HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

Triệt Như - Tiếng Hát Giữa Trời - Bài 15: KHUNG CỬA SÁNG TRĂNG

Tuesday, May 24, 202212:23 PM(View: 6917)

Triệt Như - Tiếng Hát Giữa Trời - Bài 15


KHUNG CỬA SÁNG TRĂNG

15 TITLE TIENG HAT GIUA TROI  VN copy

Chợt tỉnh giấc nửa đêm, nhìn ra khung cửa sổ, trời sáng, trắng trong; mặt trăng tròn treo lơ lửng giữa trời không mây. Hôm nay là một đêm trăng mùa Phật đản sinh. Khép mắt lại, nhìn thấy một bức tranh thiệt đẹp giữa rừng, giữa một cảnh rừng, trong một đêm trăng sáng, cũng một đêm trăng tròn sáng như đêm nay. Không thể nào diễn tả lại đầy đủ vẻ đẹp của bức tranh huyễn ảo cổ tích này, thôi thì xin mời các bạn tự vẽ lại trong tâm tưởng mỗi người cảnh giới niết bàn giữa cõi trần thế.


Các bạn hãy đọc kỹ bài kinh này.

32. Đại kinh Rừng sừng bò

(Mahàgosinga sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la cùng với một số đông Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) Tôn giả Maha Moggallana (Đại Mục-kiền-liên), Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng khác.

Rồi Tôn giả Maha Moggallana vào buổi chiều, sau khi tham thiền đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Maha Kassapa ở, sau khi đến bèn nói với Tôn giả Maha Kassapa:

-- Hiền giả Kassapa, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Maha Kassapa vâng đáp Tôn giả Maha Moggallana. Rồi Tôn giả Maha Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Maha Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp, sau khi thấy vậy liền đi đến chỗ Tôn giả Revata và nói với Tôn giả Revata:

-- Này Hiền giả Revata, các bậc Thượng nhân như vậy đã đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Này Hiền giả Revata, chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Revata vâng đáp Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Tôn giả Sariputta thấy Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy bèn nói với Tôn giả Ananda:

-- Tôn giả Ananda hãy đến đây, thiện lai, Tôn giả Ananda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ananda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Đêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ananda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?

-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Revata:

-- Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Anuruddha:

-- Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Maha Kassapa:

-- Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa: Này Hiền giả Kassapa, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảotán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dụctán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cưtán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tụctán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấntán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnhtán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền địnhtán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệtán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoáttán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiếntán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói Tôn giả Maha Moggallana:

-- Hiền giả Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rừng Gosinga!... Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?

-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả Sariputta:

-- Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta: Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay, khu rừng Gosinga! Đêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

-- Ở đây, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Rồi Tôn giả Sariputta nói với các Tôn giả ấy:

-- Này chư Hiền, chúng ta đã trả lời theo sự giải thích của chúng ta. Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở và thuật lại vấn đề này cho Thế Tôn rõ. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Rồi những Tôn giả ấy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda đến tại chỗ con ở để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, con thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda từ xa đi đến; thấy vậy, con nói với Tôn giả Ananda:

"-- Tôn giả Ananda, hãy đến đây, thiện lai Tôn giả Ananda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ananda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Đếm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ananda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? ’’

Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, Tôn giả Ananda trả lời với con như sau:

"-- Ở đây, Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và giữ gìn kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."

-- Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Ananda phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Ananda là bậc đa văn, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng, với văn cú viên dung lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên.

-- Bạch Thế Tôn khi nghe nói vậy, con nói với Tôn giả Revata:

"-- Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda, đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:

"-- Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga".

"-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga".

-- Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Revata phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Revata ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.

-- Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với Tôn giả Anuruddha như sau:

"-- Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha:

"-- Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga... (như trên)... Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Anuruddha nói với con:

"-- Này Hiền giả Sariputta, ở đây, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt, lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp rồi quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-Kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga".

-- Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Anuruddha phải trả lời như vậy. Này Sariputta, chính Anuruddha với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới.

-- Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Maha Kassapa:

"-- Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa:

"-- Khả ái thay ngôi rừng Gosinga!... (như trên)... Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Mahakassapa nói với con:

"-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thựctán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảotán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dụctán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cưtán thán hạnh độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tụctán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấntán thán hạnh tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnhtán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền địnhtán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệtán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình giải thoáttán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiếntán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo ấy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."

-- Lành thay Sariputta! Nếu trả lời cho được chân chánh, Kassapa phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Kassapa tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi... tự mình thành tựu giải thoát tri kiếntán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến.

-- Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Maha Moggallana:

"-- Hiền giả Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Maha Moggallana:

"-- Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rưng Gosinga!... Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Maha Moggallana nói với con:

"-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Họ hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, họ trả lời được với nhau, chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp của họ được tiếp tục. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga. "

-- Lành thay Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Moggallana phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Moggallana là bậc thuyết về Chánh pháp.

Được nói vậy, Tôn giả Maha Moggallana bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con nói với Tôn giả Sariputta, như sau:

"-- Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta:

"-- Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay khu rừng Gosinga! Đêm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?"

-- Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với con:

"-- Ở đây, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, Tỷ-kheo ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?."

-- Lành thay, lành thay, Moggallana! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Sariputta phải trả lời như vậy. Này Moggallana, Sariputta điều phục được tâm, không phải Sariputta không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?

-- Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ". Này Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

(Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt)


Các bạn đã đọc kỹ từng câu kinh rồi, bây giờ chúng ta thử chiếu lại cái video clip này nhá.

Khu rừng này có rất nhiều cây ta la, cũng là cây sa la, cũng là cây hoa vô ưu. Hoa thường nở vào mùa xuân. Chúng ta nhớ là Đức Phật xuất hiện vào đời nhằm mùa xuân dưới bóng cây sa la; Ngài thành đạo vào mùa xuânnhập Niết Bàn cũng vào mùa xuân giữa rừng sa la. Cây sa la rất cao, hoa mọc từ thân cây, nở rộ vào mùa xuân, hoa màu đỏ thắm, đơm từng chùm, hương thơm ngào ngạt. Đêm ấy là một đêm trăng rằm. Đức Phật và các vị thánh đệ tử trú qua đêm ở giữa vườn rừng. Trăng đã lên cao, tỏa sáng khắp không gian tĩnh mịch. Đó đây rải rác là hình bóng các vị tỳ kheo đang ngồi kiết già, lưng thẳng, thỉnh thoảng một vị khoan thai đi kinh hành, chiếc y vàng thấp thoáng trong cành lá. Ánh trăng vàng hay màu y vàng chói sáng khu rừng Sừng Bò này. Hương hoa ngào ngạt hay hương trời rải xuống trần gian.

Bắt đầu hoạt cảnh, các vị tỳ kheo, trong bài là các vị A La Hán, trừ ngài A Nan, đều là các vị đại đệ tử của Đức Phật, rủ nhau tới chỗ ngài Xá Lợi Phất để nghe pháp. Sao không đến Đức Phật để nghe pháp? Các bạn ơi, bức tranh này là mình vẽ, theo cảm hứng của mình, các bạn có thể vẽ khác càng tốt, có khi bức tranh lại đẹp hơn nữa. Đã từng trú qua đêm biết bao nhiêu là chỗ, trong nghĩa địa, trong thôn xóm, trong tinh xá, dưới gốc cây, trong nhà bỏ hoang, sao lại không rủ nhau đi nghe pháp? Có phải vì đêm nay ở trong một khu rừng sa la, lại đang mùa hoa nở, hương thơm ngát, thêm nữa là một đêm rằm sáng trăng. Nhưng nếu chỉ có bao nhiêu thôi, thì có thể vị tỳ kheo nào đó cũng chỉ một mình ngồi kiết già dưới trăng, hay đi kinh hành, chiếc bóng ngã dài trên lối đi tĩnh mịch.

Đêm nay đặc biệt lắm, có mấy khi huynh đệ được gặp nhau. Đức Phật vẫn luôn khuyến khích các vị đệ tử A La Hán của mình, mỗi người đi một phương để giáo hóa. Đêm nay, những người bạn tri âm tri kỷ được hội ngộ cùng nhau. Còn nỗi niềm cảm hứng nào hơn nữa! Cho nên tất cả chắc cùng chung cảm thông, rủ nhau tới nơi ngài Xá Lợi Phất, xem ngài Xá Lợi Phất là người anh trưởng, là con trai lớn của Đức Phật. Chi tiết này cho ta nhận ra, bậc đại trí tuệ được xem là ngôi vị cao nhất.

Ngài Xá Lợi Phất, qua bài kinh này cũng đủ chứng tỏ trí tuệ của mình, nhu hòa, khéo léo. Các vị tỳ kheo tới nghe pháp, nhưng ngàì Xá Lợi Phất không có giảng câu nào, ngài chỉ khéo léo gợi ý để nghe mỗi người bạn trình bày quan điểm của mình, nghe rồi ngài không xét đoán, không khen không chê, ngài mời tất cả tới tham vấn với Đức Phật. Đó là nghệ thuật thuyết pháp, tâm bình đẳng.  

Riêng sáu vị thánh đệ tử, mỗi vị trả lời theo chỗ mình chứng ngộ. Không phải là tự khen mình là vị tỳ kheo có thể làm sáng hơn nữa khu rừng sa la đêm nay, nhưng chỉ là trả lời một cách trung thực theo hạnh sống và trí tuệ trải nghiệm của riêng mình.

