HỘI THIỀN TÁNH KHÔNG TRUNG ƯƠNG

KHÁI QUÁT VỀ "QUÁ TRÌNH NGỘ ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO" CỦA THẦY THIỀN CHỦ DÒNG THIỀN TÁNH KHÔNG

Wednesday, February 19, 202010:56 PM(View: 6079)

KHÁI QUÁT VỀ "QUÁ TRÌNH NGỘ ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO" CỦA THẦY THIỀN CHỦ DÒNG THIỀN TÁNH KHÔNG

------------------------------------------------------------------

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

 

I. DẪN NHẬP

          

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật;

          Hôm nay là ngày 16 tháng 2, 2020 nhằm ngày 23 tháng Giêng năm Canh Tý, tại Trung Tâm Sinh Hoạt Hội Thiền Tánh Không Texas.  Chúng ta vừa làm Lễ Tưởng Niệm và Tri Ân Thầy Thiền Chủ. Thầy chúng ta rời xa thế gian, tính đến nay là thất thứ 7, thực ra chính xác là 52 ngày.

          Nhân dịp này cô Hội Trưởng Tâm Như đề nghị chúng tôi trình bày đề tài "Quá Trình Thành Lập và Phát Triển Dòng Thiền Tánh Không", một số thiền sinh khác lại yêu cầu chúng tôi kể về "Cuộc đời tu tậpngộ đạo của Thầy Thiền Chủ". Cả hai đề tài này đều quan trọng và liên hệ với nhau. Thể theo sự thỉnh cầu được nghe cả hai đề tài của quý vị, nên chúng tôi sẽ trình bày "Khái quát" hai đề tài này và dĩ nhiênthời gian nghe pháp sẽ dài hơn mọi khi.

          Những gì chúng tôi trình bày hôm nay, chỉ nói lên một phần hiểu biết nhỏ nhoi của người học trò được biết những gì, Thầy cho phép được biết mà thôi!

          Ngày xưa Đức Phật đã trải qua 6 năm tu khổ hạnh, đó là do Ngài chọn lựa. Còn Thầy Thiền Chủ thì tu hành trong hoàn cảnh khắc nghiệt khổ sở suốt thời gian dài 14 năm, mà Thầy gọi đó là "nhập thất bất đắc dĩ". Nhập thất trong các nhà tù và các trại cải tạo từ Nam ra Bắc, từ Bắc về Nam.

 

 

II. TIẾN TRÌNH TU TẬPNGỘ ĐẠO CỦA THẦY THIỀN CHỦ

 

A. ĐI TRONG ĐƯỜNG HẦM

(Từ tháng 7/1975 đến đầu năm 1981)

          Tháng 7 năm 1975, Thầy bị bắt đi “nhập thất bất đắc dĩ” trong suốt 14 năm tại các trại tù cải tạo từ miền Nam ra miền Bắc. Trong 7 năm đầu Thầy bị biệt giam và lợi dụng tình cảnh này để thực thập thiền 10 tiếng mỗi ngày. Thầy theo phương pháp “Có vọng không theo”, mỗi khi vọng tưởng nổi lên thì Thầy xé một mảnh giấy nhỏ bỏ vào thùng rác, chẳng bao lâu thùng rác đã đầy. Trại giam càng lúc càng đông, Thầy vẫn bị biệt giam. Trước nghịch cảnh này Thầy quyết tâm "chết" để cầu giải thoát cảnh luân hồi, bằng cách tranh thủ ngày đêm công phu thiền.

          1) Không-Không Tâm hay Diệt Tâm: Khi ổn định chỗ ở, Thầy bắt đầu áp dụng phương pháp "Không-Không Tâm Pháp". Đây là pháp tu diệt tâm, nhưng không thấy mình diệt tâm. Tất cả tâm đều mất: Tâm đời, tâm đạo đều không còn. Chỗ đến là "không tâm", không còn ý thức về trạng thái "không tâm".

          Muốn tu pháp này phải "diệt niệm". Thầy cho rằng niệm là tâm. Niệm không khởi thì tâm không có. Tu tập một tháng, không kềm chế được Niệm nên Thầy bỏ phương pháp ngăn chận niệm này.

          2) Quay sang thực hành pháp "Thấy vọng liền biết, biết vọng liền lìa", hoặc "như mèo rình chuột" do Sư Ông Thanh Từ dạy. Sau hai tháng hành trì, vọng niệm, tạp niệm vẫn triền miên nhảy ra không dứt.

          3) Thầy chuyển qua tu "Nhập định". Muốn nhập định phải "tu quán tâm, nhiếp tâm, trụ tâm".

          - Quán tâm:  Là quán 3 loại tâm: Quá khứ, hiện tại và tương lai của chính Thầy. Tâm hiện tại đối với Thầy là sở thích, là thói quen cần phải diệt. Tâm quá khứ là sự luyến tiếc cuộc sống đã qua và lòng hối hận phải cắt đứt. Tâm tương lai là nuôi nguyện vọng, hoài bảo, trông chờ được tự do. Tất cả 3 tâm này phải diệt.

          - Nhiếp tâm: Để kiềm chế con ngựa tâm. Thầy tự đưa ra giới luật để nhiếp tâm như sau: - Nhớ quá khứphạm giới. Ước vọng tương lai là phạm giới - Giữ thói quen, sở thích trong hiện tạiphạm giới. - Tham gia các trò chơi với bạn tù như: đánh cờ tướng, nghe kể chuyện phiếm, chuyện kiếm hiệp Kim Dungphạm giới, hoặc tham gia văn nghệ, nghe đài, xem báo là phạm giới.

          Thầy phấn đấu gay go nhiếp giữ không cho tâm khởi niệm, nhưng hoàn toàn thất bại.

          Một hôm vào giờ vệ sinh trại, có người tù khoảng chừng 60 tuổi từ trại khác chuyển đến hỏi: "Thầy được 70 chưa?". Thầy giựt mình hoảng hốt, không ngờ chưa đến 15 tháng mà mình đã già đến thế. Thầy trả lời: "- Mới 45 tuổi".

          Thầy biết không ngủ một thời gian lâu dài, có hại cho cơ thể, nhưng không ngờ nó tác hại mạnh như thế, mới 45 tuổi mà trông già như ông lão 70. Nhưng ban ngày phải đi lao động, thời gian tu tập là ban đêm, không còn sự chọn lựa nào khác.

          Bây giờ Thầy chuyển sang giai đoạn "Trụ tâm" tức là chuyển sang sự tập trung chú ý. Chú ý vào đỉnh đầu (huyệt Thừa Quan), giữa trán (huyệt Ấn Đường giữa 2 chân mày đầu sóng mũi), giữa ngực (2 bên vú là huyệt Chiên Trung). Pháp này giúp tâm Thầy tạm yên lặng, niệm tâm bớt nhảy ra lung tung, nhưng Thầy cũng không vào được định. Tuy nhiên với phương pháp trụ tâm này đã giúp Thầy được khoẻ mạnh, không bị cảm cúm ghẻ lỡ như những bạn tù xung quanh. Thầy còn khám phá ra trụ ở huyệt Thừa Quan thì trị được bệnh hôn trầm, buồn ngủ trong khi toạ thiền. Trụ ở huyệt Ấn Đường trị được bệnh nghẹt mũi, sổ mũi hay viêm mũi. Trụ ở huyệt Chiên Trung trị được bệnh ho, hen suyễn, viêm cổ họng. Sau này Thầy chỉ lại cho các bạn tù để họ tự điều chỉnh bệnh vì trong tù rất khó kiếm thuốc.

          4) Thầy lại chuyển sang công án Vô Niệm.  Thầy nghĩ vấn đề then chốt của định là Trung Khu Thần kinh, là 17 tỷ tế bào. Các tế bào này dừng lại không "quậy" nữa thì vào định. Nhưng không biết làm sao cho nó không quậy.

