng của các hoạt độngtâm lý này.
4. Niệm Pháp (Dhammanupassana):Quan sát các pháp, hoặc các hiện tượngtâm lý, người hành giảnhận thức được bản chất của các nhận thức và các hành vitinh tế khác, dẫn đến sự đình chỉ của chúng.
- Niệm Hơi Thở (Anapanasati):
- Anapanasati đặc biệtnhấn mạnh sự làm tĩnh lặng của hơi thở, điều này tự nhiên kéo dài đến sự làm tĩnh lặng của tâm trí và các hành. Thực hành này được chia thành bốn phần, tương ứng với tứ niệm xứ, và dẫn đến các trạng thái định (samadhi) và tuệ (vipassana) sâu sắc hơn.
- Việc tập trung có hệ thống vào hơi thở trong Anapanasati cung cấp một con đườngrõ ràng để làm tĩnh lặng các hành vật lý và tâm lý, dẫn đến sự tĩnh lặng cần thiết để chứng đắc Niết-bàn.
Sự Đình Chỉ Của Vòng Xoáy qua Sabbasankharasamatho = Chứng Đắc Niết-Bàn
Khi người hành giả làm tĩnh lặng một cách có hệ thốnghơi thở, suy nghĩ, cảm thọ, và nhận thức thông qua các thực hành này, hoạt động xoáy của vòng xoáy chậm lại và cuối cùng ngừng hẳn. Sự đình chỉ của tất cả các hành (sabbasankharasamatho) dẫn đến sự tiêu tan của ảo tưởng về một sự tồn tại tự ngã. Khái niệm về tự ngã, từng được duy trì bởi những hành này, phai mờ, để lại một trạng thái tĩnh lặng và trong sáng sâu sắc. Ví như khi khối nước không còn các dòng đối lưu, khi khối nước được tịnh chỉ, không thể chỉ ra chổ nào là “trung tâm” của một khối nước hoàn toàn tĩnh lặng, nơi nơi chốn chốn đều hoàn toànbình đẳng. Cũng vậy khi Sabbasankharasamatho được thực thi, khái niệm ngã tiêu tan vì không thể chỉ ra.
Trạng thái này, tương tự như một vùng nước yên tĩnh giữa đại dương, ảo tưởng về một trung tâm hay tự ngã không còn tồn tại. Sự đình chỉ của vòng xoáy biểu thị sự chứng đắc Niết-bàn, nơi mà mọi hoạt độngduyên khởi đều chấm dứt, và tâm tríđược giải thoát khỏi những lực lượng ràng buộc của samsara. Sự tĩnh lặng tối thượng này là đích đến cuối cùng của con đườngPhật giáo, nơi mà người hành giảđạt đượcsự giải thoát và chấm dứt khổ đau.
Kết Luận
Vòng xoáy luân hồi của samsara, được duy trì bởi các lực đối nghịch của vô minh và tham ái ở mức độ bên ngoài, và bởi thức và danh-sắc ở mức độ bên trong, tạo ra ảo tưởng về một tự ngã tồn tại ở trung tâm của mọi kinh nghiệm. Bằng cách hiểu và can thiệp vào các động lực này thông qua thực hành có hệ thống sabbasankharasamatho, người hành giả có thể phá vỡ vòng luân hồi, cuối cùng làm tiêu tanảo tưởng về tự ngã và đạt đượcsự giải thoát. Con đường đến sự giải thoát này là qua sự đình chỉ của tất cả các hành, dẫn đến sự tĩnh lặng và an lạc của Niết-bàn, nơi mà khái niệm về tự ngã không còn giữ bất kỳ quyền lực nào.
Kính chúc quý hành giảtinh tấn dõng mãnh trong hành trình đi về Sabbasankharasamatho: Sự tĩnh lặng tối thượng, đích đến cuối cùng của con đườngPhật giáo, đạt đượcgiải thoát và chấm dứt khổ đau.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính dâng và hồi hướngsức khỏe và trí tuệ tâm linh cho Ba Má nhân mùa Vulan 2024.