Như ngài A Nan ca ngợi hạnh nghe nhiều, suy gẫm, ghi nhớ, giảng thuyết lưu loát, trong kinh thường tán thán hạnh đa văn. Lúc ấy, tuy Ngài A Nan chưa đắc quả A La Hán, nhưng Ni Đoàn thường xin Đức Phật cho thỉnh ngài A Nan qua Ni đoàn giảng pháp, có thể vì lòng tri ân ngài A Nan xin với Đức Phật, Ni đoàn đầu tiên được thành lập. Trong dịp gặp gỡ tại khu rừng Sừng Bò đêm nay, ngài A Nan là “tiểu đệ”, tuổi trẻ nhất, ngài mới sinh ra đời khi đức Phật thành đạo, nên tuổi đạo cũng nhỏ hơn năm vị “đại huynh” kia. Vì thế, ngài Xá Lợi Phất hỏi người em út này trước nhất, đây cũng là một cái khéo của Ngài Xá Lợi Phất. Tiếp theo, Ngài Revata ca ngợi hạnh sống tịnh cư, thực hành thiền địnhquán hạnh, cũng là gồm Giới - Định - Tuệ. Tiếp theo, ngài Anurudha, trình bày thiên nhãn quan sát ngàn thế giới, đó là điểm nổi bật của ngài Anurudha, tuy ngài mắt mù. Vị thứ tư là ngài Mahā Kassapa, trình bày chi tiết đầy đủ con đường tu: hạnh sống trong rừng núi, tu tập giới hạnh, thiền đính, trí tuệ, thành tựu giải thoátgiải thoát tri kiến. Ta nhớ là ngài Mahā Kassapa là vị đệ tử đầu đà đệ nhất của đức Phật. Vị thứ năm là ngài Mahā Moggallāna ca ngợi sự thuyết giảng chánh pháp. Cuối cùng, ngài Mahā Moggallāna đặt câu hỏi trở lại cho ngài Sariputta. Và ngài Sariputta tán thán hạnh điều phục tâm hoàn toàn của vị tỳ kheo.

Sáu vị đại đệ tử đã trình bày xong quan điểm của mình, ngài Sariputta khéo mời tất cả cùng đến Đức Phật, nghe Đức Phật dạy thế nào. Chúng đệ tử sẽ thọ trì thế ấy. Mình thấy sáu vị tâm thật thuần, thật nhu nhuyến, hoàn toàn tin tưởng nơi bậc đạo sư của mình. Không tranh luận, không khen ngợi cũng không phê phán.


Gẫm lại chúng ta, mình có thể còn xét đoán người này trình bày thiếu sót, người kia nói đầy đủ hơn v.v. Tâm đời nghe người ta ca tụng hạnh sống nơi rừng núi, mình sẽ nói sống nơi phố chợ đông người cũng tu được vậy, như ngài Duy Ma Cật đó! Nghe nói hạnh đa văn, thì mình chê là “sở tri chướng”! Nghe nói thiên nhãn, tâm đời sẽ bắt bẻ ta sống bây giờ và ở đây! v.v.

Tới đây, các bạn đã vẽ được một bức tranh đẹp rồi chứ? Sáu vị tỳ kheo hay sáu ông tiên; không phải, sáu bậc thánh hiền, vì bậc a la hán là tâm niết bàn, trong sạch hơn cõi tiên. Tuy nhiên, trong tâm của riêng mình, ấn tượng ngày thơ ấu, mấy ông tiên thường xuống trần gian, dạo chơi, ngồi đánh cờ trên núi, dưới bóng trăng sáng. Chắc cũng huyễn ảo như đêm nay vậy. Sáu vị khoác y vàng, ngồi kiết già vòng quanh nhau, trên lá vàng khô, thần sắc thanh tú, sáng rỡ dưới trăng, rừng cây sa la đơm hoa đỏ thắm, hương hoa toả ngát, mà tưởng như hương trời, không gian mát mẻ tĩnh lặng, thời gian như ngừng lại. Câu chuyện trao đổi giữa sáu vị thánh, trong khung cảnh này, là vị tỳ kheo lý tưởng như thế nào? Chủ đề thật ý nghĩa, thích hợp với cuộc sống của chính mỗi người, mà đầm ấm, tưởng như mỗi người tâm sự vậy, được chia sẻ với nhau cái nỗi niềm ôm ấp riêng tư. Cái hoài bão trong tâm mà nay mình đạt được. Và được tâm tình với bạn tri âm tri kỷ, được lắng nghe, cảm thông nhau. Thiệt là ấm áp. Một cảnh giới bình an.

Các bạn ơi, còn chúng ta thì sao? Lâu ngày chúng ta gặp nhau, mình như thế nào? Hỏi thăm có khỏe không? Nếu có tổ chức buổi tối trà đàm, thì mình bày có trà, có bánh, có nhạc, có hát, có đàn!... Đừng hỏi tại sao tu hoài mà không có trí tuệ? Chúng ta nhớ người xưa ra sao, người nay thế nào, thì biết mình cần làm gì.