- Đến tháng 9/1979 người ta chuyển Thầy đến trại Thanh Liệt. Tại đây Thầy bị "làm việc" (khai báo) suốt 6 tháng trời. Tuy nhiên Thầy vẫn tiếp tục tu tập theo cách của Thầy. Đến tháng 4/1980 thì Thầy không còn bị khai báo nữa, có nhiều thì giờ tu tập nhưng vẫn bị kiểm soát chặt chẻ.

          5) Thở Tuỳ: Pháp Vô Niệm không có kết quả như ý nên Thầy đổi qua pháp Thở Tuỳ (Tuỳ tức) theo "Lục diệu pháp môn”, là pháp Thở gồm 6 giai đoạn: 1) Sổ tức (đếm hơi thở), 2) Tuỳ tức (để tâm theo hơi thở). 3) Chỉ. 4) Quán, 5) Hoàn. 6) Tịnh) và thở Khí Công. Hai pháp thở này giúp cho sức khoẻ Thầy rất tốt.

- Mãi đến đầu năm 1981, Thầy mới được "nhập thất đúng nghĩa theo tinh thần Phật giáo".  Thầy tha hồ nhập thất: Sáng: Từ 7 giờ đến 11 giờ. Chiều: Từ 2 giờ đến 5 giờ. Khuya: Từ 2 giờ đến 5 giờ sáng.

 

B. LẦN ĐẦU TIÊN NGỘ ĐẠO

           -  Vào lúc 4 giờ sáng mùng 4 Tết năm 1981, Thầy vẫn toạ thiền như thường lệ, ngồi hoài vẫn chưa nhập được định.  Tính ra, đã hơn một tháng Thầy được nhập thất gần như tự do. Mỗi ngày toạ thiền 10 tiếng đồng hồ, vọng tâm cứ khởi hoài không yên. Hôm nay cũng thế. Thầy suy nghĩ một hồi rồi cảm thấy quá thất vọng, quá đau khổ. Từ đau khổ, Thầy nổi cơn tức giận, quyết định bỏ tu. Thầy ghi lại trong quyển sách trình pháp lên Sư Ông Thanh Từ nguyên văn như sau: "Nếu có một pháp nào hay hơn thiền, hay hơn Phật giáo con sẽ theo. Chứ không chịu khổ mãi. Bỏ ngủ hoài để tu, mà tu mãi chẳng được gì?".

Bực tức quá Thầy cầm cây bút bi viết lên tờ giấy: "Không thiền, không quán, không chỉ, không định, không trụ, không bất, không ly, không phi, không diệt, không nhiếp, không vô, không, không, không, không!". Đến chữ "không" cuối cùng, Thầy thuận tay gạch mạnh một đường bút bi dưới chữ "không" đó.

 Ngay khi cánh tay vừa vút mạnh lên khỏi đầu rồi đưa mắt nhìn cánh tay, Thầy bất thình lình nhận ra cách giải chủ đề mà Thầy đã bế tắc trong nhiều năm qua.  Đó là không nói thầm trong não thì có định!”.  Mừng quá, Thầy cười to lên! Liền lúc đó, Thầy nhận ra thêm là lâu nay Thầy đã vướng mắc vào rừng ngôn ngữ của những định nghĩa hàn lâm và lòng vòng trong các luận giải Thiền.  Bây giờ dẹp hết từ ngữ hàn lâm, lòng vòng, rồi không nói thầm trong não thì vào được chỗ biết rõ ràng, rỗng rang, và trùm khắp của Tánh Giác.

- Ngay lúc này Thầy cảm thấy tâm Thầy trống rỗng. Bấy lâu nay Thầy bỏ công sức tìm kiếmthực ra Thiền là chẳng có gì cả. Thầy vui mừng, sửa quần áo ngay ngắn, quỳ xuống đất hướng về miền Nam lạy tạ Sư Ông 4 lạy. Nhờ có Sư Ông mà Thầy thể nhập được cái "trống rỗng".

- Lúc đó Thầy cao hứng lập bài kệ:

"Ta đã hết rồi chuyện thế gian
Tâm ta thanh thản như mây ngàn
Đâu còn chi nữa mà đem nói
Ý bặt, lời không, óc rỗng rang"

         

C. GIẢI THÍCH TRẠNG THÁI NGỘ ĐẠO

          Thầy giải thích "trạng thái ngộ đạo" này của Thầy là trạng thái "Phá Nghi" hay "Giải nghi". Giải nghi điều gì?  Đó là:

          1) Thầy tu thiền mà chưa biết "cốt lõi" của thiền là gì? Thầy nghe giảng thiền là tu tâm, là "tâm tông" rồi tìm cách diệt tâm, nhưng không diệt được vì lúc nào trong đầu cũng khởi lên ý nghĩ "diệt" khiến cả ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai liên tục xuất hiện.

          2) Thầy tìm "trạng thái định" mà không biết định là gì? Trong đầu Thầy suy nghĩ theo sách vở: "Định là tập trung tư tưởng bằng phương thức Quán hay dừng lại của phương thức Chỉ".

          3) Thầy bị vướng theo "cổ tắc" là những nguyên tắc xưa củ, dính mắc với từ ngữ nào là: "Vô niệm, Vô ngôn, Diệt niệm, Về nhà, Diệu ngộ, Một niệm vô sanh đạt Niết Bàn v.v...". Thầy nói rằng Thầy chạy theo ngôn từ như con két mà không hay.

          4) Khi đau khổ tột cùng, bờ đê cố chấp bị phá vỡ. Mọi chấp hữu tức chấp có bị tan vỡ, nên Thầy mới viết trên giấy một loạt chữ như: "không tu, không định, không chỉ, không quán, không ly, không diệt v.v...". Khi buông bỏ tất cả, Thầy chìm trong cái Không. Trong đầu trống không nghĩa là tâm ba thời không có người diệt mà tự nhiên đóng cửa.

          5) Ngay lúc đó, Tuệ tri bật ra tự diễn tả cái trống không trong đầu Thầy:

"Ta đã hết rồi chuyện thế gian
Tâm ta thanh thản như mây ngàn
Đâu còn chi nữa mà đem nói
Ý bặt lời không óc rỗng rang"

          Thầy giải thích thêm. Thức bây giờ trở thành Trí. Tuệ trí được tự động khai mở mà không cần phải vận dụng sự tính toán, sự tư duy. Người học đạo trước hết phải "ngộ" được lý, mà không thông qua lý giải của bậc tiền bối hay thiện tri thức. Vì thấy đạo như vậy là một sự "rập khuôn", một sự "ấn tâm". Truyền "tâm ấn" chỉ mới là "cách chỉ đường","ngón tay chỉ mặt trăng". Còn đi đến nơi hay thấy được mặt trăng là phải thông qua công phu và phải tạo ra được trạng thái hoạt hoá đồng bộ của khí huyết và hệ thần kinh của chính mình.

- Tóm lại trong thời gian gần 6 năm từ tháng 7/1975 tới tháng 2/1981 Thầy không hiểu đạo nên phải "Đi Trong Đường Hầm". Bây giờ Thầy mới vở lẽ: "Thiền chẳng có gì cao siêu cả. Nó là không! không! không! là một trạng thái TRỐNG KHÔNG TUYỆT ĐỐI". Đây là lần ngộ đạo đầu tiên, Thầy thấy được ánh sáng loé lên ở cuối đường hầm.

