Tóm lại điểm then chốt trong chánh kiến là: Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý Trên phạm vi Chân đế, ta cần đạt được tri kiến thể nhập chân lý (saccapaṭivedhañāṇa - knowledge in penetration into the truths). Phần này gồm 2 điểm: 1) Biết như thật khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ./ 2) Biết như thật ta là chủ của nghiệp do ta tạo nên. Triệt tiêu được ý niệm "Ta," ý niệm về nghiệp chấm dứt. Không có nghiệp để trả và cũng không có người chịu quả báo
So actually, Morality, Concentration, and Wisdom are just the three words, or just the tools. The Buddha laid them out to guide human beings of different capacities, just like the Eightfold Path, the Seven Factors of Awakening, Taking Refuge, or Leaving Household… All of them are merely speech or words temporarily shown by the Buddha. We shouldn’t closely attach to the language. Instead, we need realize what deeply hidden within the letters.
Wenn ich heute zurückblicke, sind zwar erst wenige Jahre vergangen, doch es fühlt sich an, als wären es hundert gewesen. Die glücklichen Tage sind so schnell vergangen. Fünfundzwanzig Jahre. Wir konnten nicht einmal unsere Silberhochzeit feiern, dann ging einer nach dem anderen. Der Herbst kommt, dann der Frühling, dann wieder der Herbst … Jetzt hängen nur noch zwei gelbe Blätter am Zweig. Einsam und verlassen.
Theo đạo Phật tất cả mọi sự vật, sự kiện, hiện tượng sinh ra do nhiều điều kiện. Vì do nhiều điều kiện, tức nhiều duyên kết hợp mà thành, gọi là “duyên sinh”, nên không thực chất tính, không độc lập, không tự ngã. Vì không tự ngã nên không tồn tại bất biến, luôn luôn ở trong trạng thái sinh diệt. Quá trình biến đổi liên tục trên vạn pháp trong thế giới vật chất, hay ngay cả trong tâm thức con người gọi là Vô thường.
There it is! The dreamlike land! My place of peace is this Patriarchal Temple, and it is also the whole world. How could there truly be coming or going and life or death? Wherever we go, it is still within this mundane life. Whether alive or dead, all of it is merely circling within this dreamland.
Kính nhờ Ban Điều Hành các Đạo tràng tổ chức GHI DANH chung cho Thiền sinh trong Đạo tràng để việc đưa đón được dễ dàng hơn
LỄ XUẤT GIA: 10 giờ sáng thứ bảy 4 tháng 4
ĐÊM HOA ĐĂNG: 6 giờ chiều thứ bảy 4 tháng 4
NGÀY TRUYỀN THỐNG: 10 Sáng chủ nhật 5 tháng 4, 2026
KHÓA TU MÙA XUÂN:Thời gian: từ 6- tới 15 tháng 4
Hôm nay, ngồi giữa chánh điện Thiền viện Chân Như – nơi kết tinh tâm huyết của Thầy – cũng như tại Tổ đình Tánh Không, California, chúng con nguyện gìn giữ và phát triển hai ngôi thiền viện này làm nơi trú xứ và sinh hoạt, học tập cho thiền sinh khắp nơi.
Tỳ Kheo Thích Không Đăng
Phát biểu nhân Lễ TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ
ngày 27 tháng 12, 2025 tại Tổ Đình Tánh Không
TÓM LƯỢC TIỂU SỬ THẦY THIỀN CHỦ
Hòa thượng Ân Sư THÍCH THÔNG TRIỆT
1 Thiện Hữu: võ sư Song Yến Phi_Trần Văn Hòa (Nam Cali) vừa hiến tặng cho Thiền Viện Vườn Trúc nhà anh chị
Đợt đầu Huynh Đệ Đạo tràng Nam Cali đã chung sức chuyển về Tổ Đình 10 chậu trúc lớn
Xin chia sẽ ở đây vài hình ảnh vườn trúc, nay đã tạo thêm 1 nét Thiền Vị cho Tổ Đình chúng ta.