Bây giờ, chúng ta vẽ thêm bức tranh thứ hai. Sáu vị tỳ kheo tới tìm Đức Phật. Đức Phật cũng ngồi kiết già dưới trăng, bao quanh là sáu vị đại đệ tử. Đức Phật uy nghi, thanh thoát, chiếu sáng ngời hơn cả ánh trăng xa xăm kia. Các bạn ơi, ở một góc bức tranh, có một con chim se sẻ nhỏ xíu, không tên không tuổi, đang đậu trên một cành cây sa la, hai con mắt nhỏ xíu chăm chăm ngắm nhìn quang cảnh bảy vị “thần tiên” quay quần giữa khu rừng Sừng Bò đêm trăng rằm này. Những âm thanh hiền hòa, êm dịu, những ánh mắt thiện cảm, những nụ cười nhẹ an bình, thoang thoảng trong không gian mát lạnh, hương trời hay hương của gió, ru nhẹ cho ngàn hoa sa la ngủ say. Ngài Xá Lợi Phất kể lại cho Đức Phật nghe từng lời tâm tình của sáu vị, cuối cùng Đức Phật nói:

   -- Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ". Này Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.  


Chúng ta suy gẫm xem trong câu nói ngắn gọn này của Đức Phật, chứa đựng những gì?

-       Một nếp sống đơn giản, thực tế mỗi ngày: đi khất thực, ăn xong,

-       Thực hành đúng tư thế: ngồi kiết già, lưng thẳng.

-       Giữ chánh niệm: đặt niệm trước mặt.

-       Biết rõ mục tiêu: giải thoát khỏi các lậu hoặc.

-       Kết quả: không dính mắc thế gian, không có chấp thủ.

-       Quyết tâm, tinh tấn hay là quyết định ba la mật.

So sánh với những quan điểm của sáu vị đại đệ tử tuy cũng đều là đúng cả vì đều là hạnh sống và trải nghiệm của mỗi vị:

+ Sống viễn ly nơi rừng núi,

+ Hạnh tu đầu đà,

+ Hạnh đa văn, thuyết pháp giỏi,

+ Đàm luận về Chánh pháp

+ Thiên nhãn thông,

+ Điều phục hoàn toàn tâm mình v.v.


Nhưng chúng ta nhận thấy quan điểm của Đức Phật là:

-        Phổ biến nhất,

-        Thực tiễn nhất, vị tỳ kheo nào cũng phải áp dụng.

-       Từ bước đầu tới kết quả: bước đầu “đặt niệm trước mặt”, kết quả “sạch lậu hoặc”.


Kết luận, đây là một bài kinh ngắn như trăm ngàn bài kinh khác; tuy nhiên, bài kinh này, trong cái thấy chủ quan của mình, như một viên ngọc quý, một bức tranh đẹp, một bức tranh vô giá. Hôm nay xin tặng cho bạn tri âm "cảnh giới Niết Bàn giữa trần gian".