Tuệ Huy- Tô Đăng Khoa ________________________________________________________ video: 20240819 Tuệ Huy BÀI 12 Tổng Quan Về LÝ DUYÊN KHỞI https://youtu.be/-SY7kuj03lg
Khúc Ca Chân Như là nhạc phẩm nói về Cuộc Đời của Đức Phật chia theo "Ba Giai Đoạn" tư duy của Thiền Sư Duy Tín:
[Hồi I: Nẻo Phàm
(Núi là núi, sông là sông)]
[Hồi II: Ly Trần
(Núi không là núi, sông không là sông)]
[Hồi III: Giác Ngộ Chân Như
(Núi vẫn là núi, sông vẫn là sông)]
Khi gió xuân đang về, khi mọi người đang chuẩn bị đón chào Tết đến, khi những chợ hoa, những gian hàng Tết được dọn ra, thì cũng chính là lúc những người nghèo khó tủi thân nhất. Họ tủi thân không chỉ vì cái nghèo, cái đói, mà đây chính là khoảng thởi gian họ cảm nhận rõ nhất sự tự ti, mặc cảm trong bản thân, cũng như khoảng cách giữa giàu nghèo trong xã hội.
Quá trình tu tập của Ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta) từ một vị Bà-la-môn trí thức đến khi chứng quả A-la-hán là một mẫu mực đặc biệt về trí tuệ – thấy pháp – buông chấp, được ghi lại rải rác trong Kinh tạng Nikāya, đặc biệt là Trường bộ (DN), Trung bộ (MN) và Tương ưng bộ (SN). Dưới đây là phần trình bày theo tiến trình tu chứng của Ngài Xá Lợi Phất.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu thảo mộc đã biết được phần nào sự tương tác giữa cây cỏ và động vật, như sự giao tiếp giữa cây với nhau và với động vật ăn cỏ, sự cảm xúc, nhìn thấy, biết nhận thức, đọc được tư tưởng con người, trí nhớ dài hạn, làm từ thiện, cạnh tranh thức ăn, ánh sáng…
Con người đã sống gần gũi với cây cối hàng trăm ngàn năm, nhưng vẫn chưa hiểu rốt ráo đời sống và hành vi của chúng so với các động vật.... Hiện nay, các nhà nghiên cứu thảo mộc đã biết được phần nào sự tương tác giữa cây cỏ và động vật, như sự giao tiếp giữa cây với nhau và với động vật ăn cỏ, sự cảm xúc, biết nhận thức, có trí nhớ dài hạn, cạnh tranh thức ăn, ánh sáng…
Thực ra Kỹ thuật KHÔNG NÓI của HT. Thích Thông Triệt không đối lập với Anapanasati Sutta, mà là một cách “đi đến cốt lõi” tinh thần Anapanasati, đặc biệt ở giai đoạn tuệ quán – vô ngã.
Những cơn bão tuyết đến không báo trước, càn quét qua các tiểu bang ở Mỹ và cả Canada, khiến cuộc sống của người dân trở nên xáo trộn hơn bao giờ hết. Khắp các thành phố phủ một màu trắng xóa, những cơn gió lùa qua những con phố dài, mang theo cái rét cắt da cắt thịt.
A.I Hát: Trăng Sáng Vì Sao...Quán Thế Âm Bồ Tát trong 3 Kinh : Bát Nhã, Pháp Hoa và Đại Bi 🙏🙏🙏
Kinh 1 – Bát Nhã (Trí Tuệ Sáng Ngời)]
[Kinh 2 – Pháp Hoa (Lòng Bi Cứu Thế)]
[Kinh 3 – Đại Bi (Hạnh Nguyện Thâm Sâu)]
Hạt lành nở giữa tro tàn /
Tâm từ sáng giữa vô vàn khổ đau /
Một niệm thiện hóa nhẹ nỗi sầu /
Nhân quả đến như dòng suối sâu /
Giữ lòng hiền, giữ điều nhiệm mầu /
Cho thế gian bớt những nỗi đau
CHÌA KHÓA THỰC HÀNH
THỌ tự nó không gây khổ.
Cái làm khổ là khoảnh khắc thọ bị đánh giá là:
đáng tùy hỷ,
đáng đón mừng,
đáng chấp thủ.
Ngay khi đó, papañca (hý luận) có đất đứng.
Và ngay khi đó, một “tôi” được dựng lên.
Cortisol là hormone sinh tồn được tuyến thượng thận sản xuất để ứng phó với stress cấp tính. Cortisol là hormone điều chỉnh: Đường huyết, huyết áp, viêm, năng lượng, phản ứng “chiến đấu – bỏ chạy”. Khi stress ngắn hạn → cortisol giúp ta sống sót. Khi stress mạn tính → cortisol phá vỡ hệ nội tiết.