Khi tổ chức một khóa tu, vấn đề quan trọng là chọn nơi chốn thích hợp, sau là vấn đề ăn uống. Ở Lake Tahoe này khung cảnh thích hợp cho khóa tu thiền, tĩnh lặng, không thấy người, mỗi nhà cách nhau quãng rừng thông, không có xe chạy...
Khúc Ca Chân Như là nhạc phẩm nói về Cuộc Đời của Đức Phật chia theo "Ba Giai Đoạn" tư duy của Thiền Sư Duy Tín:
[Hồi I: Nẻo Phàm
(Núi là núi, sông là sông)]
[Hồi II: Ly Trần
(Núi không là núi, sông không là sông)]
[Hồi III: Giác Ngộ Chân Như
(Núi vẫn là núi, sông vẫn là sông)]
Khi gió xuân đang về, khi mọi người đang chuẩn bị đón chào Tết đến, khi những chợ hoa, những gian hàng Tết được dọn ra, thì cũng chính là lúc những người nghèo khó tủi thân nhất. Họ tủi thân không chỉ vì cái nghèo, cái đói, mà đây chính là khoảng thởi gian họ cảm nhận rõ nhất sự tự ti, mặc cảm trong bản thân, cũng như khoảng cách giữa giàu nghèo trong xã hội.
Quá trình tu tập của Ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta) từ một vị Bà-la-môn trí thức đến khi chứng quả A-la-hán là một mẫu mực đặc biệt về trí tuệ – thấy pháp – buông chấp, được ghi lại rải rác trong Kinh tạng Nikāya, đặc biệt là Trường bộ (DN), Trung bộ (MN) và Tương ưng bộ (SN). Dưới đây là phần trình bày theo tiến trình tu chứng của Ngài Xá Lợi Phất.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu thảo mộc đã biết được phần nào sự tương tác giữa cây cỏ và động vật, như sự giao tiếp giữa cây với nhau và với động vật ăn cỏ, sự cảm xúc, nhìn thấy, biết nhận thức, đọc được tư tưởng con người, trí nhớ dài hạn, làm từ thiện, cạnh tranh thức ăn, ánh sáng…
Con người đã sống gần gũi với cây cối hàng trăm ngàn năm, nhưng vẫn chưa hiểu rốt ráo đời sống và hành vi của chúng so với các động vật.... Hiện nay, các nhà nghiên cứu thảo mộc đã biết được phần nào sự tương tác giữa cây cỏ và động vật, như sự giao tiếp giữa cây với nhau và với động vật ăn cỏ, sự cảm xúc, biết nhận thức, có trí nhớ dài hạn, cạnh tranh thức ăn, ánh sáng…
Thực ra Kỹ thuật KHÔNG NÓI của HT. Thích Thông Triệt không đối lập với Anapanasati Sutta, mà là một cách “đi đến cốt lõi” tinh thần Anapanasati, đặc biệt ở giai đoạn tuệ quán – vô ngã.
NIỆM, CHÁNH NIỆM, CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC Dù là những danh từ chết, thuật ngữ vẫn là những danh từ chuyên môn của một bộ môn. Tác dụng từ chuyên môn này nhắm giúp người mới bắt đầu đi vào ngành chuyên môn hiểu được thực chất các từ ngữ chết đó nói lên ý nghĩa gì, công dụng ra sao... Khi hiểu sai, sự dụng công của ta dễ dàng đưa đến sai. Tất nhiên kết quả sẽ trái với điều ta mong muốn
Lý do chủ yếu của những nỗi thống khổ đó là do ta có cái nhìn lầm lạc (a perverted vision) về cuộc đời, về thế gian và hiện tượng thế gian; đặc biệt nhất là ta lầm lạc đối với chính ta.
Thiền giúp cho cuộc sống con người được hài hòa cùng với môi trường chung quanh. Đó là những sự hài hòa giữa thân và tâm của cá nhân, hài hòa giữa cá nhân này với cá nhân kia, và hài hòa giữa cơ thể của cá nhân với thời tiết trong thiên nhiên.