Thiền viện, ngày 23 - 05 - 2022
TN


blankTriệt Như - Tiếng Hát Giữa Trời - Bài 15
KHUNG CỬA SÁNG TRĂNG

blank

Reader's Comment
Sunday, May 29, 20229:15 PM
Guest
Kính chào Ni Sư.
Thức ăn Tâm.
Hình ảnh con chuột rúc từ trong đống rác đi ra.
Hình ảnh con heo đang tạp ăn .
Hình ảnh con nai đang ăn cỏ.
Hình ảnh con thú đang rình rập tìm mồi săn.
Hình ảnh con chim đang vạt lá miệng ngậm sâu ăn.
Hình ảnh con ong đang hút hoa làm mật.
Hình ảnh cánh hoa nở dưới ánh sương lung linh ban mai.
Hình ảnh con người ăn gì?.
Con người có thể chọn thức ăn cho mình. Tinh tuý thức ăn mình chọn mỗi ngày thể hiện trên gương mặt mình.
Con
Như quỳnh.
Sunday, May 29, 20223:34 PM
Guest
Kính chào Ni Sư .
Tâm,
Đang lái xe, trong trạng thái thư giản. Bỗng nhiên cảm thấy đôi chân hỏng lên, cả toàn thân như đang nhất bổng lên ra khỏi ghế ngồi. Chú ý lại thấy mình vẫn còn sitbell, vẫn trong trạng thái lái xe bình thường.
Nguyên nhân: lúc vào định, thư giản Tâm nên trở thành một thói quen, khi thư giản là dễ vào Định.
Khi trong trạng thái lơ lửng như vậy con nhận biết phần Tâm hình như nhẹ như bong bóng, ví như bong bóng được bơm không khí vào vậy, mỗi tế bào trong cơ thể dường như được giữ một lượng không khí bên trong, được kết nối thành chùm, như chùm bong bóng nhẹ bay lên cao vậy.
Con.
Như quỳnh.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, March 3, 20266:43 PM(View: 122)
Thiên nhiên vẫn tươi thắm, mai này dù mùa xuân có qua đi, hoa có tàn rồi hoa lại nở đón mùa xuân trở lại. Quí thầy cô dù có biến mất, mà pháp vẫn còn lặng lẽ hiển hiện trước mắt đây mà, sao lại một mình ngậm ngùi?
Wednesday, March 4, 20261:48 PM(View: 105)
Ni Sư Triệt Như CHÚC MỪNG NĂM MỚI BÍNH NGỌ 2026 Ngày 21 tháng 2, 2026 tại Thiền Đường Tánh Không Nam California.
Tuesday, March 3, 20265:46 PM(View: 105)
Thus, Concentration and Wisdom, Samādhi and Prajñā, cannot be separated. When Samādhi is stable, it enhances Prajñā. When the Transcendental Wisdom is fully integrated, our mind is no longer clung to worldly phenomena. It’s the mind of concentration, self-composed in front of the Eight Winds of Life.
Monday, March 2, 20264:17 PM(View: 134)
Trong giáo lý nhà Phật, Khổ là pháp ấn thứ hai trong “Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ và Vô ngã”. Khổ này được dịch từ tiếng Pali là “dukkha”. Dukkha là một thực tại cơ bản của cuộc sống, “không chỉ là nỗi buồn bực, khó chịu thông thường”, mà bao gồm ý nghĩa của “sự bất toàn, không hoàn hảo, không ổn định, vô thường, tạm bợ và sự không thỏa mãn trong vòng luân hồi v.v..."
Wednesday, February 18, 202611:59 AM(View: 512)
Những ngày cuối năm, khi nhịp sống dần lắng lại để chuẩn bị bước sang năm mới, chúng con có duyên lành được lắng nghe bài pháp về “Biết Như Thật” do Ni Sư Triệt Như giảng vào ngày 27 Tết Ất Tỵ tại Đạo tràng Nam Cali. Trong không khí giao thời ấy, lời giảng của Ni Sư như một tiếng chuông tỉnh thức, nhắc chúng con quay về với giây phút hiện tại, nhìn lại chính mình và tập sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc “đang là”.
Tuesday, February 10, 20265:15 PM(View: 370)
Seeing how vital truthfulness or perfection truly is. It’s not only as moral virtue, but also as wisdom itself, and even as a gateway leading to Nirvana.
Tuesday, February 3, 20266:14 PM(View: 456)
Tóm lại điểm then chốt trong chánh kiến là: Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý (saccapaṭivedhañāṇa - knowledge in penetration into the truths). Phần này gồm 2 điểm: 1) Biết như thật khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ./ 2) Biết như thật ta là chủ của nghiệp do ta tạo nên. Triệt tiêu được ý niệm "Ta," ý niệm về nghiệp chấm dứt. Không có nghiệp để trả và cũng không có người chịu quả báo
Tuesday, February 3, 20264:47 PM(View: 462)
So actually, Morality, Concentration, and Wisdom are just the three words, or just the tools. The Buddha laid them out to guide human beings of different capacities, just like the Eightfold Path, the Seven Factors of Awakening, Taking Refuge, or Leaving Household… All of them are merely speech or words temporarily shown by the Buddha. We shouldn’t closely attach to the language. Instead, we need realize what deeply hidden within the letters.
Tuesday, February 3, 20269:29 AM(View: 408)
Wenn ich heute zurückblicke, sind zwar erst wenige Jahre vergangen, doch es fühlt sich an, als wären es hundert gewesen. Die glücklichen Tage sind so schnell vergangen. Fünfundzwanzig Jahre. Wir konnten nicht einmal unsere Silberhochzeit feiern, dann ging einer nach dem anderen. Der Herbst kommt, dann der Frühling, dann wieder der Herbst … Jetzt hängen nur noch zwei gelbe Blätter am Zweig. Einsam und verlassen.
Monday, February 2, 20263:23 PM(View: 436)
Theo đạo Phật tất cả mọi sự vật, sự kiện, hiện tượng sinh ra do nhiều điều kiện. Vì do nhiều điều kiện, tức nhiều duyên kết hợp mà thành, gọi là “duyên sinh”, nên không thực chất tính, không độc lập, không tự ngã. Vì không tự ngã nên không tồn tại bất biến, luôn luôn ở trong trạng thái sinh diệt. Quá trình biến đổi liên tục trên vạn pháp trong thế giới vật chất, hay ngay cả trong tâm thức con người gọi là Vô thường.