- Sau khi ngộ đạo Thầy cảm thấy trong tâm lúc nào cũng khởi lên niềm vui. Không còn lấn cấn với tâm quá khứ, hiện tại hay tương lai. Không còn giật mình sợ hãi mỗi khi bị quản trại gọi lên "làm việc" (khai báo) như trước kia. Không còn nghĩ đến việc bao giờ được trả tự do. Không còn nghĩ "Bất quá chết là hết" như lúc trước. Bây giờ Thầy chấp nhận trả quả, khi nào hết nghiệp tù thì sẽ được trả tự do. Thời gian này khi toạ thiền, Thầy vào được định chừng 5 đến 10 phút niệm mới khởi.

- Đến năm 1982, chỉ mấy tháng sau khi kinh nghiệm Định, những bệnh tâm thể trước kia dần dần được điều chỉnh, thần sắc trở nên trong sáng.

- Nhưng mà NGỘ ĐẠO chỉ là mới bước đầu. Cuộc hành trình trước mặt còn nhiều nhiêu khê.

 

D. PHÁP "KHÔNG NÓI" HAY "TẮT LỜI"

- Bây giờ Thầy lấy câu kệ: "Ý bặt, lời không, óc rỗng rang" để làm phương thức tu tập. Gốc của niệm là Lời. Lời được phát ra từ Ý. Ý nằm trong não, nên gốc của lời được phát ra từ não. Như vậy phải tắt lời từ trong não. Miệng chỉ là cửa ngõ của lời. Miệng không động, lời không phát ra âm thanh, nhưng vẫn còn phát ra trong trí não. Lời nói từ trong não là sự suy nghĩ, sự tưởng nhớ, sự diễn đạt, sự lý luận. Lời nói thầm này tạo ra vọng niệm, tạp niệm. Thầy đặt tên nó là "lời nói thầm trong não".

- Thầy bắt đầu tu tậpbước đầu tiên là "dùng lời tắt lời". Thầy xử dụng hai từ "Không Nói" để công phu. Một thời gian sau, Thầy tiến lên một bước là "dùng Ý tắt lời, rồi "tắt luôn Ý và Tưởng".

- Tháng 3/1986: Sau hơn 10 năm trong tù Thầy mới thật sự đạt được trạng thái "Ý bặt, lời không, óc rỗng rang" mà Thầy đã cao hứng nói kệ vào tháng 2/1981. Lúc đó Thầy gọi pháp thành công này là "Tắt Lời Đồng Bộ". Bây giờ pháp này là "KHÔNG NÓI toàn bộ" nghĩa là trạng thái "Default mode network", toàn bộ 17 tỷ tế bào trong não yên lặng.

 

III. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HOẰNG PHÁP TRONG SỰ

 THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN DÒNG THIỀN TÁNH KHÔNG

          - Tháng 2/1989, Thầy được trả tự do sau 14 năm bị giam cầm. Thầy muốn nhập thất thêm một năm nữa tại Thiền viện Trúc Lâm để hoàn chỉnh pháp tu. Nhưng không thuận duyên vì vẫn bị theo dõi thường xuyên.

          - Tháng 2/1992, với sự giúp đỡ của Sư Ông Thanh Từ, Thầy sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO. Ban đầu ở thành phố Seattle (Washington State).

          - Năm 1993, Thầy dọn về tiểu bang Oregon.

          - Đầu năm 1995 Thầy bắt đầu mở Khoá Thiền Căn Bản đầu tiên tại tiểu bang Oregon.

          - Đầu năm 1998 thì Thầy dọn về thành phố Westminter, Nam California. Vào ngày 8/11/1998 Thầy hoàn tất một bản Thanh Qui nêu lên Mục đích, Nội Dung và Kỷ Luật dành cho các thiền sinhtu sĩ theo học những Khoá thiền do Thầy hướng dẫn.

          - Năm 2000 Thầy dọn về thành phố Perris, Nam California, chính thức dựng bảng Thiền Viện Tánh Không tại nơi này.

          - Tính đến năm 2015 Thầy đã lần lượt chứng minhthành lập 15 đạo tràng Thiền Tánh Không ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ và ngoại quốc như California, Texas, Canada, Pháp Quốc, Đức Quốc, Thuỵ Sĩ, Úc Châu. Sau này Ni Sư Triệt Như đi hoằng pháp thành lập thêm 4 đạo tràng mới ở Wasington DC, Úc Châu, Canada và Việt Nam. Tổng cộng là 19 Hội và đạo tràng.

          - Để thích hợp với tình hình sinh hoạt và nhu cầu phát triển của tất cả thiền sinh trong và ngoài nước Mỹ, Thầy đã ban hành Bản Tu Chính Thanh Qui lần thứ nhất vào ngày 22/2/2015 tại Tổ Đình Thiền Tánh Không Perris, CA. Trong Phần III , Điều XII: Phần Tu Chính Thanh Qui có ghi: Để việc điều hành Hội Thiền Tánh Không luôn phù hợp với sự phát triển sinh hoạt của Hội hay Đạo Tràng, bản Thanh Qui này sẽ được tu chính khi có nhu cầu hoặc định kỳ sau mỗi 5 năm.

          Hôm nay Thầy không còn bên cạnh, mọi sinh hoạt của Tu sĩ cũng như thiền sinh của dòng Thiền Tánh Không phải tuân thủ theo Bản Tu Chính Thanh Qui do Thầy Thiền chủ ban ra này.

          - Trở lại Chương trình hướng dẫn Thiền, Thầy chủ trương: Kết hợp tinh tuý của 4 hệ Thiền Phật Giáo: 1) Nguyên Thủy. 2) Theravàda. 3) Phát Triển (hệ Kinh Bát Nhã). 4) Thiền Tông với 5) Khoa Học Não Bộ để vạch ra con đường thực hành Thiền hướng dẫn thiền sinh kinh nghiệm cái Biết Không Lời của Tánh Giác và cuối cùng NhậnThức Biết Không Lời, thể nhập Chân Như.

          - Chương trình giảng dạy thiền sinh theo thứ tự cấp lớp. Đến nay đã có hơn 120 khoá Thiền Căn Bản cùng nhiều Khoá Bát Nhã Trung Cấp 1, 2, 3, 4 và khoá Tâm Lý Học Phật Giáo Cao cấp 1, 2, 3, 4 đem thiền đến với hàng ngàn thiền sinh khắp nơi với mục đích nhằm giúp người thực hành đạt được 5 điểm căn bản như sau: " 1) Chuyển đổi nhận thức.  2)  Hài hoà thân tâm của cá nhân. 3) Phát huy trí huệ tâm linh.  4)  Không khen mình chê người. 5) Sống vì người khác."

          - Thầy cũng đã huấn luyện đào tạo Giáo Thọ tu sĩcư sĩ để tiếp tục con đường hoằng pháp phát triển Thiền Tánh Không. Phía Tu sĩ có 3 vị Giáo Thọ Sư trung ương chính thứcNi Sư Triệt Như, Thầy Không Chiếu, Sư Cô Hằng Như. Còn phía thiền sinh thì cũng có rất nhiều vị được cấp áo và bằng Giáo Thọ Sinh vào tháng 5/2016.    

          Sau đó, Thầy đã mở khoá "Huấn Luyện Viên" hướng dẫn tu pháp KHÔNG NÓI để giúp Thầy trong các khoá chuyên tu. Một trong những huấn luyện viên kỹ thuật đó là Ni Cô Nhất Như và một số thiền sinh khác.

 

A. THIỀN VÀ KHOA HỌC

          - Từ khi còn ở trong trại giam. Sau khi ngộ đạo, Thầy đã có ước mơ được chụp hình não bộ trong khi thiền để nhận diện ra vị trí của 4 Tánh: Tánh Nghe, Tánh Thấy, Tánh Xúc Chạm và Tánh Nhận Thức Biết mà Đức Phật đã mô tả trong kinh Bàhiya. (Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiya, ông không là chỗ ấy, không là đời này, không là đời sau, không là chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau).