Năm 2010, Thầy Thiền chủ Thích Thông Triệt đã cho phát hành quyển sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học. Thầy mượn thiết bị hay phương tiện Khoa học Tây phương để chứng minh lời dạy hay Pháp của Đức Phật, thật sự đã tác động vào đâu trên vỏ não, trong giữa não, trên hệ thần kinh tự quản, trong tuyến nội tiết. Người hành Thiền sẽ có kinh nghiệm như thế nào trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh của chính mình trong khi thực hành Thiền.
Hầu hết những bài ghi lại trong Tập 2 là những bài Thầy Thiền Chủ đã giảng từ năm 1995 cho trình độ Căn Bản, thích hợp với người chưa biết Thiền. Riêng Tập 2, Cuốn 2 được phát hành năm 2005 này chú trọng về thực hành. Ước mong của Thầy là giúp người chưa biết Thiền, muốn biết Thiền, có cơ hội thực tập theo Thiền Phật giáo thuộc 3 hệ: Nguyên Thủy, Phát Triển và Thiền Tông.
Q.H, Đạo tràng Paris rút tỉa, sắp xếp, cắt dán lại những thuật ngữ Thiền từ các sách mà Thầy đã xuất bản -
Trương Đăng Hiếu, Đạo tràng Nam Cali đánh máy, trình bày lại để làm tư liệu Anh chị thiền sinh cùng nhau tu học.
Bài Luận giảng này cho chúng ta biết rằng: điểm quan trọng bậc nhất của Thiền chỉ là làm chủ tâm ngôn. Không làm chủ được tâm ngôn, dù chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, đường Thiền của ta sẽ đến nơi bế tắc.
VIDEO Phóng Sự Kỳ Đo Não Bộ Hòa thượng THÍCH THÔNG TRIỆT
tại Đại học Tuebingen Đức Quốc năm 2013
- Giới thiệu: Quang Chiếu
- Quay phim: Tuệ Nguyên
- Edit: Chúc Hải
TỔNG KẾTCÔNG TRÌNHNGHIÊN CỨU GIỮA ĐẠI HỌC TÜBINGEN (GERMANY) VÀ HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG (USA)
TỪ 2007 ĐẾN 2013 VỀ ĐỀ TÀI “ TƯƠNG QUAN THỰC NGHIỆM GIỮA THIỀN VÀ CÁC ĐỊNH KHU NÃO BỘ
Năm 2010, Thầy Thiền chủ Thích Thông Triệt đã cho phát hành quyển sách Thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học. Thầy mượn thiết bị hay phương tiện Khoa học Tây phương để chứng minh lời dạy hay Pháp của Đức Phật, thật sự đã tác động vào đâu trên vỏ não, trong giữa não, trên hệ thần kinh tự quản, trong tuyến nội tiết. Người hành Thiền sẽ có kinh nghiệm như thế nào trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh của chính mình trong khi thực hành Thiền.
Hình ảnh Tang Lễ Thầy Thiền Chủ -
Ngày 1 tháng 1: Lễ Nhập quan và Thọ tang -
Ngày 3 tháng 1: Lễ tưởng niệm Tại Thiền ViệnChân Như -
Ngày 4 tháng 1: Lễ Di quan và Trà Tỳ
Mùa tưởng niệm Thầy, lúc nào lại không là mùa tưởng niệm Thầy? Một chiếc lá vàng rơi.
Bức tranh cuối cùng này chỉ có một đóa hoa sala đỏ thắm rơi hay một chiếc lá vàng khô, lìa cành, rơi rụng trong vườn.
Các ông đều trình bày đúng theo kinh nghiệm của mỗi vị. Còn đây là câu trả lời của ta:
“Tỷ-kheo sau khi đi khất thực và thọ trai về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: "Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.'' Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.