ĐƯỜNG HUYẾT LÀ PHÁP – KHÔNG PHẢI KẺ THÙ. Nếu nghe được pháp này, xin đừng hỏi: “Bao lâu thì hết bệnh?”. Hãy hỏi: “Từ hôm nay, ta có sống tỉnh thức hơn không?” Khi thân được lắng nghe, tâm được buông bớt, đời sống được chậm lại… Đường huyết sẽ tự biết con đường quay về.
Việc đọc kinh Bát Nhã hay Chú Đại Bi với tốc độ nhanh không phải là một quy định bắt buộc trong Phật giáo, nhưng đây là một phương pháp hành trì phổ biến có những lý do và mục đích cụ thể sau đây:
1. Nhiếp tâm
Khi đọc với tốc độ nhanh, tâm trí bạn buộc phải tập trung cao độ vào từng chữ, từng âm tiết để không bị vấp hoặc quên lời.
Cắt đứt tạp niệm: Nếu đọc chậm, tâm trí dễ nảy sinh các suy nghĩ vẩn vơ (phóng dật). Tốc độ nhanh giúp "khóa" tâm vào lời kinh, không cho các vọng tưởng xen vào.
Trạng thái định: Khi đạt đến một tốc độ nhất định, người đọc dễ đi vào trạng thái định (nhất tâm).
2. Vượt qua sự phân tích của ý thức
Kinh Bát Nhã và Chú Đại Bi chứa đựng những triết lý cao siêu (tính Không) hoặc các câu chú tiếng Phạn không mang ý nghĩa mặt chữ thông thường.
Đọc bằng trực giác: Việc đọc nhanh giúp người tụng vượt qua việc cố gắng phân tích ý nghĩa logic của từng câu chữ bằng trí óc phàm phu, từ đó giúp âm thanh thấm sâu vào tàng thức (A-lại-da thức). - GEMINI
Đạo tràng Thiền Tánh Không Paris, với một ban giáo thọ khá hùng mạnh, có khả năng đồng đều, lại đầy nhiệt huyết và tự tin, đã khá thành công trong việc đảm nhiệm phần đứng lớp với hầu hết các chủ đề dưới sự giám sát của Ni sư Triệt Như trong lớp Căn bản song ngữ 109 vừa qua. Câu hỏi đặt ra với đạo tràng Paris bây giờ chỉ còn là “ Bao giờ xuống núi? “
Không Nói không làm ta mất đời sống. Không Nói trả ta về đời sống thật. Không cần trở thành ai khác. Không cần sửa mình cho tốt hơn. Một phút Không Nói là một cửa giải thoát nhỏ.
Trong Kinh Phật Tự Thuyết, Đức Phật không trình bày một học thuyết để suy luận, mà trực tiếp dẫn tâm người nghe ra khỏi mọi chỗ nương tựa. Ngài mở đầu bằng một chuỗi phủ định tuyệt đối. Mục đích của chuỗi phủ định này không phải để mô tả một cảnh giới, mà để buộc tâm người nghe rơi vào trạng thái Nhận Thức Biết Không Lời. Khi mọi đối tượng bị phủ định, tâm không còn chỗ bám, lúc ấy mới có cơ hội chạm đến đoạn tận khổ đau.
*Một Năm Khép Lại – 一年の終わりに( Ichinen no owari ni )" là khúc Enka chiêm nghiệm, lắng đọng giữa khoảnh khắc giao mùa.
Bài hát nhìn lại những được–mất của năm cũ bằng sự biết ơn và buông xả.
Không kể câu chuyện hơn thua, chỉ thì thầm lời quay về với tĩnh lặng nội tâm.
Khi năm khép lại, con đường trở về chính mình cũng nhẹ nhàng mở ra.
Thưa Sư Ông con đã không có duyên gặp Người nhưng con đã gặp được một pháp tu, con hứa thực hành rốt ráo theo lời chỉ dạy của Vị thừa kế đồng thời học hỏi thêm nơi các đệ tử kỳ cựu của Người.
Thưở ban sơ mới gặp Thầy / Tâm còn chao đảo, đêm ngày lo âu / Duyên may gặp được dòng thiền / Tánh không rõ sáng ,Thầy đem trao truyền / Không nói, bí quyết hiện tiền / Dứt đường tầm tứ, nhiễu nhương lâu đời
Thành Kính TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ Hòa Thượng Thiền Sư THÍCH THÔNG TRIỆT, Ban Điều Hành Website cùng Tâm Hiền, Tâm Hoa (Nam Cali), Quang Thông (Sydney) thực hiện hình ảnh và Phần nhạc nền: Thầy Kính Yêu (thơ: Tuệ Vinh)
Xin kính dâng Thầy.