          - Đầu năm 1993, trong chuyến đi Hawaii thăm một người bạn, do một nhân duyên đặc biệt Thầy được quen với ông David Johnson, một Giáo sư Tiến sĩ ngành Tâm Lý Học đang giảng dạy tại viện đại học Hawaii. (Ông David Johnson bây giờ chính là đệ tử xuất gia được Thầy ban pháp hiệu là Không Triệt). Vào thời điểm đó ông Johnson đã đưa Thầy vào thăm thư viện trường đại học Hawaii, tại đây Thầy tìm được quyển sách dày 800 trang nói về chức năng của vùng Dưới Đồi (Hypothalamus). Từ đó Thầy khởi sự tìm đọc các sách về Khoa Học Não Bộ và tiếp tục mơ ước được chụp hình não bộ trong lúc hành thiền. Thời gian đó, ước mơ không thành tựu vì quá tốn kém.

          Tuy nhiên Thầy không chán nãn. Trong khi chờ đợi ước mơ thành sự thật. Thầy tiếp tục chú tâm vào việc thực hành thiền định bằng cách khởi ý "KHÔNG NÓI" rồi tắt ý, an trú trong trạng thái Không Lời, cho đến khi vững vàng trong 4 tư thế đi đứng nằm ngồi. Lúc bấy giờ, Thầy đã làm chủ niệm vững chắc. Khi nào muốn khởi niệm thì khởi. Khi không muốn khởi niệm thì niệm đó nằm im trong vùng Biết của cơ chế Tánh Giác hay vùng Nhận Thức Biết Không Lời.

 

B. CHỤP HÌNH NÃO BỘ

          - Tuy chưa được chụp hình não bộ, nhưng trong các khoá hướng dẫn Thiền, Thầy đều mang kiến thức về não bộ và kinh nghiệm của chính bản thân khi hành thiền đúng thì thân khoẻ, tâm an và trí huệ phát huy. Khi thực hành thiền sai đưa đến bệnh tâm thể, để hướng dẫn thiền sinh.  

          - Tài liệu Khoa Học nói rằng vùng bán cầu não trái là vùng kiến giải tổng quát, hay vùng tâm linh. Thầy cho rằng đó là vùng Biết không lời của các cơ chế Tánh Nghe, Tánh Thấy, Tánh Xúc Chạm. Còn Tánh Nhận Thức nằm ở giữa 3 Tánh kia. Khoa học nói rằng Ý Căn, Ý Thức, Trí Năng thì nằm ở tiền trán. Thầy đem so sánh với Tâm trong đạo Phật thì Ý, Thức và Tâm là Tâm quá khứ, hiện tại, tương lai nằm ở tiền Trán. Thầy cũng tự kiến giải "đường mòn ngôn ngữ" trong não bắt đầu từ Wernickie (nhận tín hiệu) truyền qua Broca (giải mã tín hiệu) chuyển đến vùng nói thầm rồi nói ra lời.

          - Vào năm 2006 trong chuyến sang Đức Quốc dạy học, nhân duyên hội đủ nhờ hai thiền sinh tại Đức tiếp xúc với Tiến Sĩ Michael Erb là một chuyên viên nghiên cứu "khoa quang tuyến thần kinh" tại đại học Tuebingen, Đức Quốc. Qua sự tiếp xúc này ước mơ chụp hình não bộ của Thầy được thuận duyên không phải trả một chi phí nào cả.

          - Chương trình chụp hình não bộ cho Thầy Thiền Chủ và thiền sinh Thiền Tánh Không được thực hiện vào các năm 2007, 2008, 2009, 2010 và 2013 do hai Tiến sĩ Michael Erb và Ranganatha Sitaram là một nhà nghiên cứu thuộc "viện Tâm Lý Học và Sinh Học Thần Kinh" tại viện đại học Tuebingen đảm trách, với máy fMRI (Function Magnetic Resonance Imaging) và máy EEG (Electro Encephalography)

          - Kết quả đã được hai Tiến sĩ Michaerl Erb và Ranganatha Sitaram công bố tại đại hội tổ chức quốc tế OHBM (Organization of Human Brain Mapping) năm 2010 tại Barcelona (Spain) và năm 2011 tại Quebec (Canada).

          - Chương trình chụp hình não bộ tại viện Đại Học Tuebingen đã chứng minh qua khoa học một số điều mà Thầy đã tự chứng. Đó là sự hiện hữuvị trí của bốn Tánh: Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Xúc Chạm và Tánh Nhận Thức Biết ở phía sau bán cầu não trái là đúng, chỉ khác một chút xíu là Tánh Nhận Thức Biết nằm ở thùy Đỉnh gần Tánh Xúc Chạm. Các vùng Ý (quá khứ), Thức (hiện tại), Tâm (vị lai) tức Tâm ba thời, nằm ở tiền trán.

          - Trong tiến trình chụp hình não, năm 2010 tiến sĩ Michael Erb cũng đã chụp hình não bộ của Thầy khi Thầy thực hành 4 tầng Thiền, đó là: Định có Tầm có Tứ, Định không Tầm không Tứ, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác và Định Bất động (Chân Như định). Khi Thầy thực hành suy nghĩ thì ảnh chụp não bộ vùng tiền trán nổi lên màu đỏ. Vùng Tánh Giác nổi lên màu xanh lá cây hoặc xanh dương. Khi Thầy thực hành Thiền chủ đề "Chú Ý Trống rỗng" thì 4 Tánh đều hiện lên màu đỏ ngược lại vùng tiền trán nổi lên màu xanh.

          - Năm sau 2014, Thầy yêu cầu Tiến sĩ Michael Erb chụp hình cơ chế Precuneus,  trong khi Thầy hành thiền vô định sâu, để chứng minh nơi đây chính là vị trí của Tánh Nhận Thức Biết, là nơi phát huy trí huệ tâm linh, nhưng duyên không thành vì bên trường đại học Tuebinggen trả lời cần phải order máy mới, và lúc đó thì Thầy ngã bệnh.

          - Năm 2015 trong dịp Kỷ Niệm Thiền Tánh Không hoạt động 20 năm, vì tình trạng sức khoẻ, nên Thầy đã Truyền Y và Thiền Bảng kế thừa tông môn cho Ni Sư Thích Nữ Triệt Như.

 

C. HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỪ 2015 ĐẾN CUỐI NĂM 2019

          Tuy sức khoẻ không tốt, phải ngồi xe lăn, giọng nói khó khăn, nhưng Thầy vẫn cố gắng phát triển Thiền Tánh Không bằng cách tổ chức những khoá đào tạo Huấn Luyện Viên chuyên tu Định tại Tổ Đình California để sau này giúp Thầy phát huy phong trào tu Định.

      Năm 2018 Thầy quyết định rời Tổ Đình về Houston và Navasota Texas.

          - Tháng 12/2018 Thầy tổ chức khoá chuyên tu Định tại Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ. Trong dịp này Thầy làm Lễ xuất gia, và ban pháp hiệu cho thiền sinh Tâm Từ Tĩnh là Sadi Ni Tĩnh Như và thiền sinh Thuần Tuệ là Sadi Ni Nhất Như.

          - Tháng 2, 3, 4 / 2019: Thầy chủ trì 3 tháng an cư cho Tăng Ni tại Thiền Viện Chân Như Navasota, Texas.

          - 29/5 đến 22/6/2019: Từ Houston, Thầy đã đến hai Thiền viện Tánh Không Trung-Đức (Goslar-Hahnenklee) và Thiền viện Tánh Không Nam-Đức (Schenkenzell) tổ chức các khoá đào tạo Huấn luyện viên thiền Định và tổ chức các khoá chuyên tu.  Sau đó Thầy trở về Houston.