Sunday, February 1, 20266:44 PM(View: 538)
Ni Sư Triệt Như đã có một buổi gặp mặt thân mật với Đạo Tràng Tánh Không Nam Cali vào ngày 17 tháng 1 năm 2026.
Tuesday, January 27, 20265:26 PM(View: 553)
There it is! The dreamlike land! My place of peace is this Patriarchal Temple, and it is also the whole world. How could there truly be coming or going and life or death? Wherever we go, it is still within this mundane life. Whether alive or dead, all of it is merely circling within this dreamland.
Sunday, January 25, 20267:43 PM(View: 623)
Khổ chỉ cho đặc tính phổ biến của tất cả sự hiện hữu, nói chung đều bất toại nguyện (unsatisfactoriness) đưa đến những xung đột nội tâm.
Wednesday, January 21, 20266:17 PM(View: 558)
Thắp sáng nội tâm hay soi sáng nội tâm là khai mở ánh sáng trí tuệ soi rọi vào bên trong tâm để nhận ra bản chất thực sự của chính bản thân mình và vạn pháp bên ngoài. Ánh sáng trí tuệ này giúp chúng ta có một cuộc sống an lạc và thăng hoa hơn.
Tuesday, January 13, 20266:11 PM(View: 795)
Today, recalling stories from the old days which were only some years ago; yet it feels like endlessly distant. Joyful days passed so quickly! Twenty years gone! There wasn’t even the chance to celebrate the twenty-fifth anniversary before everyone had drifted away. Fall is coming, then spring, then autumn again. And now, only two yellow leaves remain, lonely and thinly clinging to the branch.
Wednesday, January 7, 20269:42 AM(View: 800)
Aber wann denke ich denn nicht an unseren Meister? Ein gelbes Blatt fällt runter. Auf dem letzten Gemälde ist lediglich eine purpurrote Salablüte zu sehen, die herabfällt. Oder ein einzelnes, gelbes, trockenes Blatt, das von einem Zweig gefallen ist und im Garten verstreut liegt.
Tuesday, January 6, 202612:19 PM(View: 770)
In conclusion, a sudden breakthrough or realization must occur at least once, or even multiple times, along the path of practice for one to truly enter the Chan house. Only then can one walk forward freely, no longer encountering obstacles within the mind. If one has not yet realized the original mind, one is still standing outside the gate... Once the latter is clearly realized, the former naturally fades away.
Sunday, December 28, 20259:56 PM(View: 729)
Sáu năm trôi qua, từ ngày vắng bóng Thầy, chúng đệ tử vẫn tiếp tục hành trì pháp Thầy truyền trao. Các thiền sinh vẫn siêng năng họp chúng tu tập hằng tuần trên online, mỗi hai tháng các vị ấy đều về Thiền Viện nhập thất, cùng nhau ôn tập và chia sẻ kinh nghiệm tu tập.
Thursday, December 25, 20254:05 PM(View: 1151)
Mùa tưởng niệm Thầy, lúc nào lại không là mùa tưởng niệm Thầy? Một chiếc lá vàng rơi. Bức tranh cuối cùng này chỉ có một đóa hoa sala đỏ thắm rơi hay một chiếc lá vàng khô, lìa cành, rơi rụng trong vườn.
Tuesday, December 23, 20252:44 PM(View: 709)
Gọi là hương vị, vì người viết đã nếm được vị vô thường, nhận ra được tánh sinh diệt là điều tự nhiên, là sự vận hành của pháp... nên mỗi khi nhớ đến Thầy thì trong lòng không còn đau buồn hay sợ hãi trước những thay đổi bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Bạch Thầy, học trò kính dâng lên Thầy lòng thương kính và tri ân vô bờ.
Tuesday, December 16, 20258:47 AM(View: 809)
Tháng 12, TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ cùng nhau nghe lại tiếng nói của Thầy Thực hiện VIDEO: NHƯ ANH Đạo tràng Toronto
Thursday, December 11, 20253:03 PM(View: 1003)
Schools and lineages, Zen masters, various means of Dharma teachings are all conditioned phenomena. They arise and cease. The Utmost Truth, however, is unconditioned, eternal, and does not come and go.
Thursday, December 11, 202510:09 AM(View: 855)
Tháng 12, TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ cùng nhau đọc lại bài viết về Thầy của Ni sư
Wednesday, December 3, 20253:01 PM(View: 831)
Muốn đạt được “Trí tuệ vô lậu”, hành giả phải tu học, hành trì ba môn Vô lậu Giới-Định-Tuệ, là pháp môn mà Đức Phật đã đi qua và thực chứng trí tuệ ba minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh) dưới cội Bồ đề.
Wednesday, November 26, 20253:38 PM(View: 928)
Chinese Chan Buddhism is regarded as having begun with its First Patriarch, Bodhidharma, an Indian monk, via the “lion’s roar” awakened people to return to their original mind and recognize their inherent nature—empty, quiescent, and luminous.
Wednesday, November 19, 20257:46 PM(View: 1265)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Saturday, November 15, 20257:59 AM(View: 843)
Kinh Trường Bộ Tập 1 8. Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda sutta) còn có tên là Kinh "Đại sư tử hống" (Mahàsìhanàda Sutta)
Tuesday, November 11, 20258:39 PM(View: 1032)
So hat Buddha gelehrt: „Seid euch selbst ein Licht, dem ihr folgen könnt. Nehmt zur Wahrheit Zuflucht . Verlasst euch auf niemanden und nichts anderes!. Denn alles ist vergänglich“.