NHẬN THỨC GỢI LÊN là chìa khóa quan trọng trong chuyên tu định và khai mở Tánh giác. Trong quá trình tu tập thiền định, chúng ta thường chú trọng đến hơi thở, định lực, hay sự yên lặng của tâm, nhưng có một yếu tố rất quan trọng mà ít người để ý đúng mức – đó là Nhận thức gợi lên (evocative cognition).
Chân Như là thực tại như nó là. Không Nói là con đường ngắn nhất để thấy thực tại đó. Khi ngôn ngữ nội tâm dừng, ngã chấp không còn chỗ đứng. Khi ngã lắng xuống, Chân Như hiển lộ. Không Nói không tạo ra Chân Như. Không Nói chỉ dọn đường cho Chân Như tự hiện.
Nghìn bài đã nở rộ, chỉ mới bắt đầu thôi, /
Xin gìn giữ di sản Thầy trao giữa đời trôi. /
Nguyện tinh tấn từng bước giữ tình huynh đệ thôi, /
Để mỗi chữ trên diễn đàn thành cánh hoa dâng Thầy. /
A thousand posts now bloom, but just the start ahead, /
We vow to guard the gifts our Master softly gave / .
With diligence we walk, united hearts we save, /
May every written word become a flower for Him.
VÔ NGÔN Pháp Phật, /
KHÔNG NÓI chiêu Thầy… /
Lắng trong từng hơi thở này… /
Con nguyện giữ trọn đời. /
The Buddha’s Wordless Teaching, /
The Master’s Silent Transmission. /
In every mindful breath, /
I vow to keep it all my life.
Tấm thân cát bụi vô thường /
Sanh già bệnh chết, có nương người nào! /
Vậy mà không biết vì sao /
Con người cũng chẳng chút nao núng lòng?!
ĐỜI LÀ VẬY ĐÓ, biết không ? /
Tu đi ! kẻo trễ uổng công kiếp người /
Lười hả ? xin đừng biếng lười /
Tu đi ! kẻo trễ, thưa người không quen!!!
Tâm Đà La Ni...
Buồn chi cho khổ...
Tâm tĩnh lặng rồi...
Thấy khổ... cũng... không...
Om… ánh sáng nhiệm mầu… dẫn đường con về…
Namo Ratna Trayāya
Namo Ārya Avalokiteśvarāya
Bodhisattvāya
Mahāsattvāya
Mahākārunikāya
...
Bao văn tự chữ nghĩa mênh mông, dù không đến nỗi quá vô minh, nhưng cuối cùng khi trong trạng thái hoang mang chỉ còn thấy giữ tâm hồn thanh thản, đừng vướng mắc, mong cầu hay khao khát, cứ phó mặc cho pháp tự vận hành và thấu hiểu dám hành trì mỗi một chữ Buông.
Con nay hiểu ra rằng chúng ta sống chung quanh các hiện tượng thế gian và tiếp xúc với hiện tượng thế gian trong từng sát na thời gian, cũng chính ta tác động đến qui luật nhân quả giữa ta và hiện tượng ấy, không làm sao mà khác đi được.
Chân như có nghĩa thực tại chân thực (True Reality). Không có gì cộng vào trên nó nhưng cũng không có cái gì trừ đi trên nó. Nó chỉ là như vậy. Bản tính của nó là bất biến, bất động và thường hằng an trụ, không có gì thêm hay bớt trong nó. Vì nó không có sức chứa bất luận thứ gì. Nó ngoài tất cả lời. Nó là cái không tên. Nó chỉ có nghĩa như thế là như thế.
Thân gửi các anh chị một bài viết mới. Như Chiếu thay mặt đạo tràng Montreal xin gửi lời cám ơn tất cả các cô chú, anh chị đã đóng góp thời gian, công sức cho website của Thiền Tánh không, cũng như đã chia sẻ những kiến thức cùng trải nghiệm tu chứng của bản thân cho Mục 'Cùng nhau Tu học' nhằm giúp thiền sinh khắp nơi vững bước trên con đường tâm linh tu tập.