          - Tháng 7/2019: Thầy lại bay sang Hội Thiền Paris, Pháp Quốc hướng dẫn thiền sinh chuyên tu.

          - Ngày 18/10/2019: Thầy đã vượt qua mọi trở ngại về bệnh hoạn và đường xá xa xôi, tổ chức khoá chuyên tu Định tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) một lần nữa từ ngày 18/10/2019 đến ngày 31/10/2019.

          - Trở về Houston sức khoẻ Thầy không mấy tốt, nhưng Thầy vẫn tổ chức những khoá nhập thất chuyên tu ngắn hạn cuối tuần cho các thiền sinh. Bên cạnh đó, Thầy soạn thảo chương trình hoạt động cho năm 2020, lập kế hoạch cho ngày Lễ Khánh Thành Thiền Viện Chân NhưĐại Hội Truyền Thống, đặc biệt sẽ tổ chức thuyết trình hội thảo phát triển Thiền Tánh Không trong thập niên sắp tới.

          - Thông báo của Thầy được Ni Sư Triệt Như gửi đến các đạo tràng qua email vào ngày 23/12/2019.

          - Ngày 24/12/2019 Thầy không khoẻ, thị giả đưa thầy nhập viện. Rạng sáng (0:04 phút) ngày thứ Sáu 27/12/2019 Thầy đã thuận thế vô thường trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Memorial Hermann Southwest, Houston, Texas, Hoa Kỳ. Trụ thế 90 năm, hạ lạp 45 năm. Sự ra đi của Thầy để lại bao niềm thương tiếc cho Tăng Ni đoàn và thiền sinh khắp nơi trên thế giới.

 

IV. CÔNG HẠNH THÙ THẮNG

          Năm mươi hai (52) ngày qua Thầy Thiền Chủ vắng bóng, nhưng những gì Thầy để lại cho thế gian này sẽ mãi còn.

          1) Đó là chương trình Phật học được Thầy soạn thảo một cách logic giúp thiền sinh tạm có đầy đủ các kiến thức về Phật Học, Thiền Học, Kỹ thuật hành thiền và Khoa học não bộ để tu tập.

          2) Đó là pháp hành. Ngoài những phương pháp tu tập "không định danh đối tượng, không nắm giữ tướng chung, tướng riêng, pháp Như Thật: nhìn, nghe, xúc chạm cái đang là, nghe tiếng chuông, thư giản lưỡi, nhìn xa, nhìn gần, Pháp Thở v.v..."  Thầy còn hướng dẫn kỹ thuật KHÔNG NÓI là pháp tu mà chính bản thân của Thầy tự mò mẫm thực hành kinh nghiệm trên thân tâmtrí tuệ của Thầy.

          Qua kỹ thuật KHÔNG NÓI này, thiền sinh thực tập trong sinh hoạt hằng ngày, chỉ ghi nhận mọi sự việc, không để Ý Căn, Ý Thức hay Trí Năng xen vào. Điều này tạo cho cái tâm vốn hay suy nghĩ, lao xao, vọng động, có quán tính mới "không lời nói thầm trong não".

          Qua phương thức "không lời" hay "tắt lời" bằng kỹ thuật "KHÔNG NÓI" đã giúp nhiều thiền sinh khi tọa thiền tâm được yên lặng, và nhiều thiền sinh đã làm chủ được sự suy nghĩ của mình trong đời sống hằng ngày, đưa đến sự hài hoà chính bản thân mình, hài hoà với người xung quanh, khiến đời sống của họ được an lạchạnh phúc hơn.

          3) Đó là sự hy sinh cho Phật pháp bằng việc tình nguyện chụp hình bộ não của Thầy bằng máy fMRI, bất chấp hậu quả sinh biến chứng (side effects) do việc chụp hình liên tục trong nhiều năm, để chứng minh Thiền Phật Giáo là môn Khoa Học Tâm Linh thực nghiệm. Chứng minh những tác dụng của việc hành Thiền nhất cử nhất động đều tác động vào bộ não kích thích những cơ chế trong bộ não tiết ra những chất sinh hoá học giúp cho cơ thể khoẻ mạnh (thiền đúng) hay bệnh hoạn (thiền sai). Cũng nhờ công trình chụp não bộ của Thầy mà chúng ta biết rằng tiến trình phát huy trí huệ tâm linh cũng từ đại não này ra chứ không do thần linh, thượng đế nào ban phát.

          4)  Đó là qua sự hướng dẫn của Thầy, Thiền không còn là một môn tu tập khó khăn, bí hiểm. Ai cũng có thể tu tập thiền nếu chịu khó kiên nhẫn.

          5) Đó là nhìn qua cuộc đời, con người (thân giáo) và những kinh nghiệm tu tập của Thầy sẽ tiếp tục là nguồn cảm hứng tâm linh cho nhiều thế hệ mai sau.

          6) Đó là Thầy để lại công trình khai sáng Dòng Thiền Tánh Không, xây dựng Tổ Đình Tánh Không ở thành phố Perris, Riverside County, Nam California và Thiền Viện Chân Như ở Navasota, Grimes County, tiểu bang Texas, cùng 19 hội, đạo tràng Tánh Không ở nhiều nơi trên thế giới.

          7) Ngoài ra Thầy còn để lại nhiều tác phẩm viết về Thiền Phật Giáo bằng Việt ngữ và Anh ngữ...

          8) Và còn nhiều... nhiều hơn nữa... nếu chúng ta ôn lại bài Lý Duyên Khởi Pháp Duyên Sinh sẽ thấy công đức hoằng pháp của Thầy sâu dày biết bao nhiêu. Từ nhân duyên sáng đạo của Thầy truyền sang đệ tử, đệ tử tu tập có kết quả, ra đời phục vụ chúng sanh. Và cứ thế mà công tác thiện lành được phát huy, truyền từ người này sang người khác.

 

V. TRI ÂN

          Trong kinh Đại Bát Niết Bàn (Trường Bộ) có ghi lại một đoạn văn mô tả các loại hoa như Sala Song Thọ, Mạn-Đà-La rơi xuống cùng hương thơm chiên đàn với tiếng nhạc lời ca của chư thiên trên hư không vang lên cúng dường Đức Thế Tôn.

          Nhân sự kiện này Như Lai nói với tôn giả Ananda như sau:

          " Này Ananda, nếu có Tỷ Kheo, Tỷ Kheo Ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tuỳ pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tuỳ pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháphành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Ngươi phải học tập như vậy".

          Tiếp theo, Ngài dặn dò: "Sau khi Ta diệt độ, Chính Pháp Luật sẽ là Đạo Sư của các ngươi".

          Và lời cuối cùng của Như Lai: "Này các Tỷ Kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vivô thường hãy tinh tấn, chớ có phóng dật"

          Trên đây là bài học Đức Phật dạy đệ tử cách bày tỏ lòng kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường tối thượng đối với đức Thế Tôn. Hôm nay, chúng ta cùng nhau thực hành bài học này để bày tỏ lòng tri ân tối thượng của chúng ta đối với vị Thầy đã từng quên thân mình, hết lòng chăm sóc giáo dưỡng chúng ta trong thời gian qua bằng cách:

          1) Sống trong Chánh Pháp. Chánh Pháp ở đây là Chân Như. Chưa thể nhập nổi Chân Như thì phải tu tập sống với cái Biết Không Lời tức là sống thường xuyên với Tánh Giác. Khi chúng ta ở trong Cái Biết Không Lời là chúng ta thực hành lời dạy của Thầy. Đây mới là điều làm cho Thầy hài lòng hoan hỷ là cách nhớ ơn Thầy.