Tuesday, November 11, 20258:27 PM(View: 1091)
All the sects and sub-lineages in these two great transmission traditions have preserved the essential teachings of the Buddha and share the same ultimate goal: liberation from suffering, enlightenment, and self-emancipation.
Monday, November 10, 20258:10 PM(View: 1304)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Wednesday, November 5, 20252:07 PM(View: 931)
Ba cánh cửa giải thoát “ Không, Vô tướng, Vô tác ” là trí tuệ siêu vượt của Đức Thế Tôn trao truyền cho người hữu duyên. Đây là sự quán chiếu sâu sắc vê “ duyên khởi, tánh Không, vô thường, vô ngã và Niết-bàn ”.
Tuesday, November 4, 20259:29 AM(View: 868)
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 8 Tám Pháp VIII. Phẩm Song Đôi (73) Niệm Chết (1) (52) Niệm Chết (2)
Tuesday, November 4, 20251:31 AM(View: 1438)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Wednesday, October 29, 202512:54 PM(View: 1604)
TÀI LIỆU HỌC TẬP: Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025_KỲ 5 ngày 28 tháng 6, 2025 do Ni Sư Triệt Như trực tiếp hướng dẫn. Bao gồm các AUDIO & SLIDES từ Bài 17 đến Bài 20 có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4826/ky-5
Monday, October 27, 20253:44 PM(View: 1008)
Kinh Trường Bộ Tập 1 8. Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sìhanàda sutta) còn có tên là Kinh "Đại sư tử hống" (Mahàsìhanàda Sutta)
Wednesday, October 22, 20259:28 AM(View: 1064)
The Buddha taught the last wholehearted words before leaving this world: “Be a lamp unto yourself.” “Rely only upon the Dharma.” “Do not depend upon anyone or anything else.” “ Because ‘Everything in this world is impermanent’. ”
Tuesday, October 21, 202511:29 PM(View: 1340)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 16: TÁNH THẤY - Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Monday, October 20, 20258:54 PM(View: 1096)
Wir nennen sie die Motten „selbstverbrennende Insekten“, weil sie direkt ins Licht fliegen und tot zu Boden fallen, sobald sie die heiße Glühbirne berühren. Ich frage mich, welcher Instinkt sie dazu treibt und warum sie vom Licht angezogen werden. Warum fliegen sie immer wieder in die Glühbirne, obwohl sie sehen, wie andere Motten dabei ums Leben sterben?
Monday, October 20, 20254:06 PM(View: 1361)
Chapter 14, titled "Detachment from Forms to attain Tranquility," stands as one of the most vital and profound chapters within the Diamond Sutra. Its full name conveys that by letting go of all phenomenal forms and delusive thoughts, one can attain the state of ultimate stillness and cessation (Nirvana).
Wednesday, October 15, 20252:16 PM(View: 1833)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 15: TÁNH NGHE Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali.
Tuesday, October 14, 20256:47 PM(View: 1229)
Wherever coming, why did Venerable Bhaddiya keep saying, “Oh, peaceful indeed”? The other monks looked around, seeing only a quiet forest, a tree bottom, or an empty hut, and could not understand. They assumed Bhaddiya was recalling his luxurious royal life. This shows the worldly habit of common people projecting on their own subjective thinking.
Monday, October 13, 20257:52 PM(View: 1481)
Both "The Mu Koan" (in Japanese Zen Buddhism, especially the Rinzai school) and the "No-Talk" Technique (belonging to the Sunyata Meditation of Venerable Thich Thong Triet, a modern Vietnamese tradition rooted in Abhidharma and Nikāya) aim for a common goal: the direct realization of the Awareness Nature beyond words and concepts. However, their methods and psycho-cognitive contexts fundamentally differ.
Monday, October 13, 202511:12 AM(View: 7926)
Kinh Tăng Chi Bộ Chương 8: Tám Pháp VI. Phẩm Gotamì (51) Mahàpajàpatì Gotamì (52) Ai Giáo Giới?
Saturday, October 11, 20255:15 PM(View: 941)
Quán pháp trên các pháp trong kinh Tứ Niệm Xứ được hiểu là nhìn sự vật bằng cái nhìn khách quan, nhìn cái đang là của đối tượng ngay trong hiện tại, dù đối tượng thiện hay bất thiện trong tâm không phản ứng đồng ý hay bài xích.
Friday, October 10, 20254:10 PM(View: 995)
Kinh Phật Tự Thuyết Chương 1 Phẩm Bồ Đề (Udàna)
Wednesday, October 8, 202512:20 PM(View: 1733)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 14: TƯ THẾ TỌA THIỀN Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali.
Wednesday, October 8, 202511:31 AM(View: 1605)
Dans la pratique du Méditation, la méthode de relaxation de l’esprit ou de relaxation des pensées constitue une partie essentielle dans la création d’une réponse biologique immédiate permettant de guérir les maladies psychosomatiques et la neurasthénie. Elle est l’antidote à la dépression (stress), aux troubles émotionnels et elle rétablit les dysfonctionnements du système nerveux.
Wednesday, October 8, 202511:25 AM(View: 1018)