Sau khi nhận ra rõ ràng sự hiện hữu của thiên nhiên và con người trên thế gian, do nhân và duyên mà có mặt, lại do nhân và duyên mà thay đổi và biến mất rồi lại tái sinh, dòng sống của con người và thiên nhiên cứ tuôn chảy mãi như thế không ngừng, người ẩn sĩ cô độc trong khu rừng già bên bờ sông Nerañjarā (có khi viết là Niranjana) giờ đây đã thấy rõ tất cả những diễn tiến trong đời, đã tháo gở ra tất cả các sự rối ren phiền muộn từng ấp ủ ray rứt trong tâm.
Ngày qua ngày, trăng từ từ khuyết rồi biến mất trong màn đêm, rồi trăng lại từ từ lên, lại tròn hơn. Dòng tâm của ngài tuôn chảy trong hơn, trong hơn, hỷ lạc từ từ nhẹ nhàng, chỉ là an lạc, rồi thanh thản, trầm lặng, không còn thân, không còn tâm. Tại sao ta có mặt ở đây? Vì đời trước ta đã có mặt, đã sống như thế. Tại sao đời trước ta như thế? Vì đời trước nữa ta đã như thế v.v…
Sáng nay, thái tử ngồi một mình dưới bóng mát tàn cây jambu, thả tầm mắt nhìn xuống khoảng không gian tươi mát, cây lá xanh xanh, hoa nở, âm thanh tiếng trống bập bùng, tiếng kèn trầm bổng vang lên từ cánh đồng, bao nhiêu màu sắc xanh đỏ trắng vàng qua qua lại lại.
Hôm nay vẽ lại bức tranh Lumbini này, tâm cũng còn thấy ngậm ngùi. Thương đời, thương mình. Nhớ khi xưa, từ năm 2.000, lần đầu được tham gia chuyến hành hương Ấn Độ- Nepal, do Thầy Thiền Chủ của mình tổ chức. Lần đầu tới thánh tích Lumbini, ngôi đền thờ hoàng hậu Māyā lúc ấy sơn toàn màu hồng hồng của gạch nung...
Trong thế giới Phật giáo, có lẽ có 3 mùa xuân được nhiều người con Phật tưởng nhớ nhiều nhất là mùa xuân thái tử Siddhattha chào đời, mùa xuân ngài giác ngộ và mùa xuân ngài nhập diệt.
Mãi ngắm nhìn ngọn lửa mà ý cứ tuôn tràn, không hay ngọn lửa từ từ nhỏ lại, rồi cuối cùng tắt mất. Củi hết thì lửa tắt. Vậy ngọn lửa đi đâu? Có lửa hay không có lửa?
Nếu mình sống bình thường, thì an lạc, đâu có đau hay khổ. Tại mình không có chánh niệm tỉnh giác, mới bị cái dầm, bên ngoài, là thứ dơ bẩn, nguy hiểm, dù cho nhỏ bé, cũng làm cho mình đau, mình khổ.”
Nhận biết Thiền lúc nào là vô vi pháp, lúc nào là hữu vi pháp. Khi mình tập Thiền, theo giờ giấc nhất định, ngồi đúng tư thế, có kỹ thuật để dụng công, có cố gắng hay tác ý dụng công, đó là pháp có điều kiện, là hữu vi pháp, kết quả giới hạn. Khi sống bình thường, tùy hoàn cảnh ứng xử tự nhiên, thì là sống Thiền, là pháp vô vi, không cần điều kiện, tức là sống tùy duyên thuận pháp, hay để cho các pháp tự vận hành. Điều này thiệt đơn giản, trong đời, có nhiều khi mình đã sống đúng như vậy, nhưng mình không nhận ra thôi.
Cửa nào cũng có thể đi vào Đạo. Nhưng thiệt ra Đức Phật Thích Ca đã đi bằng cửa nào?
Đây là câu hỏi chủ ý của bài viết này. Đức Phật Thích Ca đã dùng phương tiện nào để đạt 4 tầng Thiền dễ dàng như vậy?