1. Lòng biết ơn trong lịch sử và văn hóa: nhiều hình thức, ba chức năng
2. Phật Giáo: lòng biết ơn được Thế Tôn tái cấu trúc như thế nào?
3. Hai điều kiện căn bản: thân người khó được và Chánh Pháp khó cầu
4. Lòng biết ơn có tác dụng nâng đỡ Bát Chánh Đạo
5. Một vài ví dụ thực tập cụ thể cho người Phật tử rèn luyện Lòng Biết Ơn theo ý nghĩa Phật chỉ dạy
6. Hãy Sống Trọn Vẹn 365 ngày Thanksgiving trong tinh thần Phật giáo
:
“Không Nói” là con đường nhanh nhất để tái hiện tiến trình thực hành Kinh Tiểu Không bằng kỹ thuật hiện đại. Kinh Tiểu Không (MN 121) là nền tảng kinh điển cho kỹ thuật “Không Nói”.
Kính Tạ Ơn Tam Bảo, Phật Pháp Tăng, /
Qua nhiều kiếp sanh tử trôi lăn, /
Nay ngộ thậm thâm vi diệu pháp, /
Nguyện tu hành kề cận đài sen... /
Thankful to Buddha, Dharma, and Sangha bright, /
Guiding souls through endless night, /
Now awakened to the truth and light, /
Vowing to dwell by the Lotus bright. /
Lễ Tạ Ơn – Con tri ân muôn loài... /
Thanksgiving Day — I bow to all life...
Anicca‑Saññā trở thành lưỡi cày bén của tâm: cắt đứt rễ bám víu bằng hiểu biết sống động về bản chất của pháp. Không có gì để ghì giữ, nên không còn lý do để hốt hoảng khi mất mát. Không có gì để cưỡng chiếm, nên mối quan hệ với thế giới bớt gồng. Từ đây, sự sáng trong hiển lộ như hậu quả tự nhiên của một tri giác đã học cách buông.
Trong thời buổi chiến tranh tai ách, /
Con Người chịu nhiều cách khổ đau. /
Lệ rơi máu đổ hằng ngày, /
Tiếng kêu cầu cứu ai hay được nào. /
In times of war and endless pain, /
Mankind cries out again and again. /
Tears and blood flow every day, /
Who hears the plea? Who lights the way?
Đời khổ - chuyện khủng kinh sao tả, /
Thân vô thường - kể cả vạn sinh / .
Chỉ có CĂN NHÀ TÂM LINH, /
Tự ta tu học — Chính Mình ngộ ra! /
Tâm an là nhà — khổ đau tan biến, /
Căn Nhà Lý Tưởng — ở trong ta thôi…
Trong đạo Phật, Không Tầm Không Tứ Định là nền tảng vô cùng quan trọng của tất cả các tầng định — từ Thiền Nguyên Thủy, Thiền Phát Triển cho đến Thiền Tông, là cửa ngõ của Thiền, là giao điểm giữa phàm tâm và thánh trí. Khi vượt qua được lớp màn suy nghĩ của ý thức, người tu chạm đến sự yên lặng đầy sáng biết — đó là tánh giác hiện tiền.
Vô thường không phải “mọi thứ thay đổi,”mà là không có gì có thể giữ.
Vô thường Tưởng” theo Thế Tôn đã chỉ dạy là: Phải Có Chức Năng Cắt Đứt Tham, Đoạn Tận Khổ, Cứu Cánh Niết Bàn
VÔ THƯỜNG, trong cái thấy của Đức Phật, không phải “mọi thứ đổi thay,” mà là không có gì có thể giữ được.
Chính trong cái thấy ấy, KHỔ (dukkha) trở nên dễ hiểu — vì KHỔ là sức nóng của sự cố giữ.
Sức nóng đó phát sinh từ sự ma sát giữa “ý-muốn-giữ” và sự thật hiển nhiên của “pháp-đang tan-không-thể-giữ”.
Phẩm 14, "Ly Tướng Tịch Diệt", là một trong những phẩm quan trọng và thâm thúy nhất trong Kinh Kim Cang. Tên đầy đủ hàm ý rằng khi đã rời xa mọi hình tướng, vọng tưởng thì sẽ đạt đến cảnh giới vắng lặng, diệt độ (Niết-bàn).
Ba dấu ấn ấy không răn dạy, chúng chỉ mời ta nhìn lại. Nhìn thân đang đổi, nhìn tâm đang chảy, nhìn đời đang đi – và mỉm cười vì mọi thứ đều đúng lúc tan ra.
We use cookies to help us understand ease of use and relevance of content. This ensures that we can give you the best experience on our website. If you continue, we'll assume that you are happy to receive cookies for this purpose.