A person’s life is also like a constantly flowing stream, never stopping. Everything, health, youth, happiness, loved ones, all flows forward in a one-way direction: birth-aging-sickness-death, or in another way: arising-existing-decaying-disappearing. This one-way path means that once something has passed, it never returns exactly as it was.
Monday, October 6, 20253:14 PM(View: 1119)
Kinh Trường Bộ Tập 1 Phần 2 2. Kinh Sa-Môn Quả (Sàmannaphala sutta) (The Fruits of the Contemplative Life)
Wednesday, October 1, 202510:41 AM(View: 1336)
Au final, le chemin du perfectionnement réside uniquement dans un ksana. Un ksana de pleine conscience. Un ksana pour savoir comment vivre. C’est celui de l’étant. Rester dans le ksana de l’étant en permanence. C’est demeurer paisiblement dans le Nirvana.
Wednesday, October 1, 20259:34 AM(View: 1568)
Because of inner speech, the Mind never truly rests, even during sleep. Inner speech is the very fuel of liking (craving), disliking (aversion), and of various addictive passions, traditions, and attachments to family, society, and so on. It is the root of Suffering (delusion), for it is precisely what gives rise to psychosomatic illnesses, causes conflicts with others, and creates imbalance with the living environment.
Wednesday, October 1, 20259:30 AM(View: 1478)
Dans le parcours de pratique et de réalisation, le Bouddha n’a pas enseigné à chercher une divinité suprême ou une entité éternelle à l’extérieur, mais Il a directement montré à l’intérieur de ce corps-esprit, afin que le pratiquant puisse reconnaître la nature véritable de lui-même. L’un des enseignements essentiels qui aide le pratiquant à revenir à sa nature pure est la reconnaissance des quatre facultés : Voir, Entendre, Toucher et Percevoir.
Wednesday, October 1, 20259:26 AM(View: 1260)
For a long time now, the pepper tree has reminded me of the art of living, " adapting to situations yet staying unagitated." Its trunk is sturdy and solid, standing tall against the vast sky. Despite wind and rain, the trunk does not shake. This tree surely has a hard inner core. In the Buddhist discourse “The Simile of the Heartwood”, the Buddha compared the ultimate goal of virtuous life to mind liberation, which is similar to the heartwood of a tree, its most valuable part. The heartwood lies hidden deep inside the trunk, hard to see and find. Mind liberation is also abstract, difficult to seek and attain.
Monday, September 29, 20257:04 PM(View: 2172)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 13: NHỮNG TƯ THẾ THỰC TẬP THIỀN - Ngày 21 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES có tại LINK: https://www.tanhkhong.org/p105a4815/tai-lieu-hoc-tap-cac-slides-khoa-thien-can-ban-2025-ky-4-ngay-21-thang-6-2025.
Sunday, September 28, 202512:24 PM(View: 1114)
Trung Bộ Kinh Tập 1 Phần 39 1. Đại kinh Xóm ngựa (Mahà-Assapura sutta)
Wednesday, September 24, 202510:07 PM(View: 1286)
Trung Bộ Kinh Tập 1 Phần 1 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản (Mùlapariyàya sutta) (The Root Sequence)
Wednesday, September 24, 202510:38 AM(View: 1393)
This presentation compares the 'No-Talk' technique, from the Sunyata Meditation lineage taught by Venerable Thich Thong Triet, with Chapter 9: The Dharma-Gate of Non-Duality in the Vimalakirti Sutra, to clarify the similarities in their practice content and the state of mind that both methods aim to achieve.
Wednesday, September 24, 202510:31 AM(View: 1260)
Since the time we’ve been in this world, through countless lives, it remains faithful, side-by-side to us to remind of good and wholesome things. Many times, we might betray it or neglect it. But it keeps loyal to us. Who’s it? It’s the Knowing, the Mind. Thus, my friends, remember to live every moment fully with this silent, true-blue and crystal-clear ride-or-die companion.
Saturday, September 20, 20253:49 PM(View: 1196)
Tam giới gồm ba cõi : Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc là toàn bộ vũ trụ quan theo cái nhìn của Phật giáo. Tùy mức độ nghiệp lực và khả năng tu tập, mà chúng sanh sẽ tái sinh, sống ở một trong ba cõi này.
Thursday, September 18, 202510:37 AM(View: 1143)
There are two different types of spiritual backgrounds for renunciation. 1- For lay people. They get ordained due to: Decline of Old Age, Decline of Illness, Decline of Possessions, Decline of Beloveds and Blooded Relations 2- For those who are sagacious. They get ordained due to: The world is impermanent and subject to destruction, The world is aidless and unprotected, The world is non-ownership. When leaving it, one must drop down everything behind, The world is needy, insatiable, and enslaved by cravings...
Sunday, September 14, 20254:35 PM(View: 1865)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 12: THIỀN QUÁN ANUPASSANÀ - Ngày 14 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
Sunday, September 14, 20254:35 PM(View: 1877)
Ni Sư Triệt Như Khóa THIỀN CĂN BẢN 2025 Bài 11: NÃO BỘ - Ngày 14 tháng 6, 2025 tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali. Bài viết bao gồm VIDEO và các SLIDES.
69,256