          2) Không có Thầy bên cạnh thì phải lấy Pháp và Luật làm Thầy. Thực hành Pháp giỏi mà không giữ Giới Luật đạo đức, thì sớm muộn gì cũng rơi vào Ngã mạn. Sống với Ngã mạnchúng ta chuẩn bị tương lai phải chịu luân hồi sanh tử.

          3) Sau cùng chúng ta thấm thía với lời dặnthống thiết của Đức Thế Tôn: "Các pháp hữu vivô thường hãy tinh tấn, chớ có phóng dật". 

          Nhân đây, chúng tôi cũng chuyển đến quý vị lời Thầy ban ra trong một buổi tiệc "Tạ ơn Thầy" do Tăng Nithiền sinh tổ chức bên Tổ Đình. Thầy đã ngắn gọn đáp lời chúc tụng của thiền sinh như sau: "Muốn tạ ơn hay nhớ ơn Thầy, năm sau khi gặp lại, Thầy muốn thấy sắc mặt của mọi người trong sáng." Điều này có nghĩa là Thầy muốn chúng ta trả ơn Thầy bằng cách tinh tấn hành trì an trú được trong Nhận Thức Không Lời. Ở trong Nhận Thức Không Lời thì thân khoẻ tâm an, trí huệ tâm linh phát huy. Thân khoẻ thì sắc mặt hồng hào trong sáng. Mình tu tập có kết quả tốt mới có thể giúp người khác tu tập tốt như mình. Đó là nguyện vọng của Thầy.

          Chúng tôi chấm dứt buổi kể chuyện về Thầy Thiền Chủ tại nơi đây. Hướng tâm về vị Thầy đã khai tâm mở trí cho chúng tôi và nhiều người trên con đường tu tập giải thoát trong đó có quý vị, với lòng tôn kínhbiết ơn vô cùng. Nguyện cầu giác linh Thầy an trú trong Vô Dư Niết Bàn.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
16/2/2020