Muốn đạt được kết quả tốt, người thực hành phải hội đủ 5 tiêu chuẩn cần thiết: Tự lực, Nhu cầu, Quyết tâm, Lý thuyết, và Lý luận. Đây là 5 tiêu chuẩn lập thành hệ thống lý luận thực tiễn trong việc thực hành Thiền Phật giáo. Muốn điều chỉnh thân, cải tạo tâm, cân bằng thân-tâm, và phát huy trí tuệ tâm linh có hiệu quả, 5 tiêu chuẩn nói trên không thể tách rời nhau được.
Cốt lõi là cái tinh túy, cái tinh ba. Chớ không phải cái bề ngoài. Nếu so với cái cây, nó không phải là lá cây, cành cây.v.v. mà là cái lõi bên trong của cây. Cái cốt lõi đó phải ngắn gọn, mới gọi là cốt lõi. Mà trong đạo Phật có nhiều cốt lõi lắm. Tại sao vậy?
So actually, Morality, Concentration, and Wisdom are just the three words, or just the tools. The Buddha laid them out to guide human beings of different capacities, just like the Eightfold Path, the Seven Factors of Awakening, Taking Refuge, or Leaving Household… All of them are merely speech or words temporarily shown by the Buddha. We shouldn’t closely attach to the language. Instead, we need realize what deeply hidden within the letters.
Wenn ich heute zurückblicke, sind zwar erst wenige Jahre vergangen, doch es fühlt sich an, als wären es hundert gewesen. Die glücklichen Tage sind so schnell vergangen. Fünfundzwanzig Jahre. Wir konnten nicht einmal unsere Silberhochzeit feiern, dann ging einer nach dem anderen. Der Herbst kommt, dann der Frühling, dann wieder der Herbst … Jetzt hängen nur noch zwei gelbe Blätter am Zweig. Einsam und verlassen.
There it is! The dreamlike land! My place of peace is this Patriarchal Temple, and it is also the whole world. How could there truly be coming or going and life or death? Wherever we go, it is still within this mundane life. Whether alive or dead, all of it is merely circling within this dreamland.
Today, recalling stories from the old days which were only some years ago; yet it feels like endlessly distant. Joyful days passed so quickly! Twenty years gone! There wasn’t even the chance to celebrate the twenty-fifth anniversary before everyone had drifted away. Fall is coming, then spring, then autumn again. And now, only two yellow leaves remain, lonely and thinly clinging to the branch.
Aber wann denke ich denn nicht an unseren Meister? Ein gelbes Blatt fällt runter. Auf dem letzten Gemälde ist lediglich eine purpurrote Salablüte zu sehen, die herabfällt. Oder ein einzelnes, gelbes, trockenes Blatt, das von einem Zweig gefallen ist und im Garten verstreut liegt.
In conclusion, a sudden breakthrough or realization must occur at least once, or even multiple times, along the path of practice for one to truly enter the Chan house. Only then can one walk forward freely, no longer encountering obstacles within the mind. If one has not yet realized the original mind, one is still standing outside the gate... Once the latter is clearly realized, the former naturally fades away.
Schools and lineages, Zen masters, various means of Dharma teachings are all conditioned phenomena. They arise and cease. The Utmost Truth, however, is unconditioned, eternal, and does not come and go.
Chinese Chan Buddhism is regarded as having begun with its First Patriarch, Bodhidharma, an Indian monk, via the “lion’s roar” awakened people to return to their original mind and recognize their inherent nature—empty, quiescent, and luminous.
So hat Buddha gelehrt: „Seid euch selbst ein Licht, dem ihr folgen könnt. Nehmt zur Wahrheit Zuflucht . Verlasst euch auf niemanden und nichts anderes!. Denn alles ist vergänglich“.
All the sects and sub-lineages in these two great transmission traditions have preserved the essential teachings of the Buddha and share the same ultimate goal: liberation from suffering, enlightenment, and self-emancipation.
We use cookies to help us understand ease of use and relevance of content. This ensures that we can give you the best experience on our website. If you continue, we'll assume that you are happy to receive cookies for this purpose.