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, June 18, 20242:30 PM(View: 169)
Người Phật tử có lòng tôn kính đức Phật, thường có lòng biết ơn cây bồ đề, mình lại nghĩ thêm rằng cây bồ đề biểu hiện cho trí tuệ giác ngộ, nên đã có lúc phóng tâm muốn có một cây bồ đề xanh tươi của riêng mình.
Wednesday, June 12, 20249:35 AM(View: 273)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng tại Thiền Đường Tánh Không Nam Cali ngày 8 tháng 6, 2024 với chủ đề: PHÁP
Tuesday, June 11, 202411:40 AM(View: 281)
Mà bây giờ mình đã biết, cây nào cũng là cây giác ngộ, hoa lá, cảnh vật nào cũng hiển lộ thực tại cuối cùng. Vậy thì cây cảnh hoa lá nào cũng là "cây bồ đề", đâu có cái nào là của riêng mình đâu ?
Monday, June 10, 20241:27 PM(View: 301)
Từ ngữ Pháp, từ xưa tới giờ có rất nhiều ý nghĩa và ý nghĩa của nó rất rộng cho nên cô tạm gom lại để phân ra ba nội dung khác nhau tức là có thể xếp vào ba ý nghĩa khác nhau của từ Dhamma.
Sunday, June 9, 20249:11 PM(View: 182)
Als ich heute Nachmittag den Vorgarten des Sunyata-Zentrums betrachtete, der mit schwarzer und fruchtbarer Erde bedeckt wurde, fühlte ich mich glücklich. Liebe Freunde, wenn der Geist unbedeckt ist, strahlt das Weisheitslicht von selbst aus!
Saturday, June 8, 20249:28 PM(View: 319)
LA VOIE DE PERFECTIONNEMENT: LA VERTU, LA STABILISATION DU MENTAL, LA SAGESSE - Traduit en Français par Nhất Hòa et Marc Giang
Saturday, June 8, 20249:25 PM(View: 302)
LE PROCESSUS DE PRATIQUE PAR L'AUDITION ET LA VISION - Traduit en Français par Nhất Hòa et Marc Giang
Saturday, June 8, 20249:25 PM(View: 310)
LA VOIE DE PERFECTIONNEMENT DES BHIKKHUS AU TEMPS DU BOUDDHA - Traduit en Français par Nhất Hòa et Tâm Minh.
Wednesday, June 5, 20245:06 PM(View: 385)
Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất giúp thanh tịnh chúng sanh, diệt trừ khổ ưu, quả là lời hứa tuyệt vời của đức Thế Tôn. Với pháp môn này, đức Phật dạy hành giả trực tiếp quán thẳng vào bốn xứ thuộc thân-tâm để nhận ra thân, thọ, tâm, pháp thực chất của nó là vô thường, bất như ý, vô ngã.
Monday, May 20, 202410:22 AM(View: 481)
La retraite de Sunyata Toulouse à Moissac, dans le sud-ouest de la France, est terminée et nous sommes retournés à nos vies quotidiennes. En revoyant les images de ces jours de paix, de sérénité et de bonheur, en compagnie d'amis méditants d'ici et d'ailleurs, mon cœur ne peut s'empêcher d'évoquer quelques attachements et souvenirs.
Monday, May 20, 202410:11 AM(View: 472)
Wenn der Geist ein Objekt wahrnimmt, nimmt er „was gerade ist“ wahr. Wenn er aber in sich kehrt, nimmt er „die Soheit „(Tathatā/ the Suchness) wahr. Hier endet alles, es gibt keine Worte, keine Schrift, keine Namen, keine Außenwelt, kein Denken, keine Diskriminierung, keine Liebe, keinen Hass mehr. Alles ist gleichwertig. Haben die Partriarchen Recht, dass „die Erleuchtung bereits im Augenkontakt liegt“?
Monday, May 13, 20245:16 PM(View: 515)
Thiền Chỉ, tiếng Pali là “Samatha”. Nó có một từ nữa mang nghĩa tương đồng gọi là “Samadhi”, tức là Định. “Chỉ” là dừng lại. “Thiền Chỉ” hay “Thiền Định” là trạng thái tâm chuyên chú vào một cảnh, một đề mục, khiến cho mọi vọng tưởng đều ngưng bặt, tạo sự an vui (sukkha) hỷ lạc cho hành giả.
Thursday, May 9, 20244:00 PM(View: 871)
Chiều nay, ngắm nhìn khoảng sân rộng trước tổ đình sạch bót, một màu đen phì nhiêu, đất xốp, sẵn sàng chờ đón được gieo trồng, mình cảm thấy vui. Các bạn hiền ơi, đất tâm nếu trống không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu!
Wednesday, May 8, 20247:45 AM(View: 433)
Also: „Alle Dharmas kehren zu einem zurück, wo ist dieses Eine?“ Es kann sein, dass alle Dharmas zu dem Geist zurückgeht. Nun verstehen wir vielleicht, warum die Patriarchen damals gegangen sind, ohne jegliche Spur hinterlassen zu haben, als sie gegangen sind. Das Prajnaparamita-Sutra hat jedoch unendlich über die Leere, Illusion und Soheit berichtet.
Friday, May 3, 20246:55 PM(View: 544)
It is normal, natural, and reasonable that mundane phenomena emerge, change then terminate. If we could grasp that comprehension, when something appears or disappears, we are neither cheerful nor sorrowful. Then, our mind is serene and peaceful. And we realize that everywhere is our original adobe, every phenomenon, fact, event, situation or being, carries the truths of transience, the principles of cause-responded conditions, non-selfness, and the trait of bareness… The Dharma sounds from our Lord have been roaring and echoing in the infinite universe. As a result, the planet where we are now is the Buddha’s very realm, my dearest friends.
Thursday, May 2, 20243:30 PM(View: 1056)
Phải thông hiểu tới những chân lý rốt ráo: bản chất của thế gian là trống không, là như huyễn, do nhân duyên hội họp mà sinh ra, rồi sẽ thay đổi, và sẽ mất đi. Mình sẽ bớt dính mắc với những cảnh thăng trầm trong cuộc đời. Đây là trí tuệ xuất thế gian, giúp mình sống bình an trong đời.
Wednesday, May 1, 20246:56 AM(View: 661)
Der Wagen „mit einem Gang“ ist die wortlose Achtsamkeit (Sati), die uns vom Anfang bis zum Ende des Kultivierungsweges begleitet. In Wirklichkeit gibt es aber keinen Weg, der uns zur Erleuchtung bringt. Denn dieses wortlose Bewusstsein gehört uns von der Geburt an. Es war und ist rein, ruhig, klar und objektiv. Liebe Freunde, hole dieses wortlose Bewusstsein von Innen heraus. Suche es nirgendwo draußen.
Friday, April 26, 202411:42 AM(View: 861)
Khi nó thấy cảnh, thì nó thấy “cái đang là”. Khi nó an trú trong chính nó, thì nó thấy “cái như vậy” (Tathatā/ the Suchness). Bây giờ, mọi sự đều chấm dứt, không có lời nói, không có văn tự, không có tên gọi, thế gian cũng không còn. Không suy nghĩ, không phân biệt, không thương ghét, tất cả tan biến, bình đẳng. Có phải cổ nhân đã nói đúng “chạm mắt là bồ đề”?
Sunday, April 21, 20242:20 PM(View: 1472)
Vậy thì “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?” có thể là muôn pháp đều về tâm, còn nếu thắc mắc: tâm về chỗ nào? Thì ăn gậy là phải rồi. Bây giờ mới hiểu tại sao chư Thiền Đức ngày xưa ra đi không cần lưu lại dấu vết mà hê thống kinh Bát nhã ba la mật lại viết tràng giang đại hải về Không, Huyễn và Chân Như. Có phải vì chỗ đó ngoài ngôn ngữ, còn nếu dùng ngôn ngữ thì nói hoài cũng không xong?
Saturday, April 20, 20246:38 AM(View: 688)
Also durch die Sinnesorgane nehmen wir also, „was gerade ist“, eine reale Sache wahr, das heißt, wir nehmen es wie eine reale Sache, obwohl es nicht echt ist. Ebenso ist ihre Stabilität, ihre Dauerhaftigkeit eine „Illusion“... Das Reale besteht darin, Phänomene durch die Sinnesorgane wahrzunehmen und die Illusion besteht darin, die Essenz eines Phänomens durch eine Weisheit zu verstehen.
Wednesday, April 17, 20242:27 PM(View: 777)
Tu tập theo đạo Phật không phải để sở hữu được điều gì, mà thực ra là để buông xả không bám víu với bất kỳ những gì ở trên đời... mà chỉ nhận biết rõ ràng pháp đến rồi đi, đó là điều tự nhiên của vạn pháp. Và sự đến đi đó, là bài học “sinh diệt, vô thường, vô ngã” giúp cho chúng ta không bị dày vò phiền não khi nghịch cảnh đến, hoặc quá đắm chìm mê say hưởng khoái lạc, khi duyên thuận lợi đến với mình, mà phải sống trong trung đạo vừa phải.
Tuesday, April 16, 202411:33 AM(View: 742)
Therefore, with our senses, we feel the “what-is.” It is the “As-Is Truth,” “Yathābhūta,” which is akin to the Truth, but it is not truly stable and permanent. It is also the “As-Is Delusion,” akin to a dream... The “As-Is Truth,” is the phenomena perceived by human senses and the latter, the “As-Is Delusion,” the Nature recognized by the Prajña Wisdom.
Sunday, April 14, 20245:07 PM(View: 1476)
Cảnh sanh khởi, biến đổi rồi hoại diệt của thế gian là tự nhiên, là bình thường, là hợp tình hợp lý. Nếu hiểu thật sự điều này thì khi cái gì đó sanh ra hay diệt mất, ta không vui cũng không buồn. Bây giờ tâm bình an, thanh thản, bây giờ mới thấy nơi nào cũng là ngôi nhà xưa của mình, cảnh nào cũng hiển lộ những chân lý vô thường, duyên sinh, vô ngã, bản thể trống không… Pháp âm của Phật vang rền khắp hư không, như vậy cõi này đang là cõi Phật đó, bạn hiền ơi.
Saturday, April 6, 202410:03 AM(View: 563)
Nur einfach die Augen aufmachen und das Objekt wahrnehmen, wie es ist, mit verbalem oder nonverbalem Bewusstsein, der Geist ist rein, ruhig und objektiv. Das ist der Naturgeist. Gebote, Kontemplation, Samatha, Samadhi und Weisheit sind vollständig in ihm vorhanden.
Saturday, April 6, 20248:52 AM(View: 1340)
... chiếc “xe một số” chính là cái Biết, nó đưa ta từ bước đầu tới bước cuối con đường. Thực ra, có con đường nào đâu, vì cái biết là của mình, từ đầu nó vẫn trong sạch, tĩnh lặng, khách quan và chiếu sáng. Bạn hiền ơi, cứ lấy viên ngọc đó ra mà xài, hồn nhiên, đừng lăng xăng tạo tác gì thêm nữa.
Friday, April 5, 20246:46 PM(View: 604)
Bài Luận giảng này cho chúng ta biết rằng: điểm quan trọng bậc nhất của Thiền chỉ là làm chủ tâm ngôn. Không làm chủ được tâm ngôn, dù chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, đường Thiền của ta sẽ đến nơi bế tắc.
Thursday, April 4, 20241:07 PM(View: 805)
In Spring 1929, we cheered our Master’s coming into life. In Spring 1982, we celebrated the glory of our Master’s Recognition of the Path. In Winter 2019, he left us... But with those, this morning, under warm sunlight, while relishing the spring flowers, how come it seems someone’s eyes are full in tear.
Friday, March 29, 20247:58 PM(View: 1042)
Vậy qua giác quan, ta thấy “cái đang là”, đó là thấy Như Thực, giống như thiệt, chứ không phải thiệt có bền vững, thường hằng, mà đó cũng là “cái Như Huyễn”, như mộng mà thôi. ...cái Như Thực là thấy hiện tượng qua giác quan, còn cái Như Huyễn là thấy bản thể qua trí tuệ bát nhã.
Friday, March 29, 20247:35 AM(View: 753)
5 LÝ DO chúng tôi chọn chủ đề: LUẬN GIẢNG VẤN ĐÁP THIỀN VÀ KIẾN THỨC THỜI ĐẠI
Wednesday, March 27, 20246:45 AM(View: 686)
Heute, ein Frühlingsmorgen, blauer Himmel, weiße Wolken, warme Sonne und volle Kirschblüten vor dem Hof ​​des Sunyata Zentrums, möchte ich euch einen Meditations-Laib: Gebote, Samadhi und Weisheit anbieten, der aus dem reinen Wissen eines Naturgeistes gemacht wurde.
Monday, March 25, 20249:43 AM(View: 746)
La nature du monde est vide, est vacuité. Ce n'est juste qu'une illusion. Cette sagesse nous donne la capacité de séparer notre mental de tout attachement au monde. Ce n’est qu’alors que l’on peut demeurer dans la conscience "Ainsi". Lorsque nous possédons la sagesse et la perspicacité pour reconnaître la nature du monde, alors il n’y a plus de chemin, plus besoin de dharma, plus de portes à ouvrir. Nous vivons vraiment dans notre maison spirituelle qui existe depuis toujours en nous.
Sunday, March 24, 20245:02 PM(View: 971)
Mùa xuân năm 1929, mừng Thầy đến, mùa xuân năm 1982, mừng Thầy thấy rõ con đường, mùa đông năm 2019, Thầy đi.... ...Biết vậy, mà sao sáng nay, trong nắng ấm, ngắm hoa xuân, lại dường như có ai rơi nước mắt.
Sunday, March 24, 20244:44 PM(View: 880)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: CON ĐƯỜNG GIỚI QUÁN ĐỊNH TUỆ ngày 16 tháng 3 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Sunday, March 24, 202410:27 AM(View: 712)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Luận giảng số 1 GIỚI THIỆU CÁCH THỨC TẠO LUẬN
Sunday, March 17, 20243:11 PM(View: 812)
Trích từ sách Luận Giảng Vấn Đáp về THIỀN và KIẾN THỨC THỜI ĐẠI của HT Thích Thông Triệt (2014) - Lời Tựa
Sunday, March 17, 20242:16 PM(View: 1000)
Chỉ là đơn thuần, mở mắt ra nhìn ngắm, cảnh thế nào nhận biết y như vậy, diễn nói hay thầm lặng, tâm đều trong sạch, tĩnh lặng, khách quan. Đó là chân tâm, Giới, Quán, Chỉ, Định, Tuệ đầy đủ
Wednesday, March 13, 20249:44 AM(View: 783)
Unzählige Jahre habe ich törichterweise nach einem „Märchenland im Jenseits des Nebels“ gesucht. Wie oft bin ich dem Nebel begegnet und wie oft habe ich davon geträumt, ein Märchenland zu finden. Am Ende meines Lebens wurde es mir klar, dass das wahre Märchenland nirgendwo draußen ist, sondern es ist in mir.
Wednesday, March 13, 20249:16 AM(View: 769)
Les quatre niveaux du jhana (état mental), à travers lesquels le Bouddha a réalisé la Triple Connaissance, sont également connus comme “les quatre niveaux du Samadhi”. C’est ainsi que nous comprenons que le Samadhi joue un rôle important dans le Zen bouddhiste. Il est le passage obligé pour l'exploration du vaste firmament de la Sagesse transcendante.
Sunday, March 10, 20244:31 PM(View: 1183)
Các bạn hiền ơi, sáng nay, một buổi sáng mùa xuân, nắng ấm, hoa mai đang nở rộ trước sân Tổ đình, trời xanh và mây trắng. xin dâng tặng cho bạn ổ bánh Thiền Giới Định Tuệ, làm bằng cái Biết trong sáng của chân tâm.
Wednesday, March 6, 202410:36 AM(View: 1031)
VIDEO Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: VẤN ĐỀ SINH TỬ ngày 17 tháng 2 năm 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, March 6, 202410:20 AM(View: 704)
Nghĩa chữ “tu” không chỉ là sửa đổi hành động từ xấu sang tốt, mà chữ tu còn mang ý nghĩa là “thực tập” hay “hành trì” một pháp môn nào đó.
Tuesday, March 5, 20242:20 PM(View: 1127)
Research works from Dr. Michael Erb on the mapping of the brain of Master Reverend Thích Thông Triệt Những đo đạc sau cùng của Thiền sư Thích Thông Triệt đã được thực hiện vào ngày 8 và 9 tháng 6 năm 2013. Tôi tường trình ở đây một số kết quả từ những thực nghiệm này kết hợp với kỹ thuật chụp ảnh chức năng cộng hưởng từ (f-MRI) và điện não đồ (EEG, 256 channels).
Wednesday, February 28, 20244:27 PM(View: 964)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: GẶP GỠ ĐẦU NĂM mùng 3 TẾT Giáp Thìn 2024 tại TỔ ĐÌNH TÁNH KHÔNG
Tuesday, February 27, 20249:03 AM(View: 824)
La Sagesse, ici je veux dire le Vipassanā, la Vue profonde. Dans les limites de cet article, je passerai en revue le Satipaṭṭhāna sutta, Le récit de l’attention vigilante, extrait de la corbeille Nikāya. Bien que les gens disent toujours "Contemplation des Quatre Fondements de l’attention" et que, dans le sutra, il est aussi dit “Contempler le corps” (Kāya-anupassanā) etc. De nos jours les vénérables moines classent le sutra “Le récit de l’attention vigilante” dans le Vipassanā c'est à dire appartenant à la Sagesse. Donc, dans cet article, je le définirai aussi temporairement comme la Sagesse, c'est-à-dire utiliser la sagesse pour pratiquer
Saturday, February 24, 20249:13 PM(View: 936)
Tâm trong đạo Phật được giảng giải rất chi tiết tùy theo các tông phái trong đạo Phật. Bài viết này chỉ nhằm đáp ứng cho các Phật tử mới bắt đầu học Phật, giúp các bạn nhận ra tâm là gì?
Thursday, February 22, 20247:52 AM(View: 1168)
Khi biết mà không dính với tất cả những pháp thế gian hạnh phúc hay phiền lụy, thì ngay khi đó tâm trở về trạng thái tĩnh lặng, cái biết tự tánh sẽ hiển lộ, đây là cái biết của trực giác. Cái biết trực giác này sẽ phát huy đến vô lượng, đưa người thực hành vượt qua bể khổ đến bờ giác ngộ giải thoát...
Tuesday, February 20, 20243:56 PM(View: 1019)
Lời ngõ: Loạt bài viết về các tầng Thiền của Đức Phật được trích từ quyển sách "Tiến Trình Tu Chứng Của Đức Phật" do Hòa Thượng Thích Thông Triệt biên soạn đã được phát hành lần đầu tiên năm 2005 và tái bản lần thứ nhì năm 2007. Mục đích của loạt bài viết này nhằm giúp cho Thiền sinh ôn lại phương thức thực hành đúng như lời Phật dạy. Kỳ này bài viết chỉ rõ phương thức thực hành để chuyển đổi từ tâm phàm phu sang tâm bậc thánh. Nếu không nắm rõ kỹ thuật thực hành thì xem như đường tu bị bế tắc đành phải chờ một duyên lành vậy.
Thursday, February 15, 20247:20 AM(View: 1272)
VIDEO: Ni sư Triệt Như Giảng Đại Chúng: MÓN QUÀ ĐẦU NĂM ngày mùng 2 TẾT Giáp Thìn 2024 tại THIỀN ĐƯỜNG TÁNH KHÔNG nam Cali
Wednesday, February 14, 20243:55 PM(View: 948)
A propos de la contemplation, il existe plusieurs variantes. Dans ce qui suit, je n’aborderai que l'Anupassanā, qui consiste généralement à contempler les phénomènes du monde de manière continue pour en saisir leur nature ou leurs caractéristiques qui sont: l’impermanence, la souffrance, le non-soi.
Wednesday, February 14, 20243:29 PM(View: 1031)
Nach der erlangten Erleuchtung ging der Buddha zum Wildpark, um den fünf Brüdern des Ehrwürdigen Kondanna die ersten Dharma-Sutras zu predigen, darunter das Sutra *Die Merkmale des Nicht-Ich*
Friday, February 9, 20249:04 AM(View: 880)
So geht ein Frühling nie zu Ende. Auch wenn er einen anderen Namen wie Sommer, Herbst oder Winter hat, ist er immer der Frühling im Geist eines jeden. Wenn wir ihn Frühling nennen, ist er der Frühling. Wenn wir ihn nicht Frühling benennen, gibt es dann keinen Frühling, und wenn es keinen Frühling gibt, gibt es keine Jahreszeiten.
Tuesday, February 6, 20243:13 PM(View: 877)
Mùa xuân cũng vậy, không bao giờ chấm dứt, trong tâm mỗi người. Dù cho nó có tên là hạ, thu, hay đông đi nữa, nó cũng là xuân. Khi mình gọi là Xuân thì là Xuân của mình. Khi mình không gọi gì hết thì không có mình, cũng không có xuân, và cả thế gian cũng biến mất.
69,256